|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 49/2024/DS-PT
Ngày 23 - 5 - 2024
“V/v Tranh chấp về hợp đồng tín dụng"
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phấn
Các Thẩm phán:
Bà Thái Thị Hồng Vân
Bà Trần Thị Mỹ Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19 tháng 4; ngày 17 tháng 5 và ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 163/2023/TLPT-DS ngày 28 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 28/2023/DS-ST ngày 30 tháng 08 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An bị kháng nghị; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 27/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần X(E; Địa chỉ: Tầng H, văn phòng số L - 11 + 16 Tòa nhà V center, số G, phường B, quận A, T diện theo pháp luật: Ông Trần Tấn L năm 1969 Chức vụ: Tổng Giám đốc;
Đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q khai thác tài sản - Ngân hàng TMCX XNgười được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Hoàng D– Cán bộ tổ xử lý nợ và QLKTTS khu vực Mvà bà Cao Thị Kim A - Cán bộ xử lý nợ và QLKTTS khu vực miền bắc. Địa chỉ liên hệ: Ngân hàng TMCP X, Tòa nhà T, số D - Đại lộ L, phường H, thành phố V, Nghệ An Có mặt tại phiên tòa;
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T sinh năm 1988; Hộ khẩu thường trú: K, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ Anvắng mặt.
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện đề ngày 6/4/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần X(Sau đây gọi tắt là E) ông Nguyễn Hoàng D1 bà Cao Thị Kim Al bày:
Ngày 18/06/2018, Ngân hàng E3 - Chi nhánh V với ông Nguyễn Văn T đã ký kết Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế hạn mức tín dụng 36.000.000 đồng. Căn cứ Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế trên, Eđã phát hành thẻ tín dụng JCB Vàng cho ông Nguyễn Văn T số thẻ JG026537. Căn cứ theo nội dung của hợp đồng tín dụng, khoản vay của ông T, quá trình sử dụng thẻ ông Nguyễn Văn T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán kể từ ngày 22/02/2019 và đã chuyển sang nợ quá hạn với mức lãi suất quá hạn. Sau khi khoản nợ bị chuyển nợ quá hạn, Eđã nhiều lần đôn đốc tạo điều kiện nhưng ông T vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tạm tính đến ngày 13/7/2023, ông Nguyễn Văn T còn nợ E số tiền cụ thể như sau: Nợ gốc 15.102.132 đồng; Nợ lãi và phí 194.391.319 đồng; Tổng nợ 209.493.451 đồng. Căn cứ Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế ngày 18/6/2018 và dư nợ phát sinh từ các giao dịch của thẻ tín dụng số JG026537. Nay Ekhởi kiện yêu cầu Tòa giải quyết, buộc: Ông Nguyễn Văn T2 thanh toán cho E1 bộ nợ gốc và lãi phát sinh đối với thẻ tín dụng số JG026537 mà E2 phát hành cho ông Nguyễn Văn T3 Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế ngày 18/6/2018 với số tiền tạm tính đến ngày 13/7/2023 là 209.493.451 đồng (trong đó, nợ gốc 15.102.132 đồng; nợ lãi và phí 194.391.319 đồng). Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bổ sung khởi kiện yêu cầu ông T2 trả nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 30/8/2023 là 244.171.333 đồng (Hai trăm bốn mươi bốn triệu, một trăm bảy mươi mốt nghìn, ba trăm ba mươi đồng); Trong đó, nợ gốc 15.102.132 đồng; nợ lãi và phí 229.069.201 đồng.
Phía bị đơn, ông Nguyễn Văn T4 khi thụ lý cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông T5 ông T6 không có mặt tại Tòa án để giải quyết nên vụ án, không tham gia phiên họp, không tiến hành hòa giải cũng như tham gia xét xử. Tòa án không thu thập được ý kiến của ông T
Xác minh tại chính quyền địa phương cung cấp: Ông Nguyễn Văn T7 cư trú (đăng ký hộ khẩu thường trú tại khối A, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ Annhưng thường xuyên vắng mặt nơi cư trú; đi đâu làm gì không báo cho chính quyền địa phương biết.
Bản án Dân sự sơ thẩm số 28/2023/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91, 94, 95, 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2011; Điều 405, 463, 466 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần X
Buộc ông Nguyễn Văn T7 nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCX Xsố tiền nợ tính đến ngày 30/8/2023 là 244.171.333đ (Hai trăm bốn mươi bốn triệu, một trăm bảy mươi mốt nghìn, ba trăm ba mươi đồng); Trong đó, nợ gốc 15.102.132 đồng; nợ lãi và phí 229.069.201 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (31/8/2023), ông Nguyễn Văn T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định nghĩa vụ về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An ban hành Quyết định số 1954/QĐ-VKS-DS kháng nghị phúc thẩm đối với Bản án sơ thẩm số 28/2023/DS-ST ngày 30/8/2023 của Toà án nhân dân thành phố Vinh, với nội dung: Số tiền ông Nguyễn Văn T2 tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc là không đúng quy định pháp luật về số tiền phải chịu lãi suất chậm thi hành án. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần sơ thẩm theo hướng phân tích nêu trên.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung kháng nghị và phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Trong quá quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Người tham gia tố tụng, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận số tiền mà ông T2 thanh toán số tiền theo Văn bản đề nghị điều chỉnh mức lãi suất của Ngân hàng ngày 17 tháng 5 năm 2024 và tuyên buộc ông T2 chịu lãi suất số tiền chậm thi hành án theo cam kết tại hợp đồng tín dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn T1 được Tòa án cấp sơ thẩm triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng đều vắng mặt nên không có lời khai cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và hòa giải. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh tại khối A, phường Q, tỉnh Nghệ Anniêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của bị đơn theo quy định của pháp luật. Kết quả xác minh thể hiện ông Nguyễn Văn T có hộ khẩu thường trú tại khối A, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ Annhưng đã đi khỏi địa phương còn đi đâu, làm gì chính quyền địa phương không biết được.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Nguyễn Văn T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Tòa án cấp phúc thẩm đã hai lần niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, giấy triệu tập phiên tòa tại nơi cư trú của bị đơn theo quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[2] Xét nội dung vụ án: Ngày 18/6/2018 ông Nguyễn Văn T đã ký kết Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế hạn mức tín dụng 36.000.000 đồng với ngân hàng X1 Căn cứ đề nghị của ông TNgân hàng Xđã phát hành thẻ tín dụng JCB Vàng cho ông Nguyễn Văn T số thẻ JG026537. Quá trình sử dụng thẻ ông Nguyễn Văn T vi phạm nghĩa vụ thanh toán kể từ ngày 22/02/2019 và đã chuyển nợ quá hạn với mức lãi suất quá hạn theo cam kết. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án và các quy định của pháp luật đã chấp nhận khởi kiện của Ngân hàng XBuộc ông Nguyễn Văn T7 nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCX Xsố tiền nợ tính đến ngày 30/8/2023 là 244.171.333 đồng (Hai trăm bốn mươi bốn triệu, một trăm bảy mươi mốt nghìn, ba trăm ba mươi đồng); Trong đó, nợ gốc: 15.102.132 đồng; nợ lãi và phí: 229.069.201 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (31/8/2023), ông Nguyễn Văn T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất.
[3] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, thấy rằng: Tại bản án sơ thẩm số 28/2023/DS-ST ngày 30/8/2023 của Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tuyên buộc ông Nguyễn Văn T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì “...bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận....”. Do đó, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An là có căn cứ cần chấp nhận sửa bản án sơ thẩm theo hướng phân tích nêu trên.
Ngoài ra, trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, ngày 17 tháng 5 năm 2024 Ngân hàng X có Văn bản sửa đổi nội dung điều chỉnh yêu cầu ông Nguyễn Văn T2 thanh toán các khoản lãi trong hạn, lãi quá hạn và phạt chậm trả. Theo đó, Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc ông T phải thanh toán tổng số tiền nợ cả gốc lẫn lãi là 46.577.803 đồng (trong đó nợ gốc 15.102.132 đồng; lãi trong hạn 21.003.975 đồng; lãi quá hạn 10.184.272 đồng và lãi phạt chậm trả 287.424 đồng). Xét việc sửa đổi điều chỉnh yêu cầu của Ngân hàng là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp pháp luật và thuộc phạm vi liên quan đến kháng nghị quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sư nên cần chấp nhận sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông Nguyễn Văn T2 thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 46.577.803 đồng.
[4] Về án phí sơ thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm về số tiền mà các bên phải thanh toán cho nhau nên cần sửa lại cho phù hợp.
[5] Về án phí: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, sửa bản án sơ thẩm;
Áp dụng các Điều 91, 94, 95, 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2011; Điều 405, 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần X
Buộc ông Nguyễn Văn T7 nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần X tiền nợ tính đến ngày 30/8/2023 là 46.577.803 đồng (Bốn mươi sáu triệu, năm trăm bảy mươi bảy nghìn, tám trăm ling ba đồng); (trong đó nợ gốc 15.102.132 đồng; lãi trong hạn 21.003.975 đồng; lãi quá hạn 10.184.272 đồng và lãi phạt chậm trả 287.424 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày bản án sơ thẩm xác định (ngày 31/8/2023), ông Nguyễn Văn T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Văn T2 chịu 2.328.890 đồng (hai triệu ba trăm hai mươi tám nghìn, tám trăm chín mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần X 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) số tiền tạm ứng án phí đã nộp tai Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu số 0001697 ngày 06/6/2023.
[3] Về án phí phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Phấn |
Bản án số 49/2024/DS-PT ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 49/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP VỀ HĐ TÍN DỤNG
