Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/DS-ST

Ngày: 19/9/2024.

V/v:"Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC - TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Lê Thị Hường.
  • Bà Mai Thị Huyền Trang.

Thư ký phiên tòa: Bà Lương Nữ Vân Kiều–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mai Lan–Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số số 65/2024/TLST-DS ngày 03/5/2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-DS ngày 14/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QÐST-DS ngày 30/8/2024 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.

Địa chỉ: Số B N-phường V-Quận C-Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D –Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP S.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đào Thị Đoan T-Giám đốc Ngân hàng TMCP S-chi nhánh tỉnh N. Bà Đào Thị Đoan T ủy quyền lại cho ông Phạm Ngọc V-Chuyên viên Quản lý nợ, phòng kiểm soát rủi ro của Ngân hàng TMCP S-chi nhánh tỉnh N tham gia tố tụng. Địa chỉ: Số G đường T, tp ., Ninh Thuận (theo giấy ủy quyền số 23/2024/GUQ-CNNT ngày 11/4/2024) (ông V có mặt).

-Bị đơn: Ông Tống V1 -sinh năm 1995 (vắng mặt).

Trú tại: Thôn L, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các buổi làm việc tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền Ngân hàng TMCP S ông Phạm Ngọc V trình bày:

Ngày 06/03/2021, ông Tống V1 có ký với Ngân hàng TMCP S hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng-các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000đ, lãi suất 2.77%/tháng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông V1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 66.678.866đ. Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau ông V1 phải chịu các khoản phí. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ ông V1 đã thanh toán cho Ngân hàng được 57.154.565₫. Do ông V1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 10.06.2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn là 38.490.480đ làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn.

Nay Ngân hàng yêu cầu ông V1 phải trả số nợ cho Ngân hàng tính đến ngày 19/09/2024 gồm nợ gốc 38.490.480đ + lãi quá hạn 24.859.344đ = 63.349.824đ. Ông V1 phải chịu lãi phát sinh từ ngày 20/09/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất tại Hợp đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn Tống V1 không có mặt để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện nguyên đơn.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

-Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử (HĐXX) từ giai đoạn thụ lý vụ án đến khi nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS. Bị đơn Tống V1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do. Đề nghị HĐXX căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

-Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Tống V1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền còn nợ tính đến ngày 19/9/2024 là 63.349.824đ, trong đó: nợ gốc 38.490.480đ + lãi quá hạn 24.859.344đ. Ông V1 còn phải thanh toán khoản lãi phát sinh theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng. Bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Căn cứ kết quả xét hỏi công khai và nghe ý kiến của nguyên đơn tại phiên tòa.

Sau khi Hội đồng xét xử nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa HĐXX nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S khởi kiện bị đơn ông Tống V1 -là người có nơi cư trú tại thôn L, xã P, huyện N. Nội dung yêu cầu buộc bị đơn có nghĩa vụ trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. HĐXX xác định quan hệ pháp luật của vụ án cần giải quyết là “tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

[1.1] Xử lý về việc vắng mặt của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn ông Tống V1 vẫn vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, Tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai để bị đơn tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng họ vẫn vắng mặt. Điều này chứng tỏ bị đơn đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. HĐXX căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 BLTTDS, cùng với tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung tranh chấp: Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Tống V1 phải thanh toán nợ tính đến ngày 19/9/2024 là 63.349.824₫, trong đó: nợ gốc 38.490.480đ +lãi quá hạn 24.859.344₫.

[2.1] HĐXX nhận định: Từ những tài liệu chứng cứ mà Ngân hàng đưa ra, ngày 06/03/2021, ông Tống V1 có ký với Ngân hàng TMCP S hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000đ, lãi suất 2.77%/tháng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông V1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 66.678.866đ. Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 23 bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ông V1 phải chịu các khoản phí (Điều 25 bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông V1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 57.154.565đ. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của bản điều khoản sẽ được áp dụng theo thứ tự: +Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước +Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước +Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước +Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ +Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ +Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ ông V1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 57.154.565₫. Ông V1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 10.06.2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 38.490.480đ làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn.

