TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/DS-ST
Ngày: 16-8-2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Xuân Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Hữu Linh.
2. Ông Bùi Hoàng Sơn.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Hòa - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo tham gia phiên tòa: Ông Phan Đình Toàn - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 121/2024/TLST-DS, ngày 09 tháng 4 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXX-ST, ngày 22 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S1). Địa chỉ: 2 N, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần K - Chức vụ: Trưởng phòng - Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh Đ1 – Phòng G.
Ông Trần K ủy quyền cho ông Hoàng Ngọc Đ – Chức vụ: Phó phòng giao dịch E. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Bà Đoàn Thị Thảo T. Địa chỉ: Tổ dân phố F, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần K trình bày:
Ngày 14 tháng 10 năm 2021 Ngân hàng TMCP S có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với bà Đoàn Thị Thảo T. Theo đó, Ngân hàng đã
đồng ý cấp thẻ tín dụng hạn mức cho bà T số tiền 30.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi cấp thẻ tín dụng bà T đã thực hiện các giao dịch dân sự nhiều lần, nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định và đã chuyển nợ quá hạn, nên đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và số dư nợ còn thiếu đã chuyển nợ quá hạn theo phụ lục, điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Mặc dù, Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu bà T có trách nhiệm thanh toán, nhưng bà T vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay và nợ quá hạn cho Ngân hàng. Vì vậy, bà T đã vi phạm các điều khoản được quy định tại hợp đồng đã ký kết, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T phải trả số tiền 38.628.617 đồng. Trong đó, nợ gốc là 33.091.052 đồng (bao gồm tiền gốc và phí sử dụng thẻ), lãi trong hạn và quá hạn là 5.537.565 đồng. Tạm tính đến ngày 15/3/2024. Ngoài ra, bà T còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến khi trả xong nợ.
Quá trình tham gia tố tụng bị đơn bà Đoàn Thị Thảo T trình bày:
Bà T thừa nhận và thống nhất với nội dung mà đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã trình bày là đúng sự thật về số tiền hiện nay bà T còn nợ Ngân hàng TMCP S - CN Đắk Lắk là 38.628.617 đồng. Số tiền này 38.628.617 đồng vay thông qua hình thức ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng. Nay Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu bà T trả số tiền nợ gốc và lãi suất phát sinh thì bà T đồng ý trả. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khó khăn bà T xin trả dần mỗi tháng là 2.000.000 đồng đến khi trả hết nợ.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S (S1).
Buộc bà T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền gốc là 38.628.617 đồng tạm tính đến ngày 15/3/2024 và tiền lãi suất phát sinh theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà HĐXX nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S khởi kiện bà T phải trả số tiền đã vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bị đơn có nơi cư trú tại tổ dân phố F, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Do vậy, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là
“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Đại diện ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn bà T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải được và tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2]. Về nội dung vụ án: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà T phải trả số tiền 38.628.617 đồng. Trong đó, nợ gốc là 33.091.052 đồng (bao gồm tiền gốc và phí sử dụng thẻ), lãi trong hạn và quá hạn là 5.537.565 đồng. Tạm tính đến ngày 15/3/2024. Ngoài ra, bà T phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh cho đến khi trả xong nợ. Bà T thừa nhận số nợ trên và đồng ý trả nợ, tuy nhiên bà T xin trả dần. Các đương sự không thống nhất được với nhau về toàn bộ nội dung vụ án.
Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quá trình tham gia tố tụng bà T thừa nhận có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với Ngân hàng TMCP S và hiện nay còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là 30.000.000 đồng, nên đây là những tình tiết không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hợp đồng cấp thẻ tín dụng được xác lập giữa các đương sự là tự nguyện, có hình thức, nội dung phù hợp với quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội, nên có hiệu lực pháp luật. Nay bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay tài sản, ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của nguyên đơn. Do đó, căn cứ Điều 280, Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S. Buộc bà T phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP S số tiền 38.628.617 đồng. Trong đó, nợ gốc là 33.091.052 đồng (bao gồm tiền gốc và phí sử dụng thẻ), lãi trong hạn và quá hạn là 5.537.565 đồng. Tạm tính đến ngày 15/3/2024. Ngoài ra, bà T phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh cho đến khi trả xong nợ.
[3]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn bà T phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 280, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự.
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Buộc bà Đoàn Thị Thảo T có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền là 38.628.617 đồng. Trong đó, nợ gốc là 33.091.052 đồng, lãi trong hạn và quá hạn là 5.537.565 đồng. Tạm tính đến ngày 15/3/2024.
Kể từ ngày tiếp theo ngày 16/3/2024 bà T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
Về án phí: Bà Đoàn Thị Thảo T phải chịu số tiền 1.931.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền 965.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ea H'Leo theo biên lai số: 0001967, ngày 02 tháng 4 năm 2024.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Xuân Cường |
4
Bản án số 49/2024/DS-ST ngày 16/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 49/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.
