Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:49 /2023/HS-ST

Ngày: 17-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hai và ông Bạch Nhật Tuyến

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Ái Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Ngọc P, sinh năm 1985, tại thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Nơi đăng ký thường trú: Số C, Khóm C, Phường C, thành phố S, Đồng Tháp; Nơi ở: Không có nơi ở ổn định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Võ Ngọc D, sinh năm 1944 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1949; Vợ, con: chưa có; Anh, chị, em: Không có; Tiền sự: Không có; Tiền án: 05 tiền án. (1) Bản án số 39/2006/HSST ngày 29/5/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/7/2006. (2) Bản án số 08/2008/HSST ngày 04/02/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/01/2009. (3) Bản án số 56/2013/HSST ngày 24/7/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/04/2014. (4) Bản án số 77/2015/HSST ngày 02/12/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/02/2019. (5) Bản án số 56/2019/HS-ST ngày 25/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 04 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/4/2023; Tạm giữ: Ngày 30/6/2023; Tạm giam: Ngày 06/7/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Bị cáo có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Hoàng P1, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số A, khóm H, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 27/6/2023, Võ Ngọc P đi đến khu vực Bệnh viện Đ thuộc khóm H, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp tìm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày P phát hiện xe mô tô 66F9-5956 của anh Nguyễn Hoàng P1 (là thợ xây dựng đang thi công sửa chữa công trình tại khoa Sản của Bệnh viện) đang đậu ở bãi xe sau lưng khoa Sản của bệnh viện không có người trông giữ nên lén lút lấy trộm rồi dẫn bộ ra ngoài. Sau đó P bứt dây điện của xe, câu nối lại để khởi động xe và điều khiển xe đi đến nhiều tỉnh như Vĩnh Long, An Giang.

Đến khoảng 23 giờ 20 phút, ngày 29/6/2023 P điều khiển xe mô tô biển số 66F9-5956 đi đến huyện C, tỉnh Đồng Tháp thì bị Tổ tuần tra của Phòng C Công an tỉnh Đ đang tuần tra trên Quốc lộ C đoạn thuộc thị trấn M, huyện C phát hiện P có biển hiện nghi vấn và tiến hành kiểm tra thì phát hiện P không có giấy chứng nhận đăng ký xe, ổ khóa xe mô tô bị cạy phá, qua làm việc P khai nhận xe mô tô biển số 66F9-5956 là do P lấy trộm tại Bệnh viện Đ. Cơ quan Công an đã thu hồi được xe mô tô biển số 66F9-5956 và thu giữ 01 đoạn video trích xuất từ camera của Bệnh viện Đ ghi lại hình ảnh P dẫn xe ra khỏi cổng bệnh viện.

Tại Biên bản và kết luận định giá tài sản số 21/HĐ.ĐGTS ngày 05/7/2023 xác định 01 xe mô tô nhãn hiệu POMUPSACYAN màu vàng, biển số 66F9-5956, số máy FMH-10148691, số khung 00YVN012965, đã qua sử dụng và thu hồi được có giá trị là: 3.000.000 đồng.

Tại bản kết luận số 1047/KL-KTHS ngày 22/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: “Tệp giữ liệu video lưu trong USB gửi giám định không bị cắt ghép, chỉnh, sửa về nội dung hình ảnh”.

Quá trình điều tra xác định xe mô tô nhãn hiệu POMUPSACYAN màu vàng, biển số 66F9-5956 có giấy chứng nhận xe là của ông Nguyễn Văn T. Qua xác minh, ông T là cha ruột của anh Nguyễn Hoàng P1 nhưng đã chết, xe này anh Nguyễn Hoàng P1 sử dụng từ năm 2017, hiện nay không có tranh chấp gì nên cơ quan cảnh sát điều tra đã trao trả cho anh Nguyễn Hoàng P1 nhận lại xe mô tô nhãn hiệu POMUPSACYAN màu vàng, biển số 66F9-5956 xong và anh P1 không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 48/CT-VKSTPSĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đã truy tố bị cáo Võ Ngọc P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Ngọc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Ngọc P mức án từ 04 năm tù đến 05 năm tù. Đồng thời đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng là đúng quy định pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, của bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở xác định: Khoảng 09 giờ ngày 27/6/2023, Võ Ngọc P đi đến khu vực Bệnh viện Đ, khóm H, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp lén lút chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu POMUPSACYAN màu vàng, biển số 66F9-5956 trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 3.000.000 đồng của ông Nguyễn Hoàng P1.

[3] Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, bị cáo có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự và đã từng có 05 lần bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến nay vẫn chưa được xóa án tích, nên bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Đáng lẽ ra sau khi chấp hành hình phạt tù xong, bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, ăn năn hối cải, cố gắng lao động để tự tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của bản thân. Thế nhưng, với tư tưởng xấu cùng bản tính tham lam, muốn có tiền để tiêu xài mà không cần bỏ ra nhiều công sức lao động, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có tổng giá trị là 3.000.000 đồng của anh Nguyễn Hoàng P1. Với giá trị tài sản chiếm đoạt như trên cùng với 05 lần bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích thì hành vi phạm tội của bị cáo là thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm và đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a)...

g) Tái phạm nguy hiểm;

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây ra tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, động cơ mục đích tư lợi cá nhân. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và thể hiện sự táo bạo, liều lĩnh. Thời điểm phạm tội là vào ban ngày, địa điểm phạm tội là tại khu vực bệnh viện có nhiều người tới lui để khám chữa bệnh, có camera an ninh và nhân viên bảo vệ, nếu chiếm đoạt tài sản sẽ dễ bị phát hiện và bị bắt, nhưng khi phát hiện xe mô tô của anh P1 dựng trong bệnh viện, bị cáo đã theo dõi trong thời gian 01 ngày đêm chờ đến khi anh P1 sơ hở không trông giữ, bị cáo nhanh chóng tiếp cận và dắt ra bên ngoài, chứng tỏ bị cáo quá xem thường pháp luật, quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian dài để một lần nữa giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng tài sản của người khác, nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hiện nay bị cáo không có nghề nghiệp để tạo ra thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với bị cáo.

[8] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

[10] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 USB, lưu lại hình ảnh bị cáo P chiếm đoạt tài sản cần tiếp tục lưu hồ sơ vụ án nhằm đảm bảo giải quyết vụ án

[11] Về án phí: Bị cáo Võ Ngọc P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

1. Tuyên bố: Bị cáo Võ Ngọc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Võ Ngọc P mức án 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2023 (ngày tạm giữ).

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

3. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

4. Về xử lý vật chứng: Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB ghi lại hình ảnh Võ Ngọc P thực hiện hành vi phạm tội.

5. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Bị cáo Võ Ngọc P nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Riêng bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh ĐT; (1b)
  • - VKSND TP Sa Đéc; (2b)
  • - Công an TP Sa Đéc; (4b)
  • - Chi cục THA TP Sa Đéc; (1b)
  • - Sở Tư pháp; (1b)
  • - Thi hành án phạt tù; (1b)
  • - Bị cáo & người tham gia tố tụng; (2b)
  • - Lưu: HS, VT. (H.M)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Hoàng Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 49/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Ngọc P lén lút chiếm đoạt tài sản trị giá 3.000.000 đồng của bị hại
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger