|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 489/2024/DS-PT Ngày: 29/8/2024 “V/v tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất, hợp đồng dân sự về tặng cho QSD đất, đòi lại QSD đất.” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Kiều Kim Xuân;
Các Thẩm phán: Ông Sỹ Danh Đạt;
Ông Phạm Minh Tùng.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thái Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 370/2024/TLPT- DS, ngày 17 tháng 7 năm 2024, về “Tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất, hợp đồng dân sự về chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đòi lại quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 41/2024/DS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 508/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 545/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh C, sinh năm 1952;
Địa chỉ: Số D, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà C:
-
Ông Cao Minh T, sinh năm 1970;
Địa chỉ: Khóm S, phường T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
-
Chị Đặng Thị Thúy V, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Số D, T, Khóm B, Phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
(Hợp đồng ủy quyền ngày 09/11/2023).
-
Ông Cao Minh T, sinh năm 1970;
-
Bị đơn: Anh Trần Ngọc T1, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Số A, L, Khóm D, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh T1: Anh Võ Thiên P, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Số C, T, Khóm A, Phường A, thành phố S, Đồng Tháp.
(Hợp đồng ủy quyền 14/8/2024).
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trần Thị Xuân T2, sinh năm 1976;
-
Chị Trần Thị Bích T3, sinh năm 1987;
Cùng địa chỉ: Số D, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của chị T2 và chị T3:
-
Ông Cao Minh T, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Khóm S, phường T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
-
Chị Đặng Thị Thúy V, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Số D, Trần Văn V1, Khóm B, Phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
(Hợp đồng ủy quyền ngày 09/11/2023).
-
Ông Cao Minh T, sinh năm 1970.
- Bà Huỳnh Thị M, sinh năm 1957;
- Anh Trần Minh H, sinh năm 1981;
- Chị Trần Phương T4, sinh năm 1983;
- Anh Trần Minh T5, sinh năm 1988;
- Chị Mai Thị H1, sinh năm 1988;
- Anh Trần Minh N, sinh năm 1990;
Cùng địa chỉ: Số D, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- Phòng C3 tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn P1, Chức vụ: Trưởng phòng.
Địa chỉ: Số D, Nguyễn Sinh S, Khóm E, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- Anh Cao Hoàng D, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Chị Võ Thị Kiều T6, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Cùng nơi ở hiện nay: Số D, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Anh Trần Ngọc T1, là bị đơn.
(Tại phiên tòa, có mặt chị V, anh P; vắng mặt ông T (có đơn xin vắng mặt), vắng mặt bà M, anh H, chị T4, anh T5, chị H1, anh N, anh D, chị T6, đại diện Phòng C3).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh C là chị Đặng Thị Thúy V trình bày:
Thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp do anh Trần Ngọc T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt QSD đất) có nguồn gốc của cụ Huỳnh Thị T7 sử dụng từ trước năm 1975. Qua thời gian sử dụng, cụ T7 kê khai và được UBND thị xã S (nay là thành phố S) cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 23/02/2000 cho Hộ bà Huỳnh Thị T7 thửa đất 683a, tờ bản đồ số 1A, diện tích 3.242m². Sau khi làm thủ tục xin cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất, Hộ Huỳnh Thị T7 được cấp thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37, diện tích 251,9m², loại đất trồng cây lâu năm ngày 22/6/2006.
Thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37, trước đây vào năm 1987 cụ T7 có cho vợ chồng con trai là ông Trần Xuân C1 và bà Trần Thị Thanh C cất nhà ra ở riêng cùng với các con ông C1, bà C (chị Trần Thị Xuân T2 và chị Trần Thị Bích T3). Từ khi ở trên đất, ban đầu bà C, ông C1 cất nhà vách ván, nền gạch tàu, mái lá để ở sinh sống. Sau đó có xây dựng lại nhà cấp 4 khung bê tông cốt thép, tường xây gạch, máy tôn, nền gạch men như hiện nay, toàn bộ thửa đất số 27 do phía bà C quản lý, sử dụng từ năm 1987 đến nay.
Sau khi được cấp giấy chứng nhận QSD đất vào ngày 22/6/2006 thì đến ngày 03/7/2006 cụ T7 và các thành viên trong hộ gồm ông Trần Minh H2, bà Kiến Thị N1, anh Trần Hùng Phi H3 đã lập văn bản “Thỏa thuận về việc cho đất đai” để ông C1 được cấp giấy chứng nhận QSD đất, nhưng do một số điều kiện về thủ tục nên cơ quan thẩm quyền chưa cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông C1.
Đối với việc anh T1 được Ủy ban nhân dân thành phố S cấp giấy chứng nhận QSD đất thửa đất 27 ngày 11/9/2015 theo Hợp đồng tặng cho xác lập ngày 17/8/2015 giữa cụ Huỳnh Thị T7 cùng với các thành viên trong hộ (Huỳnh Thị M, Trần Minh H, Trần Phương T4, Trần Minh T5, Mai Thị H1, Trần Kim P2) là không có thật, bởi vì:
- Do ông Trần Văn Q (là con rể của cụ T7) cho rằng con của bà C là chị T2 thiếu nợ anh T1 (con của ông Q) nên ông Q nói với cụ T7 ký hợp đồng tặng cho đất để chuyển cho T1 được đứng tên giấy chứng nhận QSD đất thửa đất 27 của gia đình ông C1, bà C đến khi nào chị T2 về trả nợ cho anh T1 thì anh T1 làm thủ tục chuyển trả lại quyền sử dụng đất cho gia đình bà C (sự việc này được chứng minh qua Biên bản hòa giải thành của Ban N4 ngày 17/11/2015 trong đó có ghi ý kiến của ông Q như trên). Nhưng trên thực tế chị T2 không có nợ tiền anh T1 mà chỉ là lý do ông Quốc t đưa ra. Trong khi đó, đến thời điểm ngày 17/11/2015 tại buổi hòa giải giữa ông Q, cụ T7, bà C thì ý chí của cụ T7 cũng đã thể hiện rõ việc cụ T7 cho đất vợ chồng ông C1, bà Cát qua ý kiến “con trai tôi chết rồi, tôi để đất đó lại cho con dâu tôi”.
-
Ngoài ra, trong thời gian từ trước ngày 18/02/2014 đến tháng 11/2015 đã có nhiều biến động nhằm mục đích giả tạo để chuyển quyền sử dụng đất từ cụ T7 qua anh T1 không đúng quy định, thể hiện qua các sự kiện sau:
- + Từ thời điểm cấp đất lần đầu đến trước năm 2014 cụ T7 ở trong hộ số D, ấp P, xã T, thành phố S với các thành viên trong hộ gồm có: cụ T7, ông H2, bà N1, anh H3.
- + Tháng 02/2014 cụ T7 chuyển hộ khẩu từ hộ 429, ấp P, xã T sang hộ số D, ấp P, xã T do bà Huỳnh Thị M làm chủ hộ.
- + Ngày 12/5/2015 cụ T7 có đơn báo mất giấy chứng nhận QSD đất.
- + Ngày 11/8/2015 cụ T7 được cấp lại giấy chứng nhận QSD đất mới.
- + Ngày 17/8/2015 cụ T7 và những người trong hộ số 428 đã lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thửa 27 cho anh T1.
- + Ngày 11/9/2015 anh T1 được Ủy ban nhân dân thành phố S cấp giấy chứng nhận QSD đất.
- + Ngày 23/11/2015 cụ T7 chuyển hộ khẩu về số nhà D.
Từ năm 2023, bà C có cho anh Cao Hoàng D, chị Võ Thị Kiều T6 ở nhờ trong căn nhà trên thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37.
Nay bà C yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa hộ bà Huỳnh Thị T7 với anh Trần Ngọc T1 do Phòng C3 tỉnh Đồng Tháp công chứng ngày 17/8/2015, thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37 vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, giả tạo và lừa dối. Yêu cầu Tòa án kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố S thu hồi giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã cấp cho anh Trần Ngọc T1 ngày 11/9/2015, thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37. Yêu cầu công nhận cho bà C và chị T2, chị T3 được quyền sử dụng thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37, đo đạc thực tế các mốc M1-M2-M3-M4-M1, diện tích 232,8m², theo Mảnh trích đo địa chính số 114-2018, bổ sung xác nhận ngày 03/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S. Yêu cầu bà C, chị T2, chị T3 đứng tên chung quyền sử dụng đất thửa đất 27; bà C, chị T2, chị T3 đồng ý nộp toàn bộ các loại phí, thuế khi được cấp giấy chứng nhận QSD đất.
Đối với yêu cầu phản tố của anh T1: Yêu cầu bà C, chị T2, chị T3, anh D, chị T6 di dời nhà chính, nhà phụ, tài sản, cây trồng... trả lại cho anh T1 thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37 thì bà C không đồng ý.
Ngoài ra, bà C không có yêu cầu gì khác.
Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn anh Trần Ngọc T1 trình bày:
Anh T1 là cháu ngoại cụ T7, ông C1 là con ruột cụ T7, bà C là vợ ông C1, chị T2 và chị T3 là con ruột ông C1, bà C. Thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37 có nguồn gốc trước đây là của cụ Huỳnh Thị T7. Anh T1 không biết bà C và ông C1 sử dụng thửa đất số 27 từ thời gian nào, anh T1 chỉ nhớ vào khoảng năm 1990 đã thấy có căn nhà bà C, ông C1 trên thửa đất số 27. Lúc đó nhà có kết cấu nền gạch tàu, vách ván, mái ngói và bà C, ông C1, chị T2, chị T3 cùng sinh sống ở đó. Cụ T7 nói với anh T1 là cụ T7 cho gia đình bà C, ông C1 ở tạm chứ không có cho luôn phần đất thửa đất 27 cho bà C, ông C1. Trong quá trình sử dụng thì phía ông C1, bà C có sửa chữa, mở rộng nhà trên đất như hiện nay.
Thửa đất số 27 cụ T7 được cấp giấy chứng nhận QSD đất lần đầu vào thời gian nào thì anh T1 không biết. Đến ngày 11/8/2015, Hộ Huỳnh Thị T7 được cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất thửa đất số 27. Đến ngày 17/8/2015, hộ cụ T7, trong đó có cụ T7, bà M, anh H, chị T4, anh T5, chị H1, ông P2 lập hợp đồng tặng cho toàn bộ thửa đất 27 cho anh T1. Đến ngày 11/9/2015 anh T1 được cấp giấy chứng nhận QSD đất thửa đất 27 đến nay.
Thời điểm anh T1 được tặng cho thửa đất 27 thì bà C là người trực tiếp ở trong căn nhà trên đất, còn chị T2, chị T3 không thường xuyên ở đây. Từ năm 2018 thì bà C, chị T3, chị T2 không ở trong nhà trên thửa đất 27 nữa mà bà C cho những người khác ở. Hiện nay có anh Cao Hoàng D và chị Võ Thị Kiều T6 đang ở trong nhà này. Khi anh T1 đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất thửa đất số 27, anh T1 nghĩ là để cho bà C ở trên thửa đất số 27 đến hết đời bà C, nên năm 2018 anh T1 có nộp đơn khởi kiện yêu cầu bà C di dời nhà, giao thửa đất số 27 cho anh T1, nhưng sau đó rút đơn khởi kiện nên Tòa án đình chỉ vụ án.
Nay anh T1 không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà C, do Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thửa đất 27, tờ bản đồ số 37 giữa H4 cụ Huỳnh Thị T7 với anh T1 được Phòng Công chứng Số B tỉnh Đồng Tháp công chứng ngày 17/8/2015 là hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
Anh T1 yêu cầu bà C, chị T2, chị T3, anh D và chị T6 di dời nhà, tài sản đi nơi khác trả lại cho anh T1 thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37, đo đạc thực tế thể hiện tại các mốc M1-M2-M3-M4-M1, diện tích 232,8m², theo Mảnh trích đo địa chính số 114-2018, bổ sung xác nhận ngày 26/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S. Tại phiên tòa, anh T1 đồng ý trả giá trị nhà, cây trồng trên đất cho phía bà C theo giá của Hội đồng định giá. Hiện bản chính giấy chứng nhận QSD đất thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37 anh T1 đang giữ, không có thế chấp để vay tiền tại tổ chức hay cá nhân nào.
Ngoài ra, anh T1 không có yêu cầu gì khác.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Xuân T2, chị Trần Thị Bích T3 là chị Đặng Thị Thúy V trình bày:
Chị T2, chị T3 thống nhất với toàn bộ lời trình bày, ý kiến, yêu cầu của bà C. Ngoài ra, chị T2, chị T3 không có yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị M, anh Trần Minh H, chị Trần Phương T4, anh Trần Minh T5, chị Mai Thị H1, anh Trần Minh N có đơn yêu cầu giải quyết vụ kiện vắng mặt, có văn bản trình bày ý kiến:
Thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37 tọa lạc ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp có nguồn gốc là của cụ Huỳnh Thị T7. Ngày 17/8/2015, ông P2, bà M, anh H, chị T4, anh T5, chị H1 là thành viên trong hộ có ký Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa H4 cụ Huỳnh Thị T7 cho anh Trần Ngọc T1 thửa đất 27, tờ bản đồ số 37 (đất là của cụ T7, nhưng cấp cho hộ nên thành viên trong hộ ký hợp đồng tặng cho). Việc thành viên trong hộ ký hợp đồng tặng cho thửa đất số 27 cho anh T1 là đúng quy định pháp luật. Ông P2, Bà M, anh H, chị T4, anh T5, chị H1, anh N không có tranh chấp, không có yêu cầu gì trong vụ án, kể cả trường hợp Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 17/8/2015 vô hiệu.
Người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phòng C3 tỉnh Đồng Tháp là ông Nguyễn Văn P1 có đơn yêu cầu giải quyết vụ kiện vắng mặt, có văn bản trình bày ý kiến:
Ngày 17/8/2015, Phòng C3 tỉnh Đồng Tháp có công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 5601, quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD giữa cụ Huỳnh Thị T7 cùng thành viên trong hộ là Huỳnh Thị M, Trần Minh H, Trần Phương T4, Trần Minh T5, Mai Thị H1, Trần Kim P2 với anh Trần Ngọc T1. Việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là đúng quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Cao Hoàng D, chị Võ Thị Kiều T6 có đơn yêu cầu giải quyết vụ kiện vắng mặt, có văn bản trình bày ý kiến:
Vào năm 2023, bà C, chị T2, chị T3 có cho anh D, chị T6 ở để quản lý trông coi căn nhà số D, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp trên thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37. Anh Dũng, chị T6 không có tranh chấp, không có yêu cầu gì trong vụ án. Mọi kết quả giải quyết của Tòa án anh D, chị T6 sẽ chấp hành theo quy định.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 41/2024/DS-ST ngày 04/6/2024, Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc đã tuyên xử:
“1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh C, không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Trần Ngọc T1.
2. Tuyên bố Hợp đồng tặng cho QSDĐ thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37 giữa hộ cụ Huỳnh Thị T7 cùng các thành viên trong hộ là bà Huỳnh Thị M, anh Trần Minh H, chị Trần Phương T4, anh Trần Minh T5, chị Mai Thị H1, ông Trần Kim P2 với anh Trần Ngọc T1 được Phòng C3 tỉnh Đồng Tháp công chứng ngày 17/8/2015 vô hiệu.
Bà Trần Thị Thanh C và chị Trần Thị Xuân T2, chị Trần Thị Bích T3 được quyền sử dụng đất diện tích 232,8m², thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37, đo đạc thực tế các mốc M1-M2-M3-M4-M1; đất tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, theo Mảnh trích đo địa chính số 114-2018, bổ sung xác nhận ngày 03/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.
(Có Mảnh trích đo địa chính số 114-2018, bổ sung xác nhận ngày 03/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S kèm theo).
Cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37 số bìa CA 847139, số vào sổ cấp GCN CH08218 do UBND thành phố S cấp ngày 11/9/2015 cho anh Trần Ngọc T1 cấp lại cho bà Trần Thị Thanh C, chị Trần Thị Xuân T2, chị Trần Thị Bích T3 diện tích nêu trên theo quy định.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để được điều chỉnh, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật, chi phí, lệ phí, các loại thuế bà Trần Thị Thanh C và chị Trần Thị Xuân T2, chị Trần Thị Bích T3 chịu.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Ngọc T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh T1 đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003808 ngày 04/12/2023 (Anh T1 đã nộp xong).
Miễn toàn bộ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho bà Trần Thị Thanh C, do bà C là người cao tuổi và có đơn yêu cầu miễn nộp.
4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Buộc anh Trần Ngọc T1 phải trả cho bà Trần Thị Thanh C 600.000 đồng.”
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo, thời hạn yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 17/6/2024, bị đơn anh Trần Ngọc T1 kháng cáo toàn bộ bản án, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm: Sửa toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số: 41/2024/DS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2024 theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của anh T1: Yêu cầu bà C, chị T2, chị T3, anh D và chị T6 di dời nhà, tài sản đi nơi khác trả lại cho anh T1 thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37, đo đạc thực tế diện tích 232,8m², đất tọa lạc tại xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Đồng thời không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà C.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Anh Võ Thiên P, đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo: Yêu cầu bà C, chị T2, chị T3, anh D và chị T6 di dời nhà, tài sản đi nơi khác trả lại cho anh T1 thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37, đo đạc thực tế diện tích 232,8m², anh T1 đồng ý trả giá trị tài sản theo biên bản định giá cho bà C số tiền 72.216.000 đồng.
Anh P trình bày: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 17/8/2015 giữa Hộ cụ Huỳnh Thị T7 với anh Trần Ngọc T1 đối với thửa đất 27, tờ bản đồ 37, diện tích 251,9m², đo đạc thực tế 232,8m², đất tọa lạc tại xã T, thành phố S được công chứng là phù hợp quy định của pháp luật. Pháp luật không quy định người cao tuổi khi lập hợp đồng tặng cho tài sản phải có giám định sức khỏe. Cụ T7 có lăn tay trong hợp đồng, có người làm chứng, hợp đồng thể hiện cụ T7 có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tinh thần sáng suốt, minh mẫn, ý chí tặng cho QSD đất cho anh T1. Anh T1 đứng tên giấy chứng nhận QSD đất trên cơ sở hợp đồng tặng cho hợp pháp, nên anh T1 được quyền đòi lại tài sản là QSD đất đã được cụ T7 tặng cho. Đối với chứng cứ do nguyên đơn cung cấp: “Thỏa thuận cho đất đai” ngày 03/7/2006 không phải là văn bản tặng cho tài sản của cụ T7 và người trong hộ cho con trai là ông Trần Xuân C1 (chồng bà C), hình thức tờ thỏa thuận không đúng quy định của pháp luật, chỉ có xác nhận của Ban nhân dân ấp là không đảm bảo. Sau đó, ông C1 không xin cấp giấy chứng nhận QSD đất. Khi ông C1 chết (2010) bà C và các con không xin cấp giấy chứng nhận QSD đất. Việc ông C1 giữ giấy chứng nhận QSD đất của cụ T7, sau đó, cụ T7 phải làm cớ mất giấy chứng nhận QSD đất chứng tỏ “Thỏa thuận cho đất đai” ngày 03/7/2006 không đúng ý chí của cụ T7. Biên bản hòa giải ngày 17/11/2015 của Ban N4 không có anh T1 tham gia, anh T1 không có ủy quyền cho cha là ông Trần Văn Q tham gia hòa giải về tiền vay của con bà C (T2) và ông Q. Phần đất cụ T7 có ý kiến “con trai tôi chết rồi, tôi để đất đó lại cho con dâu tôi” là phần đất khác ở C, không phải là thửa 27 đang tranh chấp. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Biên bản này làm cơ sở nhận định giải quyết vụ án là chưa khách quan. Đối với nhận định: Gia đình bà C ở ổn định lâu dài, anh T1 được tặng cho nhưng chưa sử dụng đất mà cho rằng hợp đồng tặng cho QSD đất giữa Hộ cụ T7 với anh T1 vô hiệu là chưa có căn cứ thuyết phục. Mặt khác, thực tế từ 2018, gia đình bà C không còn ở trên đất, đã di dời bàn thờ ông C1 đi, nên bà C không sử dụng đất liên tục, không có nhu cầu sử dụng đất. Ngoài ra, nguyên đơn không có chứng cứ chứng minh cụ T7 cho ông C1, bà C ở trên đất từ 1987. Về lời khai của người làm chứng (ông Trần Tấn N2, ông Trần Phước L) chỉ trình bày là “nhớ”, “biết” và mâu thuẫn với lời khai bà Kiến Thị N1, ông Trần Kim P2 nhưng không được đối chất, nên cũng không có căn cứ chấp nhận. Do đó, từ các căn cứ trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu phản tố của anh T1, không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà C.
Đại diện nguyên đơn chị V trình bày: Hợp đồng tặng cho QSD đất ngày 17/8/2015 giữa H4 cụ T7 với anh T1 là không có thật, có dấu hiệu giả tạo, lừa dối như phân tích trong phần trình bày của nguyên đơn. Kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến (Có bài phát biểu kèm theo):
- Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký phiên tòa cũng như các đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Phần đất tranh chấp diện tích 232,8m², thuộc thửa đất 27, tờ bản đồ 37, hiện do anh Trần Ngọc T1 đứng tên có nguồn gốc của cụ Huỳnh Thị T7 đã cho vợ chồng con trai là Trần Xuân C1, con dâu Trần Thị Ngọc C2 cất nhà ở từ 1987, đến nay là trên 30 năm. Năm 2006, cụ T7 cùng người trong hộ là thỏa thuận tặng cho ông C1. Ngày 17/8/2015, cụ T7 cùng người trong Hộ làm hợp đồng tặng cho anh Trần Ngọc T1, trong khi còn căn nhà bà C2 trên đất nhưng không có ý kiến bà C2. Việc tặng cho đất của H4 cụ T7 cho anh T1 ảnh hưởng quyền lợi của bà C2 và các con. Án sơ thẩm tuyên Hợp đồng tặng cho QSD đất ngày 17/8/2025 vô hiệu là phù hợp. Anh T1 kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh cho kháng cáo là có căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của anh T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt ông Cao Minh T, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Xuân T2, Trần Thị Bích T3 (có đơn xin vắng mặt), vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Huỳnh Thị M, anh Trần Minh H, chị Trần Phương T4, anh Trần Minh T5, chị Mai Thị H1, anh Trân Minh N3, anh Cao Hoàng D, chị Võ Thị Kiều T6, đại diện Phòng C3 tỉnh Đồng Tháp. Xét thấy, sự vắng mặt của các đương sự trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn anh Trần Ngọc T1: Cho rằng Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa H4 cụ Huỳnh Thị T7 và anh Trần Ngọc T1 đối với thửa đất 27, tờ bản đồ số 37, diện tích 251,9m² (đo đạc thực tế 232,8m²) đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại xã T, thành phố S được Phòng Công chứng số 2 tỉnh Đồng Tháp công chứng ngày 17/8/2015 là hợp pháp, đúng quy định pháp luật. Anh T1 yêu cầu bà Trần Thị Thanh C, chị Trần Thị Xuân T2, chị Trần Thị Bích T3, anh Cao Hoàng D và chị Võ Thị Kiều T6 di dời nhà, tài sản đi nơi khác trả lại cho anh T1 thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37, đo đạc thực tế các mốc M1-M2-M3-M4-M1, diện tích 232,8m², theo Mảnh trích đo địa chính số 114-2018, bổ sung xác nhận ngày 26/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S. Anh T1 đồng ý trả giá trị nhà trên đất cho phía bà C theo giá của Hội đồng định giá: Nhà chính: 41.151.000 đồng, nhà phụ: 31.065.000 đồng, tổng cộng: 72.216.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về nguồn gốc đất: Qua xem xét tài liệu, chứng cứ, trình bày của hai bên đương sự thống nhất: Nguồn gốc đất của cụ Huỳnh Thị T7 sử dụng từ trước năm 1975, do mẹ của cụ T7 để lại từ 1945 (bút lục 32). Qua thời gian sử dụng, cụ T7 kê khai và được Ủy ban nhân dân thị xã S (nay là thành phố S) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/02/2000 cho H4 bà Huỳnh Thị T7 tổng diện tích 3.642m² (gồm thửa đất 683a, tờ bản đồ số 1A, diện tích 3.242m², đất Q, thửa 683b, tờ bản đồ 1A, diện tích 400m², đất T (bút lục 27). Năm 2006, cụ T7 xin cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất theo bản đồ chính quy có tọa độ, điều chỉnh diện tích thửa 683a, tờ bản đồ số 1A, diện tích 3.242m² giảm còn 2.504,1m² (nguyên nhân giảm do kê khai ban đầu không chính xác). Cụ T7 được cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất các thửa sau (bút lục 33):
- Thừa 26, tờ bản đồ 37, diện tích 1.975m², đất CLN;
- Thừa 27, tờ bản đồ 37, diện tích 251,9m², đất CLN;
- Thừa 29, tờ bản đồ 37, diện tích 277,2m², đất CLN;
- Thừa 36, tờ bản đồ 37, diện tích 400m², đất ONT.
Thửa đất các bên đang tranh chấp là thửa 27, tờ bản đồ 37, diện tích 251,9m², đất CLN; giấy chứng nhận QSD đất do Ủy ban nhân dân thị xã S (nay là thành phố S) cấp cho Hộ Huỳnh Thị T7 ngày 22/6/2006, số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSD đất số H-00360.
[2.2] Quá trình sử dụng đất: Nguyên đơn trình bày: Năm 1987, cụ T7 cho vợ chồng ông Trần Xuân C1 và bà Trần Thị Thanh C phần đất để cất nhà ở. Qua nhiều lần sửa chữa, năm 2002, ông C1, bà C xây dựng nhà kiên cố, khung bê tông cốt thép, tường xây gạch, nền gạch men như hiện nay. Từ 1987 đến nay không ai tranh chấp.
