Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SÔNG CẦU

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2023/HS-ST

Ngày: 17-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Tiên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Thành và ông Nguyễn Ngọc Chẩn

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Bảo Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Phan Đức Bình Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 09 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Phan H (tên gọi khác: Không), sinh năm 1987; nơi sinh và nơi cư trú: Thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha Nguyễn Phan H1, sinh năm 1965; mẹ Phạm Thị K, sinh năm 1959; vợ Nguyễn Thị Diệu H2, sinh năm 1989; con ruột 02 người, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 09/02/2022, bị Công an thị xã S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.000.000 đồng về hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật, đã chấp hành nộp phạt vào ngày 03/07/2023. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

- Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân xã X; địa chỉ: Thôn B, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị B – Chức vụ: Chủ tịch UBND xã X. Vắng mặt (Có yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 25/11/2022, Nguyễn Phan H điều khiển xe mô tô (không gắn biển kiểm soát, không xác định được số khung, số máy) đến diện tích rừng sản xuất do Ủy ban nhân dân xã X quản lý thuộc khoảnh 2, Tiểu khu A thôn B, xã X, thị xã S rồi dùng cưa xăng cưa hạ 01 cây gỗ Chò chai (còn sống) rồi cưa cắt thành 02 thanh gỗ nhằm mục đích sửa chữa nhà cửa. Sau đó H điều khiển xe mô tô chở 02 thanh gỗ trên đến khu vực “Ba Gò” thuộc thôn B, xã X, thị xã S thì bị Hạt Kiểm lâm thị xã S kiểm tra phát hiện, tạm giữ toàn bộ phương tiện, tang vật có liên quan.

Quá trình giải quyết vụ việc, Hạt Kiểm lâm thị xã S xác định: Ngày 09/01/2022, Nguyễn Phan H có hành vi vận chuyển trái phép 02 thanh gỗ, khối lượng 0,108m³ (quy tròn 0,1728m³) gỗ Tràm sừng (là gỗ thuộc loài thông thường). Ngày 09/02/2022, Công an thị xã S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 000611 số tiền 3.000.000 đồng đối với Nguyễn Phan H về hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật theo quy định tại điểm a khoản 13 Điều 1 Nghị định số 07/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ. Do đó ngày 21/02/2023, Hạt Kiểm lâm thị xã S chuyển hồ sơ vi phạm có dấu hiệu tội phạm cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S để giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình điều tra Nguyễn Phan H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại Bản Kết luận giám định tư pháp số 09-2023/KL/TCGĐ ngày 07/6/2023 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh P kết luận:

- 02 thanh gỗ có đặc điểm thớ gỗ thẳng và mịn, vân gỗ màu vàng, được xác định là Chò chai (tên khoa học: Shorea T), gỗ nhóm III, thuộc loài thông thường. Khối lượng gỗ tròn của 02 thanh gỗ có khối lượng 0,097m³ là: 0,155m³.

- Gốc cây rừng tại tọa độ X=569.522 – Y= 1.492.899: Gốc có bạnh nhỏ, vỏ thân màu xám đen nứt dọc; thớ gỗ thẳng và mịn, vân gỗ màu vàng, được xác định là Chò chai (tên khoa học: Shorea T), gỗ nhóm III, thuộc loài thông thường. Vị trí gốc cây thuộc rừng sản xuất; nguồn gốc hình thành từ rừng tự nhiên.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐG ngày 08/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S kết luận: Gỗ Chò chai, nhóm III, loại gỗ thông thường gồm 02 thanh, kích thước mỗi thanh dài 5,1m, rộng 12cm, đường kính/chiều dày 8cm, khối lượng 0,097m³ quy đổi ra gỗ tròn là 0,155m³ tại thời điểm ngày 25/11/2022 có giá trị là 1.023.000 đồng.

Vật chứng vụ án: 01 xe gắn máy không có số khung, số máy, không biển số, đã qua sử dụng; 01 máy cưa xăng cầm tay, thân máy màu đen, đã qua sử dụng; 02 thanh gỗ C, kích thước 8cm x 12cm x 5,1m.

Về trách nhiệm dân sự: UBND xã X yêu cầu bị cáo H phải bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Bị cáo H đã tự nguyện nộp số tiền 1.023.000 đồng bồi thường cho UBND xã X tại Biên lai thu tiền số 0001633 ngày 13/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

Cáo trạng số 46/CT-VKSSC ngày 19/09/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu đã truy tố bị cáo Nguyễn Phan H về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 15/11/2023, UBND xã X trình bày: Không yêu cầu bị cáo H bồi thường, trong trường hợp bị cáo H chủ động nộp tiền bồi thường thì UBND xã X không nhận số tiền này, đề nghị Tòa án xử lý theo quy định pháp luật; đồng thời đề nghị Tòa án sung quỹ nhà nước 02 thanh gỗ Chò Chai, kích thước 8cm x 12cm x 5,1m.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo tại Cáo trạng số 46/CT-VKSSC ngày 19/09/2023, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Phan H phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Áp dụng điểm m khoản 1, khoản 4 Điều 232; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Phan H từ 06 – 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 – 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Phan H cho UBND xã X giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

- Hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung, buộc bị cáo H nộp số tiền từ 10.000.000 đồng – 20.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.

- Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 máy cưa xăng cầm tay, thân máy màu đen; 02 thanh gỗ C, kích thước 8cm x 12cm x 5,1m.

Đối với 01 xe gắn máy không có số khung, số máy, không rõ biển số, đã qua sử dụng: Giao Cơ quan CSĐT Công an thị xã S tiếp tục xác minh các thông tin liên quan đến chiếc xe gắn máy này và giải quyết theo quy định pháp luật.

- Về trách nhiệm dân sự: UBND xã X không yêu cầu bị cáo H bồi thường dân sự. Tuy nhiên, bị cáo H đã chủ động nộp khắc phục hậu quả số tiền 1.023.000 đồng tại Biên lai thu tiền số 0001633 ngày 13/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Do vậy, đề nghị sung quỹ nhà nước số tiền 1.023.000 đồng bị cáo H đã nộp.

Trong phần tranh luận: Bị cáo đồng ý với nội dung bản luận tội, không tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, các quyết định tố tụng của Điều tra viên, của Cơ quan điều tra Công an thị xã S và Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, nguyên đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, UBND xã X có yêu cầu xét xử vắng mặt. Xét thấy UBND xã X đã có lời khai tại hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[3] Về tội danh và khung hình phạt; tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; mức hình phạt cho bị cáo: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp nhau, phù hợp nội dung sự việc được ghi nhận tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 15/03/2023, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định: Vào ngày 25/11/2022, tại khu vực rừng sản xuất do Ủy ban nhân dân xã X quản lý thuộc khoảnh 2, tiểu khu A thôn B, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, Nguyễn Phan H có hành vi cưa, cắt trái phép 01 cây Chò chai (là gỗ nhóm III, loài thông thường) thành 02 thanh gỗ với khối lượng 0,097m³ quy đổi ra gỗ tròn là 0,155m³ rồi điều khiển xe mô tô chở về nhà thì bị Hạt kiểm lâm thị xã S phát hiện, bắt giữ. Trước đó, bị cáo H đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính (theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 000611 ngày 09/02/2022 của Công an thị xã S, chấp hành nộp phạt vào ngày 03/07/2023). Như vậy, hành vi của Nguyễn Phan H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự. Truy tố tại Cáo trạng số 46/CT-VKSSC ngày 19/09/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, xâm phạm đến sự ổn định bền vững của môi trường sinh thái, môi trường sống của con người được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo có 01 tiền sự, cụ thể ngày 09/02/2022 bị Công an thị xã S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.000.000 đồng về hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật; đến ngày 25/11/2022 bị cáo chưa chấp hành nộp phạt lại tiếp tục có hành vi khai thác lâm sản trái phép. Như vậy cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là không cao, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là cần thiết để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho UBND xã X; bị cáo không có tình tiết tăng nặng; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; đối với tiền sự của bị cáo về hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật đã được áp dụng làm căn cứ định tội. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS và Điều 65 BLHS cho bị cáo hưởng án treo, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, vẫn có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[5] Xét thấy bị cáo không thuộc hộ nghèo, cận nghèo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, phạt bổ sung bị cáo H số tiền 10.000.000 đồng.

[6] Về xử lý vật chứng:

[6.1] Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 máy cưa xăng cầm tay, thân máy màu đen do bị cáo H sử dụng vào việc phạm tội.

[6.2] Đối với 01 xe gắn máy không có số khung, số máy, không rõ biển số, đã qua sử dụng: Giao Cơ quan CSĐT Công an thị xã S tiếp tục xác minh các thông tin liên quan đến chiếc xe gắn máy này và giải quyết theo quy định pháp luật.

[6.3] Đối với số lâm sản thu giữ gồm 02 thanh gỗ Chò Chai, kích thước 8cm x 12cm x 5,1m: Xét thấy còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[7] Về trách nhiệm dân sự: UBND xã X không yêu cầu bị cáo H bồi thường nên Hội đồng không xem xét. Tuy nhiên, bị cáo H đã chủ động nộp khắc phục cho Nhà nước số tiền 1.023.000 đồng tại Biên lai thu tiền số 0001633 ngày 13/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Do vậy, sung quỹ nhà nước số tiền 1.023.000 đồng mà bị cáo H đã nộp.

[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm m khoản 1, khoản 4 Điều 232; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phan H phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
  3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phan H 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  4. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Phan H số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

    Giao bị cáo Nguyễn Phan H cho UBND xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Phan H.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

  5. Về xử lý vật chứng:
  6. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 máy cưa xăng cầm tay, thân máy màu đen; 02 thanh gỗ C, kích thước 8cm x 12cm x 5,1m.

    Đối với 01 xe gắn máy không có số khung, số máy, không rõ biển số, đã qua sử dụng: Giao Cơ quan CSĐT Công an thị xã S tiếp tục xác minh các thông tin liên quan đến chiếc xe gắn máy này và giải quyết theo quy định pháp luật.

    Các vật chứng được ghi nhận tại Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 21/09/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu.

  7. Về trách nhiệm dân sự: UBND xã X không yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét. Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với số tiền 1.023.000 đồng mà bị cáo H nộp khắc phục hậu quả tại Biên lai thu tiền số 0001633 ngày 13/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
  8. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Phan H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  9. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nguyên đơn dân sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - Sở tư pháp Phú Yên;
  • - VKSND TX. Sông Cầu;
  • - VKSND tỉnh PY;
  • - CSĐT Công an TX. Sông Cầu;
  • - Chi cục THADS TX. Sông Cầu;
  • - CQ THA HS TX. Sông Cầu;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Thị Ngọc Tiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản

  • Số bản án: 49/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phan H phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phan H 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger