|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 49/2021/DS-ST |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng
Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Huỳnh Phước
- 2. Ông Hà Văn Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Ngọc Hân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Đồ Ngọc Tuyền – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 73/2018/TLST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2018 về việc “Tranh chấp về hợp đồng đặt cọc”, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Q (có tên gọi khác là Qu), sinh năm 19xx; Địa chỉ số đường N, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà L, sinh năm 19xx; Địa chỉ đường N, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (Giấy ủy quyền ngày 19/5/2018); (có mặt)
- Các bị đơn:
- Bà B, sinh năm 19xx; Địa chỉ đường H, phường T, quận K, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
- Bà H, sinh năm 19xx; Địa chỉ đường K, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
- Ông T, sinh năm 19xx; (vắng mặt)
- Bà Th, sinh năm 19xx; (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: đường N, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng;
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn B, H, T, Th: Ông H1, sinh năm 19xx; Địa chỉ đường C3, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (Giấy ủy quyền ngày 29/6/2018); (có mặt)
5. Ông Th1, sinh năm 19xx; Địa chỉ: đường K, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông R, sinh năm 19xx; Địa chỉ đường N, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Chổ ở hiện nay: đường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 23-10-2012, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà L là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 11/8/2012, bà Q và các đồng bị đơn ký kết hợp đồng đặt cọc thỏa thuận mua bán, chuyển nhượng 03 căn nhà, công trình kiến trúc và các tài sản khác trên các thửa đất số 12, 13, 16, 17 và thửa đất số 18 cùng thuộc tờ bản đồ số 26, tọa lạc tại số 08 đường Nguyễn Chí Thanh, khóm 5, phường 6, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, tổng giá trị chuyển nhượng 12.500.000.000 đồng. Khi ký hợp đồng đặt cọc thì nguyên đơn đã giao cho ông R số tiền 2.000.000.000 đồng để đặt cọc và ông R đã giao số tiền đặt cọc cho các bị đơn nhận là 2.000.000.000 đồng và hẹn trong vòng 70 ngày sẽ xúc tiến việc ký hợp đồng chuyển nhượng. Lúc đầu do bà L trực tiếp thỏa thuận, sau đó giao cho ông R trực tiếp thỏa thuận giao dịch.
Ngoài ra, hợp đồng đặt cọc còn có các quy định như sau: Bên mua chịu toàn bộ tiền thuế thu nhập cá nhân cho bên bán; Bên mua chịu toàn bộ tiến phí công chứng hợp đồng chuyển nhượng và chi phí sang tên; Bên mua phải hổ trợ cho bên bán thêm 70.000.000 đồng lãi suất ngân hàng.
Ngay sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng thì bên mua phải giao cho bên bán 5,5 tỷ đồng, số tiền 5 tỷ còn lại phải gửi vào tài khoản ngân hàng do đại diện bên bán và bên mua đứng tên chủ tài khoản. Sau 60 ngày kể từ ngày ký hợp đồng mua bán thì bên bán tài sản bàn giao đầy đủ tài sản (03 ngôi nhà) cho bên mua, thì bên mua rút 5 tỷ đồng trả cho bên bán, toàn bộ tiền lãi phát sinh bên bán được hưởng.
Ngày 07/10/2012, ông Th1 đại diện bên bán cho bên mua biết sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng sớm hơn thời gian ấn định nên hai bên thống nhất vào ngày 09/10/2012 sẽ tiến hành ký kết hợp đồng, trước khi ký kết hợp đồng bên mua có yêu cầu những người có liên quan như vợ ông Th1, vợ ông T, chồng bà B và chồng bà H phải cùng nhau ra ký hợp đồng bán nhà đất cho nguyên đơn tại phòng công chứng. Tuy nhiên, khi bên mua lên Phòng công chứng số 1 thì được trả lời giấy tờ của bên bán chưa hợp lệ, vì chưa có mặt vợ của ông Th1, vợ ông T, chồng bà H, chồng bà B và bên bán chưa nộp đủ bản chính giấy tờ nhà đất, vì có một số tài sản chuyển nhượng còn đang thế chấp Ngân hàng nên Phòng công chứng số 1 từ chối không chứng thực hợp đồng.
Vì vậy, nguyên đơn thấy rằng việc mua bán không minh bạch, bên bán không ngay tình và tài sản mua bán có dấu hiệu tranh chấp chưa được Tòa án giải quyết. Nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 11/8/2012 giữa nguyên đơn và bị đơn đã ký kết vô hiệu; Buộc bà Th, B, H, Th1 và T phải cùng nhau trả cho nguyên đơn 2.000.000.000 đồng tiền đặt cọc. Nay rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về tiền lãi và bồi thường thiệt hại, chỉ yêu cầu các bị đơn hoàn trả 2.000.000.000 đồng tiền đặt cọc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Sự có mặt của các đương sự và người đại diện theo ủy quyền phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ tranh chấp: Đây là tranh chấp về dân sự và quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về thẩm quyền giải quyết: Thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng.
[4] Về nội dung: Xét yêu cầu tuyên bố chấm dứt hợp đồng đặt cọc ngày 11-8-2012, thấy rằng tại thời điểm các bên thỏa thuận đặt cọc, có một phần đất đang thế chấp tại Ngân hàng, một phần đất có tranh chấp, trong khi hợp đồng quy định bên bán phải đảm bảo tài sản không có tranh chấp. Do đó, các bên không ký kết hợp đồng chuyển nhượng được là lỗi do phía bị đơn. Nguyên đơn yêu cầu tuyên bố chấm dứt hiệu lực hợp đồng đặt cọc ngày 11/8/2012 và buộc các bị đơn trả tiền cọc là có cơ sở chấp nhận.
[5] Xét số tiền đặt cọc: Qua các chứng cứ và kết quả giám định tiếng nói, có căn cứ xác định số tiền đặt cọc thực tế các bị đơn nhận là 500.000.000 đồng. Việc ghi trong hợp đồng 2.000.000.000 đồng là theo thỏa thuận riêng giữa ông R và các bị đơn để hưởng chênh lệch. Do đó, chỉ chấp nhận buộc bị đơn trả lại 500.000.000 đồng.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Bộ luật Dân sự năm 2005 và năm 2015, Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Q (Qu). Buộc bị đơn bà Th, ông T, bà H, bà B và ông Th1 liên đới trả nguyên đơn bà Q (Qu) số tiền là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Q (Qu) yêu cầu bị đơn bà Th, ông T, bà H, bà B và ông Th1 liên đới trả số tiền là 1.500.000.000 đồng.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu về tiền lãi và bồi thường thiệt hại do nguyên đơn rút yêu cầu.
- Về án phí: Bị đơn ông T, bà H, bà B và ông Th1 phải liên đới nộp số tiền 19.200.000 đồng. Nguyên đơn bà Q (Qu) phải nộp số tiền 57.000.000 đồng (được khấu trừ tiền tạm ứng).
- Về chi phí tố tụng khác: Bị đơn phải nộp 1.775.000 đồng/người.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc nhận được bản án.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND TPST; - Chi cục THADS TPST; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Phan Lê Vũ Huy Hoàng |
Bản án số 49/2021/DS-ST ngày 27/05/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp về hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 49/2021/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ yêu cầu các BĐ trả số tiền cọc đã nhận