[2.3] Sau khi cụ T7 cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất, đã tặng cho con trai Trần Xuân C1 thửa đất 27, tờ bản đồ 37 diện tích 251,9m², tại giấy chứng nhận QSD đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSD đất số H-00360 cấp ngày 22/6/2006, thể hiện tại “Thỏa thuận cho đất đai” ngày 03/7/2006 (bút lục 12). Tuy văn bản “Thỏa thuận cho đất đai” không đúng hình thức của hợp đồng tặng cho QSD đất nhưng đã thể hiện ý chí của cụ T7 cho đất ông C1, phù hợp lời khai của người làm chứng là ông Trần Thanh S1, Trưởng ấp P, bà Kiến Thị N1, là con dâu của cụ T7, chung Hộ cụ T7 thời điểm 2006. Ngoài ra, ông Trần Tấn N2, Trần Phước L là em ruột của ông Trần Xuân C1 (chồng bà Trần Thị Thanh C) cũng xác định cụ T7 cho đất ông C1 ở từ 1987 (bút lục 194, 195).
[2.4] Ngoài ra, tại Biên bản hòa giải ngày 17/11/2015 của Ban N4 (về việc quyền sử dụng đất của cha mẹ mà người khác đứng chủ quyền), cụ T7 tiếp tục trình bày việc cho đất ông C1, bà C: “Con trai tôi chết rồi, tôi để đất đó lại cho con dâu tôi” (bút lục 246). Nguyên nhân có Biên bản hòa giải ngày 17/11/2015, theo ông Q trình bày tại Biên bản lấy lời khai đối chất ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc (bút lục 205) là do anh T1 (con ông) vay tiền dùm con của bà C (T2), ông Q vay tiền Ngân hàng trả nợ thay anh T1, nên khiếu nại bà C đến Ban N4 để đòi nợ. Ngoài ra, thời điểm này, bà Trần Thị Thanh C phát hiện phần đất được cụ T7 cho từ 1987, đang có căn nhà của bà C, cụ T7 đã sang tên cho cháu ngoại là anh Trần Ngọc T1 đứng tên nên cũng có đơn khiếu nại (bút lục 245). Trong Biên bản này, ông Trần Văn Q, là cha ruột anh T1 trình bày: “Con gái của anh Trần Xuân C1 (T2) có mượn của con tôi (T1) 96.000.000 đồng nhưng nay con anh C1 đi rồi nên số đất mà mẹ tôi (cụ T7) cho anh C1 tạm thời con trai tôi đứng tên trên sổ đỏ, khi nào con anh C1 (Trần Thị Xuân T2) về trả tiền thì sổ đỏ sẽ trả lại cho phía anh C1”. Tình tiết này chứng minh việc cụ T7 cùng người trong Hộ tặng cho quyền sử dụng đất thửa 27 cho anh T1 theo Hợp đồng tặng cho QSD đất ngày 17/8/2015 chỉ là giả tạo, không có thật. Phần đất đề cập trong Biên bản hòa giải ngày 17/11/2015 của Ban N4 là thửa đất 27, tờ bản đồ 37 có căn nhà bà C đang ở, không phải đất ở T như ông Q trình bày.
[2.5] Mặt khác, tại Biên bản lấy lời khai của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc đối với anh T1 ngày 30/11/2023, anh T1 xác định thời điểm anh T1 được cụ T7 và thành viên trong Hộ tặng cho quyền sử dụng đất, thì bà C là người trực tiếp ở trong căn nhà trên đất. Anh T1 nghĩ là để cho bà C ở đến hết đời, nên năm 2018, anh T1 có nộp đơn kiện yêu cầu bà C di dời nhà giao đất nhưng sau đó anh T1 rút kiện nên Tòa án đình chỉ vụ án (bút lục 205). Tại Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 04/6/2024, anh T1 khai do mẹ anh T1 nói “nhà của thím ở đó thì cho thím ở đi” nên anh T1 rút kiện. Ngoài ra, anh T1 cũng xác định những người trong Hộ cụ T7, cùng ký tên tặng cho QSD đất cho anh T1 (bà M, anh H, chị T4, anh T5, chị H1, ông P2) hoàn toàn không có ở chung cụ T7. Những tình tiết này chứng minh việc anh T1 được đứng tên QSD đất trên cơ sở hợp đồng tặng cho QSD đất giả tạo, để làm áp lực cho gia đình bà C, chị T2 trả nợ cho anh T1 (ông Q), không phải ý chí tự nguyện của cụ T7 cho đất cháu ngoại là anh T1.
[2.6] Từ những phân tích, nhận định trên, xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tuyên vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 17/8/2015 giữa cụ Huỳnh Thị T7 và các thành viên trong Hộ với anh Trần Ngọc T1 đối với thửa đất số 27, tờ bản đồ 37; chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh C và chị Trần Thị Xuân T2, chị Trần Thị Bích T3 được quyền sử dụng đất diện tích qua đo đạc thực tế là 232,8m², thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37; Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh T1 về việc yêu cầu gia đình bà C di dời tài sản trả lại đất cho anh T1 là có căn cứ. Anh T1 kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới chứng minh cho kháng cáo là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận đơn kháng cáo của anh T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 41/2024/DS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc. Tuy nhiên, cần điều chỉnh cách tuyên án cho khoa học, dễ thi hành.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên anh T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là phù hợp có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Các phần khác của bản án không kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
[6] Đối với việc anh T1 cho chị T2 vay tiền, ông Q vay Ngân hàng trả nợ dùm anh T1, ông Q, anh T1 không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 308, Điều 148, Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn anh Trần Ngọc T1.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 41/2024/DS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc.
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 157, 165, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 117, 122, 166, 192, 500, 501, 502 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 100, 166, 167 và 203 của Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 12, 14, 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh C.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn anh Trần Ngọc T1.
- Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 17/8/2015 giữa Hộ bà Huỳnh Thị T7 cùng các thành viên trong hộ là bà Huỳnh Thị M, anh Trần Minh H, chị Trần Phương T4, anh Trần Minh T5, chị Mai Thị H1, ông Trần Kim P2 với anh Trần Ngọc T1 đối với thừa đất 27, tờ bản đồ 37, diện tích 251,9m² đất trồng cây lâu năm, tọa lạc ấp P, xã T, thành phố S, được Phòng Công chứng Số B tỉnh Đồng Tháp công chứng ngày 17/8/2015, vô hiệu.
-
Bà Trần Thị Thanh C và chị Trần Thị Xuân T2, chị Trần Thị Bích T3 được quyền sử dụng đất diện tích đất qua đo đạc thực tế là 232,8m², thuộc thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37, đất tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, thể hiện tại các mốc M1-M2-M3-M4-M1 theo Mảnh trích đo địa chính số 114-2018, bổ sung xác nhận ngày 03/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.
(Có Mảnh trích đo địa chính số 114-2018, bổ sung xác nhận ngày 03/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, kèm theo).
-
Cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số 27, tờ bản đồ số 37 số bìa CA 847139, số vào sổ cấp GCN CH08218 do UBND thành phố S cấp ngày 11/9/2015 cho anh Trần Ngọc T1 để cấp lại cho bà Trần Thị Thanh C, chị Trần Thị Xuân T2, chị Trần Thị Bích T3 diện tích nêu trên theo quy định.
Các đương sự được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký, điều chỉnh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Các chi phí, lệ phí, các loại thuế bà Trần Thị Thanh C và chị Trần Thị Xuân T2, chị Trần Thị Bích T3 phải chịu (nếu có).
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Anh Trần Ngọc T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh T1 đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003808 ngày 04/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc (Anh T1 đã nộp xong).
- Miễn toàn bộ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho bà Trần Thị Thanh C, do bà C là người cao tuổi và có đơn yêu cầu miễn nộp.
- Về chi phí tố tụng khác: Tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 600.000 đồng, anh T1 phải chịu. Do bà Trần Thị Thanh C đã tạm nộp và chi xong. Buộc anh Trần Ngọc T1 nộp lại để hoàn trả cho bà Trần Thị Thanh C 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng).
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng anh T1 đã nộp ngày 17/6/2024 theo biên lai số 0004244 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc, được khấu trừ vào án phí phúc thẩm phải nộp (Anh T1 đã nộp án phí phúc thẩm xong).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các phần khác của bản án không kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Kiều Kim Xuân |
Bản án số 489/2024/DS-PT ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất, hợp đồng dân sự về tặng cho qsd đất, đòi lại qsd đất
- Số bản án: 489/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất, hợp đồng dân sự về tặng cho QSD đất, đòi lại QSD đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Thanh C - Trần Ngọc T1
