Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/DS-ST

Ngày: 25-9-2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Hải Âu

Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông: Phạm Hồng Sơn

2/ Ông: Lê Hưng Quang

- Thư ký phiên tòa: Ông Hán Tấn Tiến - Thư ký Tòa án huyện Tuy Phong

Đại diện Viện kiểm sát huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Ngà – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 102/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐST-DS, ngày 09/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2024/QĐDS-HPT ngày 04/9/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S

Địa chỉ trụ sở: 266-268 N, phường V, Quận C, TP .

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Văn Trường A – Chức vụ: Trưởng phòng giao dịch Ngân hàng TMCP S – Phòng G. Địa chỉ: thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

Ông Phan Văn Trường A ủy quyền cho ông Nguyễn Văn P – chức vụ: Phó Trưởng phòng giao dịch Ngân hàng TMCP S – Phòng G (Theo Văn bản ủy quyền số: 19/2024/GUQ-PGDPRC ngày 19/02/2024).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S (TMCP ), trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 18 tháng 7 năm 2023, ông Nguyễn Văn T có ký với Ngân hàng TMCP S Chi nhánh B – Phòng G hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân (bao gồm giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S đối với số thẻ 472074-9216 theo các nội dung như sau:

Hạn mức sử dụng thẻ: 30.000.000đồng, mục đích: tiêu dùng, lãi suất: 2,77%/tháng. Ông Nguyễn Văn T đã nhận thẻ và sử dụng thẻ tín dụng để thanh toán, tiêu dùng.

Quá trình thực hiện hợp đồng Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh B – Phòng G đã cấp thẻ tín dụng cho ông Nguyễn Văn T với hạn mức 30.000.000 đồng theo Hợp đồng ký kết phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 18/7/2023. Ông Nguyễn Văn T đã sử dụng từ thẻ tín dụng của Ngân hàng thực hiện các giao dịch và chỉ thanh toán cho Ngân hàng với số tiền là 5.780.000đồng. Lần cuối cùng ông Nguyễn Văn T thanh toán cho Ngân hàng là ngày 05/12/2023 với số tiền là 2.700.000 đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Văn T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán khoản nợ gốc và lãi theo thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký. Tạm tính đến ngày 25/9/2024, ông Nguyễn Văn T còn nợ Ngân hàng số tiền là: 44.197.074 đồng (Bốn mươi bốn triệu, một trăm chín mươi bảy nghìn không trăm bảy mươi bốn đồng), trong đó: nợ gốc: 35.783.944đồng và nợ lãi: 8.413.130đồng.

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng TMCP S, Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn T phải trả cho Ngân hàng TMCP S toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 25 tháng 9 năm 2024 là: 44.197.074 đồng (trong đó: nợ gốc: 35.783.944 đồng; nợ lãi: 8.413.130 đồng). Kể từ ngày 26/9/2024, ông Nguyễn Văn T còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng.

*Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với ông Nguyễn Văn T đến trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng ông Nguyễn Văn T cố tình vắng mặt, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Do đó Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai và hòa giải được. Tòa án đã thực hiện việc niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa.

Tại Biên bản xác minh ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong với đại diện Thôn H, xã C, huyện T, xác định: Ông Nguyễn Văn T có cư trú tại địa phương. Hiện nay ông Nguyễn Văn T không có mặt ở địa phương và không rõ nơi cư trú mới của ông T.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa và ý kiến như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa tiến hành tố tụng đúng quy định; Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn không chấp hành các quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn T phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 25/9/2024 là: 44.197.074đồng (Bốn mươi bốn triệu, một trăm chín mươi bảy nghìn, không trăm bảy mươi bốn đồng), trong đó: nợ gốc: 35.783.944 đồng, nợ lãi: 8.413.130đồng. Kể từ ngày 26 tháng 9 năm 2024 ông Nguyễn Văn T còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân đã ký cho đến khi thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ lời khai của các đương sự, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện cùng như trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Nguyễn Văn T phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ nợ gốc, nợ lãi theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 18/7/2023, do đó Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn có nơi cư trú tại Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố của Tòa án cho các đương sự theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng bị đơn ông Nguyễn Văn T cố tình vắng mặt và nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Bị đơn Ông Nguyễn Văn T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt do đó Tòa án thực hiện việc niêm yết công khai các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến thời điểm mở phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị đơn ông Nguyễn Văn T vẫn không đến Tòa án trình bày lời khai, ý kiến, yêu cầu, cung cấp thông tin tài liệu chứng cứ và không có ý kiến gì phản đối với yêu cầu của nguyên đơn cũng như tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp. Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Xét thấy: Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Văn T có ký kết hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân vào ngày 18/7/2023: Hạn mức thẻ: 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng); Loại thẻ: VisaClassic; Mục đích sử dụng thẻ: Phục vụ tiêu dùng đời sống.

Ông Nguyễn Văn T ký Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân với Ngân hàng vào ngày 18/7/2023 là hoàn toàn tự nguyện, ông Nguyễn Văn T có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Quá trình thực hiện hợp đồng Ngân hàng TMCP S đã cấp thẻ tín dụng cho ông Nguyễn Văn T sử dụng với hạn mức 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 05/12/2023, ông Nguyễn Văn T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 5.780.000đồng, sau đó ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo thỏa thuận cam kết đã ký kết giữa các bên. Đến ngày 05/5/2024 toàn bộ dư nợ cuối kỳ đã chuyển thành dư nợ gốc. Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ số nợ sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn.

Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn T phải trả cho Ngân hàng TMCP S toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 25/9/2024 là: 44.197.074đồng (Bốn mươi bốn triệu, một trăm chín mươi bảy nghìn, không trăm bảy mươi bốn đồng), trong đó: nợ gốc là 35.783.944 đồng, nợ lãi: 8.413.130đồng và kể từ ngày 26/9/2024 ông Nguyễn Văn T còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân đã ký kết cho đến khi thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng là có cơ sở, phù hợp với nội dung thỏa thuận và quy định tại Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.

[5] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, 2, 4 Điều 91; Khoản 3 Điều 144; Khoản 1 Điều 147; Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Căn cứ Điều 280, Điều 463; Khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự 2015;
  • - Điều 8 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

Buộc ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 25 tháng 9 năm 2024 là 44.197.074đồng (Bốn mươi bốn triệu, một trăm chín mươi bảy nghìn, không trăm bảy mươi bốn đồng). Trong đó nợ gốc: 35.783.944 đồng, nợ lãi: 8.413.130 đồng – theo Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân ký kết vào ngày 18 tháng 7 năm 2023.

Kể từ ngày 26 tháng 9 năm 2024 ông Nguyễn Văn T còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân đã ký cho đến khi thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng.

2. Về án phí:

- Buộc ông Nguyễn Văn T phải chịu 2.209.854 đồng (Hai triệu hai trăm lẻ chín nghìn tám trăm năm mươi bốn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 915.000 đồng (Chín trăm mười lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0006821 ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/9/2024).

Bị đơn ông Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Tuy Phong;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Chi cục THADS huyện Tuy Phong;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Hải Âu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 49/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger