TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2023/HS-ST Ngày 29/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lạc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Giang là Thư ký TAND huyện Hạ Hoà
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Nam - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn số: 01/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
1-PHẠM PHI LONG, sinh năm 1988 tại huyện T, thành phố Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn V, xã B, huyện Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn H, sinh năm 1960 và bà: Nguyễn Thị M, sinh năm 1964; vợ: Hà Thị Thu H1, sinh năm 1988 và 02 người con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014.
Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2018/HS-ST ngày 15/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa xử phạt bị cáo L 15 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung 3.000.000 đồng về tội đánh bạc. L chưa thi hành 3.000.000 đồng tiền phạt bổ sung.
Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 12/10/2023 đến ngày 15/10/2023. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã X, huyện Y, tỉnh Yên Bái (có mặt).
2-NGUYỄN ANH TÚ, sinh năm 1999 tại huyện Đ, tỉnh Phú thọ; Nơi cư trú: Khu E, xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Việt T, sinh năm 1968 và bà: Hà Thị T1, sinh năm 1971; vợ: Vương Thị Thu D, sinh năm 1998 và 01 người con sinh năm 2019.
Tiền án: không.
Tiền sự: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 176/QĐ-XPHC ngày 25/9/2022 của Công an huyện Đ xử phạt Nguyễn Anh T2 350.000 đồng về hành vi mua số lô, số đề. T2 nộp 350.000 đồng tiền phạt ngày 23/11/2022.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 12/10/2023 đến ngày 15/10/2023. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
3-NGUYỄN THỊ DUYÊN, sinh năm 1991 tại huyện H, tỉnh Phú thọ; Nơi cư trú: Khu C xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H2, sinh năm 1963 và bà: Lại Thị Đ, sinh năm 1963; chồng: Vũ Thanh L1, sinh năm 1977 và 02 người con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 12/10/2023 đến ngày 15/10/2023. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
4-VŨ THANH LỰC, sinh năm 1977 tại huyện H, tỉnh Phú thọ; Nơi cư trú Khu 3 xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Quang T3, sinh năm 1955 và bà: Nguyễn Thị L2 (đã chết); vợ: Nguyễn Thị D1, sinh năm 1991 và 04 người con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 12/10/2023 đến ngày 15/10/2023. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 51/QĐ-VKSHH ngày 14/11/2023 của Viện KSND huyện H truy tố các bị cáo: Phạm Phi L3, Nguyễn Anh T2, Nguyễn Thị D1 và Vũ Thanh L1 về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 của Bộ luật Hình sự với các tình tiết như sau:
Hồi 11 giờ 50 phút ngày 12/10/2023, tại buồng ngủ nhà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1991 ở khu C, xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H phát hiện, bắt quả tang 04 đối tượng gồm: Nguyễn Thị D1, Vũ Thanh L1 sinh năm 1977 ở khu C, xã H, huyện H (là chồng D1); Phạm Phi L3 sinh năm 1988 ở xã B, huyện Y, tỉnh Yên Bái; Nguyễn Anh T2 sinh năm 1999 ở xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 8.750.000 đồng, 52 quân bài tú lơ khơ, 01 chiếc đệm. Sau khi bị bắt quả tang, T2 tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H số tiền 2.000.000 đồng cất ở trong người.
Xét thấy hành vi của Vũ Thanh L1, Nguyễn Thị D1, Nguyễn Anh T2 và Phạm Phi L3 đã cấu thành tội “Đánh bạc”, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với D1, L1, T2 và L3 về tội “Đánh bạc”, đồng thời điều tra làm rõ nội dung vụ án như sau:
Do quen biết từ trước nên khoảng 10 giờ ngày 12/10/2023, Phạm Phi L3 và Nguyễn Anh T2 đến nhà Vũ Thanh L1 chơi, thì gặp Nguyễn Thị D1 là vợ L1 đang ở nhà, còn L1 đi làm. Khi L3, T2 ngồi uống nước cùng D1 tại phòng khách, thì L3 nhìn thấy trên bàn uống nước có 01 bộ bài tú lơ khơ nên rủ D1 và T2 đánh bạc, D1 và T2 đồng ý. D1 cầm bộ bài rồi cùng L3 và T2 đi vào phòng ngủ giáp với sân theo hướng từ ngoài nhìn vào để đánh bạc, tất cả cùng ngồi lên giường và thống nhất đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền rồi cùng nhau đánh bạc. Về cách thức chơi: Dùng 52 quân bài tú lơ khơ chia đều cho mỗi người chơi 03 quân, ván đầu tiên thì người chia bài được chọn ngẫu nhiên, từ ván sau nếu ai thắng thì được chia bài. Trước khi chia bài mỗi người chơi phải đặt cửa thấp nhất 50.000 đồng/ván (gọi là tiền gà). Sau khi được chia bài, người nào tố thì đặt thêm tiền xuống chiếu bạc (trong một ván bài người chơi không được tố quá 3 lần, tiền tố mỗi lần không quá 200.000 đồng) người nào đặt tiền theo tố gọi là cân, người nào không theo tố thì úp bài xuống và bị thua ván đó đồng thời mất 50.000 đồng tiền gà. Những người theo tố thì cộng điểm để xác định thắng thua. Người nào có điểm cao nhất thì thắng và được ăn tất cả tiền gà và tiền tố của ván đó. Thứ tự thắng được xếp từ cao xuống thấp là “Sáp” - “Liêng” - “Ảnh” và tính điểm. Trong đó: “Sáp” tức là người chơi có 03 quân bài cùng bộ, cao nhất là “A”, rồi giảm dần theo thứ tự quân bài K, Q, J, 10,... và thấp nhất là 2. “Liêng” tức là người chơi có 03 quân bài có số thứ tự liền kề nhau, nhỏ nhất là “A, 2, 3” và cao nhất là “Q, K, A”. Nếu “Liêng” bằng nhau thì xét chất để phân thắng thua theo thứ tự từ cao xuống thấp là chất “rô, cơ, tép, bích”. “Ảnh” là người chơi có 03 quân bài đầu người J, Q, K mà không phải là “Sáp” hoặc “Liêng”. Nếu “Ảnh” mà bằng nhau thì xét chất như trên để phân thắng thua. Trong một ván nếu người chơi nào thắng do có bài sáp thì những người chơi còn lại phải trả thêm cho người có bài sáp là 200.000 đồng; nếu người chơi thắng do có bài liêng hoặc ảnh thì những người chơi còn lại phải trả thêm cho người có bài liêng hoặc ảnh 100.000 đồng. Điểm được tính là tổng 03 quân bài cộng lại, ai có điểm cao nhất sẽ thắng. Quy ước chung quân A bằng 1 điểm, các quân 10, J, Q, K bằng 0 điểm, các quân bài còn lại thì điểm là số ghi trên quân bài. Nếu người chơi có cùng điểm thì xét theo chất để xác định thắng thua. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, Vũ Thanh L1 đi làm về đến nhà, thấy D1, T2 và L3 đang ngồi đánh bạc tại phòng ngủ nhà mình nên cũng tham gia đánh bạc cùng. Các đối tượng đánh bạc đến 11 giờ 50 phút cùng ngày, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.
Về số tiền sử dụng để đánh bạc, quá trình điều tra xác định: L3 có 3.200.000 đồng; D1 có 2.050.000 đồng, L1 có 1.500.000 đồng, T2 có 3.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bắt đầu đánh bạc, T2 lấy ra 1.000.000 đồng để xuống chiếu bạc để đánh bạc, còn 2.000.000 đồng T2 đúc ở trong túi quần. Sau khi bị bắt quả tang, T2 đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra. Khi đánh bạc, L3 thua hết tiền nên hỏi vay D1 1.000.000 đồng, D1 đã mở tủ nhà mình lấy cho L3 vay 1.000.000 đồng (D1 không lấy lãi khi cho L3 vay tiền). Như vậy, tổng số tiền các bị can sử dụng để đánh bạc là 10.750.000 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Hạ Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và khẳng định Quyết định truy tố các bị cáo L3, T2, D1 và L1 về tội danh và điều luật đã nêu là hoàn toàn đúng. Đề nghị: Tuyên bố các bị cáo Phạm Phi L3, Nguyễn Anh T2, Nguyễn Thị D1 và Vũ Thanh L1 phạm tội: “Đánh bạc”.
Đề nghị:
1- Về hình phạt chính:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 - BLHS: xử phạt bị cáo Phạm Phi L3 từ 6 đến 9 tháng tù, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 12/10/2023 đến 15/10/2023, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
- Căn cứ khoản 1,3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 - BLHS: xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T2 từ 18 đến 21 tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 03 ngày tạm giữ, quy đổi bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ.
- Căn cứ khoản 1,3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 - BLHS: xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D1 từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ; xử phạt bị cáo Vũ Thanh L1 từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo D1 và L1 được khấu trừ 03 ngày tạm giữ, quy đổi bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ.
Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Đ, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện H, tỉnh Phú thọ nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Anh T2 cho UBND xã M, huyện Đ, tỉnh Phú thọ; giao các bị cáo Nguyễn Thị D1 và Vũ Thanh L1 cho UBND xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Khấu trừ hàng tháng thu nhập của bị cáo L1, T2 mỗi bị cáo từ 200.000₫ đến 300.000đ trong thời gian chấp hành án phạt. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo D1 do bị cáo là lao động tự do và công việc chính là nội chợ phục vụ gia đình.
Trường hợp các bị cáo T2, D1, L1 không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì buộc các bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 4 giờ trong một ngày và không quá 5 ngày trong một tuần. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
2- Về hình phạt bổ sung:
Đề nghị xử phạt bị cáo T2 từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ triệu đồng; bị cáo D1 và L1 mỗi bị cáo từ 20.000.000đ đến 30.000.000đ triệu đồng nộp ngân sách nhà nước. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo L3.
3- Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47, điểm a, b khoản 2 Điều 106 - BLTTHS.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 10.750.000₫.
- Tịch thu tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ và 01 chiếc đệm.
4- Án phí HSST:
Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo L3, T2, D1 và L1 hoàn toàn thừa nhận đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “Liêng” tại gia đình của bị cáo D1, L1 ở khu C xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ với các tình tiết theo như Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện KSND huyện H. Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, chủ tọa phiên tòa nhận định vụ án như sau:
[1] Lời khai của các bị cáo Phạm Phi L3, Nguyễn Anh T2, Nguyễn Thị D1 và Vũ Thanh L1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt phạm tội quả tang, vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ 10 giờ đến 11 giờ 50 phút ngày 12/10/2023, tại phòng ngủ của vợ chồng Nguyễn Thị D1 và Vũ Thanh L1 ở khu C, xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ, Phạm Phi L3, Nguyễn Anh T2, Nguyễn Thị D1 và Vũ Thanh L1 có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 10.750.000 đồng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo L3, T2, D1 và L1 đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 321-BLHS.
Khoản 1 điều 321– BLHS quy định: “ Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại điều 322 của bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của VKSND huyện Hạ Hòa đối với các bị cáo về tội “ Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321-BLHS và là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó Phạm Phi L3 là người rủ rê, D1 và L1 là người sử dụng nhà ở của mình làm địa điểm đánh bạc và cùng tham gia đánh bạc. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện H nói riêng, toàn xã hội nói chung, gây dư luận xấu trong nhân dân. Do đó vụ án cần được đưa ra xét xử thật nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Xét về nhân thân:
Bị cáo D1, L1 lần đầu phạm tội. Bị cáo T2 có 01 tiền sự về hành vi mua số lô, số đề đã bị Công an huyện Đ xử phạt 350.000đ tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 176/QĐ-XPHC ngày 25/9/2022, T2 nộp tiền phạt ngày 23/11/2022. Bị cáo L3 bị TAND huyện Hạ Hòa xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung 3.000.000đ về tội đánh bạc tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2018/HS-ST ngày 15/01/2018. L3 chưa thi hành 3.000.000đ tiền phạt bổ sung. Các bị cáo trong vụ án đều nhận thức được hành vi đánh “Liêng” được thua bằng tiền là hành vi đánh bạc trái phép, là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Đối với các bị cáo cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội.
[4] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo T2, D1 và L1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, Chủ tọa xem xét cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo T2 còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS do bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huy chương quân kỳ quyết thắng, Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất và hạng nhì.
Bị cáo L3 chỉ được hưởng tình tiết giảm nhẹ đó là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS. Bị cáo L3 phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đó là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Các bị cáo T2, D1 và L1 không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy không cần phải cách ly các bị cáo T2, D1 và L1 ra khỏi xã hội, chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo tại địa phương cũng đủ để các bị cáo rèn luyện, cải tạo trở thành con người có ích cho xã hội. Đối với bị cáo L3 cần cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới cải tạo trở thành con người có ích cho gia đình và xã hội. Chủ tọa chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo L3, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo T2, D1 và L1.
Xét thấy các bị cáo T2 và L1 là lao động tự do, có thu nhập, Chủ tọa sẽ khấu trừ hàng tháng 10% thu nhập của các bị cáo trong thời gian chấp hành án phạt để sung quỹ Nhà nước. Bị cáo D1 là lao động tự do, chủ yếu làm công việc phục vụ cho gia đình nên thu nhập không ổn định do vậy miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Thị D1. Trường hợp các bị cáo T2, D1, L1 không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì buộc các bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại điều 36 của Bộ luật hình sự và phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 Điều 321 – BLHS quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ triệu đồng. Để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, cần phạt bổ sung bị cáo T2 từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ; bị cáo D1 và L1 mỗi bị cáo từ 20.000.000đ đến 30.000.000đ nộp ngân sách Nhà nước. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo L3.
[6] Về xử lý vật chứng:
- 01 chiếc đệm các bị cáo sử dụng để đánh bạc là tài sản của bị cáo D1, L1, tại phiên tòa các bị cáo không đề nghị được trả lại, cần tịch thu tiêu hủy.
- 52 quân bài T2 lơ khơ đã cũ là công cụ phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.
- Số tiền 10.750.000đ các bị cáo dùng để đánh bạc, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[7] Đối với Nguyễn Thị D1 và Vũ Thanh L1 là chủ nhà cho các đối tượng đánh bạc tại nhà mình đồng thời trực tiếp tham gia đánh bạc, tuy nhiên chỉ có một chiếu bạc và 04 người đánh bạc, số tiền đánh bạc dưới 20.000.000đ, D1 và L1 không rủ rê, tổ chức nơi cầm cố tài sản, không phân công người canh gác và không được hưởng lợi gì từ việc các bị cáo đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H chỉ xử lý hình sự đối với D1 và L1 về tội “Đánh bạc” mà không đề cập xử lý về hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc là đúng quy định của pháp luật.
[8] Các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Về án phí HSST: Buộc các bị cáo L3, T2, D1 và L1 phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 38 -BLHS (đối với L3)
Căn cứ khoản 1,3 điều 321; điểm i,s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 36-BLHS (đối với T2)
Căn cứ khoản 1,3 điều 321; điểm i,s khoản 1 điều 51; điều 36-BLHS (đối với D1 và L1).
Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106; khoản 3, 4 điều 123; khoản 2 điều 135, điểm a khoản 2 điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
1- Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Phạm Phi L3, Nguyễn Anh T2, Nguyễn Thị D1 và Vũ Thanh L1 phạm tội: “Đánh bạc”.
2- Về hình phạt chính:
- Xử phạt bị cáo Phạm Phi L3 07 (bảy) tháng tù, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 12/10/2023 đến 15/10/2023, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo L3.
Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo L3 kể từ ngày 30/11/2023 cho đến khi bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T2 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 03 ngày tạm giữ, quy đổi bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải chấp hành là 17 (mười bảy) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D1 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 03 ngày tạm giữ, quy đổi bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải chấp hành là 14 (mười bốn) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.
- Xử phạt bị cáo Vũ Thanh L1 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 03 ngày tạm giữ, quy đổi bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải chấp hành là 14 (mười bốn) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.
Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Đ, tỉnh Phú thọ và Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện H, tỉnh Phú thọ nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Anh T2 cho UBND xã M, huyện Đ, tỉnh Phú thọ; giao các bị cáo Nguyễn Thị D1 và Vũ Thanh L1 cho UBND xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Khấu trừ hàng tháng thu nhập của bị cáo T2 300.000đ (ba trăm nghìn), bị cáo L1 300.000đ (ba trăm nghìn) trong thời gian chấp hành án phạt để sung quỹ Nhà nước.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo D1.
Trường hợp các bị cáo T2, D1, L1 không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì buộc các bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 4 giờ trong một ngày và không quá 5 ngày trong một tuần. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
3-Về hình phạt bổ sung:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T2 10.000.000đ (mười triệu đồng); bị cáo Nguyễn Thị D1 và Vũ Thanh L1 mỗi bị cáo 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
4- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 10.750.000đ (mười triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
- Tịch thu tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ và 01 chiếc đệm theo biên bản được lập ngày 14/11/2023 của Chi cục THADS huyện H.
5- Về án phí HSST:
Buộc các bị cáo Phạm Phi L3, Nguyễn Anh T2, Nguyễn Thị D1 và Vũ Thanh L1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo lên TAND tỉnh Phú thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lạc |
Bản án số 49/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 49/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự đối với bị cáo Phạm Phi L và đồng phạm pham tội "Đánh bạc"
