Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ
TỈNH AN GIANG

Bản án số: 49/2020/HS-ST
Ngày 27 - 10 - 2020
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Sáu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Phước Tân;
  2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Ái.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Huynh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2020, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị U (L), sinh năm 1964 tại Châu Đốc, An Giang; ĐKHKTT và chỗ ở: Khóm CX, phường C, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Phật; con ông Nguyễn Văn L (chết) và bà Chế Thị Ô (chết); có chồng tên Đặng Văn H1 (chết) và có 03 con; con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 1995; anh, chị, em có 10 người, bị cáo là người thứ tám.

Nhân thân: Từ nhỏ sống với cha mẹ, học hết lớp 1 nghỉ học phụ giúp gia đình cho đến ngày phạm pháp.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2020 đến ngày 13/5/2020 được thay đổi biện pháp tạm giữ, tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú;

Bị cáo có mặt.

2. Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1973 tại Phú Tân, An giang; ĐKHKTT và chỗ ở: Ấp A, thị trấn AP, huyện An Phú, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; con ông Nguyễn Văn L1 (chết) và bà Phạm Thị H1 (chết); có chồng tên Nguyễn Văn Q, sinh năm 1974 và có 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2000; anh, chị em ruột có 08 người, bị cáo là người thứ bảy.

Nhân thân: Từ nhỏ sống với cha mẹ, học hết lớp 5 nghỉ học phụ giúp gia đình, sống nghề mua bán cho đến ngày phạm pháp.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2020 đến ngày 13/5/2020 được thay đổi biện pháp tạm giữ, tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú;

Bị cáo có mặt.

3. Trương Thị C, sinh năm 1968 tại An Phú, An Giang; ĐKHKTT: Ấp P, xã PH, huyện An Phú, tỉnh An Giang; chỗ ở: Ấp A, thị trấn AP, huyện An Phú, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Trương Văn H2 (chết) và bà Đinh Thị Đ, sinh năm 1947; có chồng tên Nguyễn Văn N (chết) và có 02 con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1996; chị em ruột có 03 người, bị cáo là người thứ nhất.

Nhân thân: Từ nhỏ sống với cha mẹ, học hết lớp 3 nghỉ học phụ giúp gia đình, sống nghề mua bán cho đến ngày phạm pháp.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2020 đến ngày 13/5/2020 được thay đổi biện pháp tạm giữ, tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú;

Bị cáo có mặt.

4. Nguyễn Thị H, sinh năm 1973 tại An Phú, An Giang; ĐKHKTT và chỗ ở: Ấp P, xã PH, huyện An Phú, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; con ông Nguyễn Văn H3 (chết) và bà Trần Thị M (chết); có chồng tên Bùi Văn H4, sinh năm 1973 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2013; anh, chị em ruột có 04 người, bị cáo là người thứ ba.

Nhân thân: Từ nhỏ sống với cha mẹ, học hết lớp 6 nghỉ học phụ giúp gia đình cho đến ngày phạm pháp.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2020 đến ngày 13/5/2020 được thay đổi biện pháp tạm giữ, tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú;

Bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Huỳnh Văn C1, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp T, thị trấn L, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
  2. Lý Thị Tú A, sinh năm 1958; địa chỉ: Ấp A, thị trấn AP, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
  3. Phan Bảo T2, sinh năm 1979; địa chỉ: Ấp A, thị trấn AP, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

- Người làm chứng:

  1. Trần Thị T3, sinh năm 1986;
  2. Nguyễn Thị Bé N1, sinh năm 1988;
  3. Mã Thị Ngọc T4, sinh năm 1990;
  4. Nguyễn Thị T5, sinh năm 1980;
  5. Nguyễn Thị C2, sinh năm 1982;
  6. Hồ Thị N2, sinh năm 1951.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 07/5/2020, nhận được tin báo tại khu vực tổ 7, ấp An Hưng, thị trấn An Phú, huyện An Phú có nhiều đối tượng đang đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi tài xỉu, nên lực lượng Công an tiến hành đến địa điểm trên kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thị U, Nguyễn Thị Thùy T, Nguyễn Thị H, Trương Thị C cùng tang vật, gồm:

  • Số tiền 34.878.000 (ba mươi bốn triệu tám trăm bảy mươi tám nghìn) đồng;
  • 01 tấm nhựa ghi chữ “Tài”, “Xỉu”, 01 đĩa sành, 01 nắp nhựa, 06 hột xí ngầu.
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu vàng.

Quá trình điều tra xác định: Ngày 06/5/2020, Huỳnh Văn C1 điện thoại rủ U đến tổ 7, ấp An Hưng, thị trấn An Phú, huyện An Phú tham gia đánh bạc dưới hình thức chơi tài xỉu thắng thua bằng tiền và thỏa thuận chia đôi tiền bảo. Ngày 06/5/2020 U lắc được 02 chén bảo, chia cho C1 300.000 đồng.

Khoảng 11 giờ ngày 07/5/2020, U mang theo 20.000.000 đồng cùng dụng cụ lắc tài xỉu (06 hột xí ngầu) đến địa điểm trên để tham gia đánh bạc, đến nơi thấy sòng tài xỉu đang chơi nên U nằm võng đợi. Sau đó, C1 kêu U vào làm cái lắc tài xỉu, U lấy ra 5.000.000 đồng làm vốn. Lúc này, T mang theo 3.000.000 đồng, C mang theo 992.000 đồng, H mang theo 1.114.000 đồng (tiền của H 814.000 đồng và 300.000 đồng của Nguyễn Thị C2 trả nợ cho H) đến sòng tài xỉu do U thủ cái tham gia đặt cược. Trong lúc chơi, Phan Bảo T2 làm vĩ chung chi tiền cho U được 01 ván thì U không cho T2 làm vĩ nữa, U tự mình chung chi với các con bạc. Lý Thị Tú A mang theo 40.000 đồng tham gia đặt cược 03 ván, mỗi ván 10.000 đồng (thua 02 ván, thắng 01 ván) thì nghỉ không tham gia đặt cược nữa, nhưng vẫn ngồi tại khu vực sòng bạc để xem, còn T tham gia đặt cược mỗi ván 30.000 đồng, C đặt cược mỗi ván 100.000 đồng, H đặt cược mỗi ván 50.000 đồng. Chơi đến khoảng 13 giờ cùng ngày, thì Công an đến bắt quả tang U, T, H và C cùng với số tiền trên chiếu bạc 15.622.000 đồng, thu trong bóp vải của U 15.000.000 đồng và 06 hột xí ngầu, thu trên người C 792.000 đồng, thu trên người T 2.500.000 đồng, thu trên người H 964.000 đồng, thu trên người Lý Thị Tú A 30.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung: Xét thấy lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của những người tham gia tố tụng khác; phù hợp với nội dung Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang ngày 07/5/2020. Có cơ sở xác định: Khoảng 13 giờ ngày 07/5/2020, các bị cáo đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 34.878.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị U (L), Nguyễn Thị Thùy T, Nguyễn Thị H, Trương Thị C đồng phạm tội: “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

2.1 Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị U (Liên) 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ 06 (sáu) ngày (từ ngày 07/5/2020 đến 13/5/2020).

2.2 Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy T 12 (mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ nhưng được khấu trừ 06 (sáu) ngày bị tạm giữ. Thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ còn lại của bị cáo T là 11 (mười một) tháng 12 (mười hai) ngày.

2.3 Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ nhưng được khấu trừ 06 (sáu) ngày bị tạm giữ. Thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ còn lại của bị cáo H là 08 (tám) tháng 12 (mười hai) ngày.

2.4 Xử phạt bị cáo Trương Thị C 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ nhưng được khấu trừ 06 (sáu) ngày bị tạm giữ. Thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ còn lại của bị cáo C là 08 (tám) tháng 12 (mười hai) ngày.

Nơi nhận:
- VKSND tỉnh An Giang (1);
- TAND tỉnh An Giang (1);
- Sở Tư pháp tỉnh An Giang (1);
- VKSND huyện An Phú(1);
- NTG Công an huyện An Phú (1);
- THADS huyện An Phú (1);
- Bộ phận THAHS Tòa án (4);
- UBND cấp xã nơi b/c cư trú (4);
- Bị cáo (4);
- Người liên quan (3);
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu văn phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Văn Sáu
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2020/HS-ST ngày 27/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang về đánh bạc

  • Số bản án: 49/2020/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/10/2020
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 07/5/2020 Công an huyện An Phú bắt quả tang Nguyễn Thị Út, Trương Thị Cám, Nguyễn Thị Hưởng, Nguyễn Thị Thùy Trang đánh bạc được thua bằng tiền. Số tiền thu được tại chiếu bạc là 34.878.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger