|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 49/2024/DS-ST Ngày 22 – 7 – 2024 “V/v tranh chấp kiện đòi tài sản" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Minh Hồng
- Bà Trịnh Thị Trúc Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Nhiệm – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Nghiên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 138/2024/TLST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024, về việc Tranh chấp kiện đòi tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐXXST-DS, ngày 12/7/2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Danh T, sinh năm: 1973.
Địa chỉ: Ấp B, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Danh Đ, sinh năm: 1961 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong cùng vụ án (có mặt).
Địa chỉ: ấp E, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
-
Bị đơn: Hồ Hoàng Đ1, sinh năm: 1981.
Địa chỉ: Ấp L, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
-
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Danh Đ, sinh năm: 1961 (có mặt).
Địa chỉ: ấp E, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn ông Danh T vắng mặt, ủy quyền cho ông Danh Đ trình bày:
Vào vụ Đông Xuân năm 2022-2023 ông T và ông Hồ Hoàng Đ1 có hợp đồng thu mua lúa từ người dân, ông Đ1 là người thu mua lúa, ông T là cò lúa. Sau khi ông T đứng ra thu mua lúa của nông dân thì ông Đ1 không đưa tiền để ông T thanh toán tiền lúa cho người dân. Đến ngày 06/02/2023 giữa ông Đ1 và ông T có ngồi chốt lại số tiền còn nợ và ông Đ1 có viết biên nhận nợ cho ông T với số tiền còn nợ là 183.000.000 đồng, sau đó ông Đ1 đã trả được 119.000.000 đồng. Như vậy, ông Đ1 còn nợ ông T số tiền 64.000.000 đồng. Nay ông T yêu cầu ông Đ1 trả số tiền còn nợ là 64.000.000 đồng.
Bị đơn ông Hồ Hoàng Đ1 vắng mặt trình bày ý kiến tại biên bản lấy lời khai ngày 12/6/2024: Tôi và ông Danh T có thỏa thuận mua bán lúa như ông T trình bày, nhưng chỉ thỏa thuận miệng không có hợp đồng. Tôi nợ ông T số tiền cụ thể bao nhiêu thì tôi không nhớ, tôi đã trả nhiều lần chỉ còn nợ số tiền 64.000.000đồng. Nay ông danh T yêu cầu trả nợ thì tôi cũng đồng ý.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Danh Đ trình bày: Việc thỏa thuận hợp đồng mua bán lúa là giữa ông Danh T và ông Hồ Hoàng Đ1, sau đó ông T có giới thiệu ông Đ1 lại mua lúa của tôi. Trong quá trình mua bán lúa thì ông Đ1 có ghi biên nhận nợ cho ông T là còn nợ 183.000.000 đồng trong đó bao gồm tiền mua lúa của ông Đ, sau đó ông Đ1 trả dần cho ông T được 01 phần, còn thiếu lại 64.000.000 đồng là tiền ông Đ1 mua lúa của ông Đ. Do ông Đ là người trực tiếp đi đòi tiền nên ông Đ1 có viết thêm biên nhận là còn nợ ông Đ. Tuy nhiên do giao dịch mua bán ban đầu và thỏa thuận mua bán là giữa ông T và ông Đ1. Nêu ông Đ đồng ý yêu cầu Tòa án buộc ông Hồ Hoàng Đ1 trả tiền cho ông Danh T số còn nợ là 64.000.000 đồng. Giữa ông và ông Danh T sẽ tự thỏa thuận giải quyết sau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định pháp luật, vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Hồ Hoàng Đ1 có trách nhiệm trả cho nguyên đơn ông Danh T số tiền 64.000.000đồng. Về án phí bị đơn phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Nguyên đơn ông Danh T khởi kiện bị đơn ông Hồ Hoàng Đ1 yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn phải trả lại số tiền theo biên nhận nhận nợ, các bên không tranh chấp quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng mua bán chỉ kiện đòi tài sản theo biên nhận nhận nợ nên xác định tranh chấp trong vụ án là kiện đòi tài sản một dạng tranh chấp quyền sở hữu. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ theo quy định tại khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa, vắng mặt bị đơn bà ông Hồ Hoàng Đ1, ông Đ1 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về nội dung giải quyết vụ án: Ông Danh T khởi kiện bị đơn ông Hồ Hoàng Đ1 yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn phải trả số tiền 64.000.000đồng. Nộp kèm theo đơn khởi kiện là: Biên nhận ngày 05/11/2023 với nội dung: “Tôi tên Hồ Hoàng Đ1 còn nợ anh T và anh Ba Đ2 tổng chưa tính, còn giờ anh Đ2 yêu cầu tôi phải trả cho anh tôi đã đồng ý. Tôi hẹn tới ngày 05/9/2023, tôi trả cho anh 30.00.000đồng. Số tiền còn lại tôi hẹn lại 30 ngày tôi sẽ giải quyết cho a T và anh Đ2 hoàn tất”. Biên nhận ngày 09/01/2024 với nội dung: “Tôi Hồ Hoàng Đ1 ở L, L, Hậu Giang. Tôi hứa trả anh ba Đẹt số tiền 34.000.000đồng trước ngày 30/01/2024. Số tiền còn lại tôi xin hoàn tất đến ngày 15/02/2024 là dứt điểm”.
[4] Đối với bị đơn thừa nhận: “Tôi và ông Danh T có thỏa thuận mua bán lúa như ông T trình bày, nhưng chỉ thỏa thuận miệng không có hợp đồng. Tôi nợ ông T số tiền cụ thể bao nhiêu thì tôi không nhớ, tôi đã trả nhiều lần chỉ còn nợ số tiền 64.000.000đồng. Nay ông danh T yêu cầu trả nợ thì tôi cũng đồng ý”.
[5] Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Danh Đ xác định phần nợ chốt giữa ông Danh T và ông Hồ Hoàng Đ 64.000.000đồng là tiền ông Đ1 nợ ông Đ, nhưng ông Đ thống nhất để ông T đứng ra giải quyết tranh chấp với ông Đ1, giữa ông Đ và ông T sẽ tự thỏa thuận, trong vụ án này, ông Đ không có yêu cầu gì nên không xem xét.
[6] Từ những chứng cứ nêu trên, xét thấy yêu cầu của ông Danh T là có cơ sở chấp nhận. Buộc bị đơn ông Hồ Hoàng Đ1 có trách nhiệm trả cho ông Danh T số tiền 64.000.000đồng.
[7] Về án phí: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 bị đơn phải chịu với số tiền là: 64.000.000đồng x 5% = 3.200.000đồng. Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ các Điều 5, 6, khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 91, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[2] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Danh T. Buộc bị đơn ông Hồ Hoàng Đ1 có trách nhiệm trả cho nguyên đơn ông Danh T số tiền 64.000.000đồng (sáu mươi bốn triệu đồng).
[3] Kể từ ngày nguyên đơn ông Danh T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn ông Hồ Hoàng Đ1 chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì ông Hồ Hoàng Đ1 còn phải chịu lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hồ Hoàng Đ1 phải chịu số tiền 3.200.000đồng (ba triệu hai trăm nghìn đồng). Nguyên đơn ông Danh T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.600.000đồng (một triệu sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007872 ngày 31/5/2024 nhận tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
[5] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[6] Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bị đơn nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lê Minh Hồng Trịnh Thị Trúc L |
Lê Thị D |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Diệu |
Bản án số 49/2024/DS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp kiện đòi tài sản
- Số bản án: 49/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yc Nguyên đơn