+Cách tính lãi quá hạn: được tính trên số tiền nợ gốc 38.490.480đ với lãi suất quá hạn là 4.155%/ tháng (2.77% x 150%) từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại là 467 ngày. Lãi suất quá hạn được tính: Lãi suất 1 ngày là: 38.490.480đ x (2.77% x 150%) : 30ngày = 53.232đ, Lãi quá hạn: 53.232 x 467ngày = 24.859.344d.

Tính đến ngày 19/09/2024, ông V1 còn nợ số tiền gốc 38.490.480đ và tiền lãi quá hạn 24.859.344đ. Tổng cộng 63.349.824đ. Do ông V1 vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký. Nay Ngân hàng yêu cầu ông V1 phải trả số nợ trên cho Ngân hàng và phải chịu lãi phát sinh từ ngày 20/09/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất tại Hợp đồng.

[2.2] Về mức lãi suất trong hợp đồng tín dụng cho vay 2.77%/ tháng và lãi suất quá hạn = 150% lãi suất trong hạn và yêu cầu trả lãi phát sinh từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 20/9/2024) cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất tại hợp đồng tín dụng.

Cách tính lãi suất của Ngân hàng là đúng như thỏa thuận giữa hai bên đã ký trong hợp đồng tín dụng, phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024: “tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật về các tổ chức tíndụng” và phù hợp với quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm: “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật”.

Xét giao dịch giữa Ngân hàng TMCP S với bị đơn Tống Vương được xác lập tự nguyện, nội dung hợp đồng quy định về mức lãi suất cho vay, phí cấp tín dụng do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận với nhau. Mục đích, nội dung mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng không vi phạm điều cấm, phù hợp Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024.

Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, Ngân hàng có quyền khởi kiện và áp dụng biện pháp cần thiết để đảm bảo việc thu hồi nợ. Đối chiếu tài liệu, chứng cứ mà ngân hàng cung cấp cho Tòa án, trong quá trình giải quyết vụ án thì ông V1 vắng mặt, không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào để phản bác hoặc phản tố đối với yêu cầu khởi kiện mà Ngân hàng đưa ra.

[2.3] Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ như trên, căn cứ vào Điều 463, 466, 468 của BLDS 2015 và Khoản 2 Điều 92 BLTTDS 2015, Khoản 2 Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024, HĐXX xét thấy có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa

buộc ông V1 phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP S tính đến ngày 19/09/2024 gồm nợ gốc 38.490.480đ + nợ lãi quá hạn 24.859.344đ. Tổng cộng 63.349.824₫

[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Tống V1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 3.167.000 đồng (cách tính: 5% x 63.349.824đ, làm tròn số).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1 Căn cứ vào:

Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 144, Khoản 1 Điều 147; Điều 199; Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Điều 117, 280, 351, 357, Điều 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015;

Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1.Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S đối với bị đơn ông Tống Vương .

Buộc ông Tống V1 phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng TMCP S tính đến ngày 19/09/2024 gồm nợ số tiền gốc 38.490.480 đồng + số tiền lãi quá hạn 24.859.344 đồng. Tổng cộng là 63.349.824 đồng (sáu mươi ba triệu, ba trăm bốn mươi chín ngàn, tám trăm hai mươi bốn đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 20/09/2024), ông Tống V1 còn phải trả lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

2.Về án phí: Buộc ông Tống V1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.167.000 đồng (ba triệu, một trăm sáu mươi bảy ngàn đồng).

Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền 1.368.000 đồng (một triệu, ba trăm sáu mươi tám ngàn đồng) đã nộp tạm ứng án phí Dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0004304, ngày 02/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3.Quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có mặt-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19/9/2024); Bị đơn vắng mặt-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./

Nơi nhận:

  • -Các đương sự;
  • -TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • -VKSND huyện Ninh Phước;
  • -Chi Cục THADS Ninh Phước;
  • -Lưu (hồ sơ, án văn).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Dương Thị Xuân Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/DS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC - TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 49/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC - TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger