Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ LỘC

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2022/HS-ST

Ngày: 17/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Phan Thị Xuân Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Xuân Hương và ông Nguyễn Thế Lâm.

Thư ký phiên toà: Ông Đoàn Văn Thái - Thư ký Toà án nhân dân huyện P, tỉnh TTH.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc tham gia phiên toà: Ông Đinh Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 06 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Bá C; sinh ngày 02 tháng 02 năm 1995 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm 3, xã Tràng Sơn, huyện DL, tỉnh NA; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá Minh và bà Dương Thị N1; có vợ: Võ Thị Oanh và có 01 người con; tiền án; tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2022 đến ngày 20/5/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “ Bảo lĩnh”; có mặt.

- Bị hại: Ông Hoàng Giang, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ dân phố Loan Lý, thị trấn Lăng Cô, huyện P, tỉnh TTH, có đơn xin xét xử vắng mặt.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Dương Thị N1, sinh năm 1971; nơi cư trú: Xóm 3, xã Tràng Sơn, huyện DL, tỉnh NA, có đơn xin xét xử vắng mặt;
  • + Ông Nguyễn Hoàng Phú, sinh năm 1995; nơi cư trú: Xóm Yên Thế, xã Thịnh Sơn, huyện DL, tỉnh NA, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Bá C và anh Hoàng Giang có mối quan hệ trong việc mua bán vật liệu xây dựng. C là người cung cấp vật liệu xây dựng, anh Giang là người mua. Ngày 11/03/2022, khi anh Hoàng Giang sử dụng Facebook cá nhân có tên “Hoàng Giang” nhắn tin vào trang Facebook có tên “Chuyên sắt thép xây dựng miền trung" do C quản lý để hỏi mua sắt thép xây dựng. Do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Bá C nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Giang. C đưa ra thông tin hiện tại sắt thép chuẩn bị tăng giá, nguồn hàng khan hiếm và yêu cầu anh Giang phải chuyển tiền đặt cọc 50% giá trị đơn hàng với số tiền 30.000.000 đồng để đặt hàng. Anh Giang tin tưởng và đồng ý chuyển số tiền 30.000.000 đồng cho C. C đã mượn số tài khoản của anh Nguyễn Hoàng Phú để nhận tiền chuyển khoản của anh Giang. Anh Phú cung cấp số tài khoản cho C. Anh Giang đã chuyển số tiền 30.000.000 đồng vào số tài khoản số tài khoản: 611699196888 của Ngân hàng Quân đội (MB Bank), mang tên Nguyễn Hoàng Phú. Sau khi biết anh Giang đã chuyển tiền thành công thì C yêu cầu anh Nguyễn Hoàng Phú chuyển tiền lại vào tài khoản của Ngân hàng Sacombank, số tài khoản: 040098985494, mang tên Dương Thị N1 (tài khoản Ngân hàng này là của mẹ ruột C, nhưng do C trực tiếp sử dụng). Sau khi chiếm đoạt được số tiền trên, C không thực hiện việc giao sắt thép cho anh Giang như đã thoả thuận mà dùng số tiền đó để tiêu xài cá nhân hết, đồng thời chặn số điện thoại liên lạc với anh Giang.

Tại kết quả sao kê giao dịch xác định vào ngày 11/03//2022, tài khoản Ngân hàng Quân đội (MB Bank), số tài khoản 611699196888, mang tên Nguyễn Hoàng Phú có nhận được từ anh Hoàng Giang số tiền 30.000.000 đồng. Cùng ngày, từ tài khoản ngân hàng tên Nguyễn Hoàng Phú đã thực hiện giao dịch chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng tên Dương Thị N1 số tiền 30.000.000 đồng.

Quá trình điều tra đã thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng đã qua sử dụng, số IMEI: 359410089651291; 01 thẻ ATM ngân hàng Sacombank, tài khoản số: [...], tên tài khoản Dương Thị N1.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Hoàng Giang số tiền 30.000.000 đồng, anh Giang đã nhận đủ tiền và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại Cáo trạng số: 43/CT-VKSPL ngày 24 tháng 6 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh TTH đã truy tố bị cáo Nguyễn Bá C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung của bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Bá C từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm.

Ý kiến và lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Bá C: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo xin lỗi bị hại, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Bá C thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Bá C lợi dụng mối quan hệ làm ăn buôn bán với bị hại, đưa ra các thông tin không đúng sự thật, làm bị hại tin tưởng và chuyển số tiền 30.000.000 đồng cho bị cáo. Sau khi chiếm đoạt được tiền, bị cáo đã sử dụng tiêu xài cá nhân. Với hành vi và số tiền chiếm đoạt nêu trên, bị cáo C đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện P đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Hành vi của các bị cáo C là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo C không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Xét các căn cứ quyết định hình phạt thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Xét mức hình phạt theo đề nghị của đại diện của Viện kiểm sát là phù hợp. Xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Đối với anh Nguyễn Hoàng Phú và bà Dương Thị N1 cho bị cáo C mượn tài khoản ngân hàng của mình thực hiện các giao dịch chuyển tiền. Tuy nhiên, do anh Phú, bà N1 không biết việc bị cáo C dùng tài khoản của mình để thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng. Anh Giang không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 thẻ ATM ngân hàng Sacombank, tài khoản số: [...], tên tài khoản Dương Thị N1 là tài sản của bà Dương Thị N1 nên cần trả lại cho bà N1.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng đã qua sử dụng, số IMEI: 359410089651291, bị cáo C sử dụng làm công cụ dùng để phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 174; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá C 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Bá C cho Ủy ban nhân dân xã Tràng Sơn, huyện DL, tỉnh NA giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử: Trả lại 01 thẻ ATM ngân hàng Sacombank, tài khoản số: [...], tên tài khoản Dương Thị N1 cho bà Dương Thị N1; Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng đã qua sử dụng, số IMEI: 359410089651291.

(Các vật chứng nêu trên đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện P quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/6/2022).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử buộc bị cáo Nguyễn Bá C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND huyện P;
  • - Công an huyện P;
  • - THADS huyện P;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phan Thị Xuân Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2022/HS-ST ngày 17/08/2022 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 49/2022/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/08/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: guyễn Bá C và anh Hoàng Giang có mối quan hệ trong việc mua bán vật liệu xây dựng. C là người cung cấp vật liệu xây dựng, anh Giang là người mua. Ngày 11/03/2022, khi anh Hoàng Giang sử dụng Facebook cá nhân có tên “Hoàng Giang” nhắn tin vào trang Facebook có tên “Chuyên sắt thép xây dựng miền trung” do C quản lý để hỏi mua sắt thép xây dựng. Do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Bá C nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Giang. C đưa ra thông tin hiện tại sắt thép chuẩn bị tăng giá, nguồn hàng khan hiếm và yêu cầu anh Giang phải chuyển tiền đặt cọc 50% giá trị đơn hàng với số tiền 30.000.000 đồng để đặt hàng. Anh Giang tin tưởng và đồng ý chuyển số tiền 30.000.000 đồng cho C. C đã mượn số tài khoản của anh Nguyễn Hoàng Phú để nhận tiền chuyển khoản của anh Giang. Anh Phú cung cấp số tài khoản cho C. Anh Giang đã chuyển số tiền 30.000.000 đồng vào số tài khoản số tài khoản: 611699196888 của Ngân hàng Quân đội (MB Bank), mang tên Nguyễn Hoàng Phú. Sau khi biết anh Giang đã chuyển tiền thành công thì C yêu cầu anh Nguyễn Hoàng Phú chuyển tiền lại vào tài khoản của Ngân hàng Sacombank, số tài khoản: 040098985494, mang tên Dương Thị N1 (tài khoản Ngân hàng này là của mẹ ruột C, nhưng do C trực tiếp sử dụng). Sau khi chiếm đoạt được số tiền trên, C không thực hiện việc giao sắt thép cho anh Giang như đã thoả thuận mà dùng số tiền đó để tiêu xài cá nhân hết, đồng thời chặn số điện thoại liên lạc với anh Giang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger