TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 489/2023/HS-ST
Ngày: 28 - 11 - 2023.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Gái.
- Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Khải – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 459/2023/HSST ngày 27 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 514/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Huỳnh Thái D, tên gọi khác: Cu cắc, sinh năm: 1992, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 188/12/8 T, Khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 188/12/8 T, Khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 01/12; nghề nghiệp: Không; con ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị N (©); bị cáo là con thứ 2 trong gia đình có 3 chị em; chưa có vợ con; tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 04/9/2020, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 07/5/2022. Ngày 14/12/2019 chấp hành xong nghĩa vụ án phí.
Nhân thân: Ngày 25/6/2009, Ủy ban nhân dân quận T quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 24 tháng. Ngày 13/7/2016, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng.
Ngày 15/01/2013, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Chấp hành xong án phạt tù ngày 09/9/2013, chấp hành xong nghĩa vụ án phí ngày 03/4/2013). Ngày 25/8/2014, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong án phạt tù ngày 23/10/2015, chấp hành xong nghĩa vụ án phí ngày 27/01/2015).
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/4/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Tuấn K, tên gọi khác: B, sinh năm: 1992, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A K, Khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Nhà không số, Đường A, Tổ C, Khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Đinh Thế P, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1973; bị cáo là con đầu trong gia đình có 02 anh em; chưa có vợ con; tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 18/7/2016, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 11/02/2018, chưa đóng tiền sung công quỹ nhà nước và tiền bồi thường.
Nhân thân: Ngày 23/10/2018, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/4/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
1. Chị Nguyễn Thị Mai V, sinh năm 1991.
Địa chỉ: 1 Đường B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
2. Chị Nguyễn Ngọc Trúc P1, sinh năm 2004.
Địa chỉ: 1 đường L, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
3. Anh Võ Hồng Q, sinh năm 1983.
Địa chỉ: 3 Đường A, Khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 24/4/2023, Huỳnh Thái D nhắn tin và gọi điện thoại cho Nguyễn Tuấn K rủ đi trộm cắp tài sản thì K đồng ý. D mượn xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số: 59X2 - 499.40 của ông Huỳnh Văn H (là bố ruột của D) nói đi mua đồ thì ông H đồng ý. Trước khi đi D mang theo một biển số xe 83C1 - 168.90 mà K đưa trước đó. Trên đường đi, D dừng xe lại tháo biển số 59X2 - 499.40 và gắn biển số 83C1 – 168.90 vào rồi chạy đến nhà K. Tại nhà K, D giao xe cho K điều khiển chở D chạy lòng vòng qua nhiều tuyến đường để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến trước nhà số I, Đường H, khu phố B, phường L, thành phố T thì D phát hiện xe mô tô hiệu Honda SH 150i, màu đỏ, biển số: 59H1 - 199.91 của anh Võ Hồng Q đang đậu bên đường không người trông coi, trên ổ khóa còn cắm chìa khóa nên cả hai dừng lại. Kiệt ngồi trên xe cảnh giới còn D đi đến dắt xe rồi lên xe nổ máy tẩu thoát. Cả hai chạy xe về gần nhà của D thì đổi xe cho nhau rồi K chạy xe vừa lấy trộm đến chân cầu vượt G, phường T, thành phố T để bán xe. Trên đường đi thì K bị Tổ tuần tra Đội Cảnh sát H1, Công an thành phố T phát hiện truy đuổi đến đường số E, phường L, thành phố T thì bắt giữ được K.
Tại Công an phường L, thành phố T K khai nhận cùng Huỳnh Thái D thực hiện hành vi lấy trộm xe mô tô hiệu Honda SH, màu đỏ, biển số: 59H1 - 199.91 nên Công an thành phố T đến kiểm tra hành chính nhà D tại địa chỉ 1 T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện trên sàn nhà chỗ D đang nằm có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và nhiều dụng cụ để mở khóa xe máy. D khai tinh thể không màu là ma túy đá để sử dụng nên đã đưa D về Công an phường L và lập biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng và đồ vật.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Huỳnh Thái D và Nguyễn Tuấn K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên đồng thời khai nhận đã thực hiện thêm 02 vụ trộm cắp tài sản khác trước đó, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 02/4/2023, Nguyễn Tuấn K chở Huỳnh Thái D bằng xe mô tô Honda Vision màu trắng không rõ biển số do D mượn của một người bạn xã hội tên “Beo” đến trước cửa hàng G địa chỉ B D, phường T, thành phố T thì phát hiện xe mô tô Honda Vision màu trắng, biển số 77C1-310.49 của chị Nguyễn Thị Mai V (Địa chỉ: 1 Đường B, phường P, thành phố T), không có người trông coi nên cả hai thống nhất cùng thực hiện việc chiếm đoạt. Kiệt ngồi trên xe mô tô Honda Vision màu trắng cảnh giới còn D lại gần xe mô tô của chị V dùng đoản chuẩn bị từ trước mở khóa rồi tẩu thoát. Sau đó, cả hai bán xe mô tô trên cho một người đàn ông tên Bi L tại cầu vượt ngã tư Bình Phước, phường H, thành phố T được 7.000.000 đồng rồi cả hai chia đôi tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 03/4/2023, Nguyễn Tuấn K chở Huỳnh Thái D bằng xe mô tô Honda Vision màu trắng không rõ biển số do D mượn của một người bạn xã hội tên “Beo” đến trước nhà số F, đường H, khu phố A, phường L, thành phố T thì phát hiện xe mô tô hiệu Honda Vario, màu xám đen, biển số 66G1 – 753.21 của chị Nguyễn Ngọc Trúc P1 (địa chỉ: 1 L, Khu phố D, phường L, thành phố T), không có người trông coi nên cả hai thống nhất cùng thực hiện việc chiếm đoạt. Kiệt ngồi trên xe mô tô Honda Vision màu trắng cảnh giới còn D lại gần xe mô tô của chị P1 dùng đoản chuẩn bị từ trước mở khóa rồi tẩu thoát. Sau đó, cả hai bán xe mô tô trên cho một người đàn ông tên Bi L tại cầu vượt ngã tư Bình Phước, phường H, thành phố T được 8.000.000 đồng rồi cả hai chia đôi tiêu xài cá nhân hết.
Kết luận định giá tài sản số 160-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 27/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda SH 150 màu đỏ, biển số 59H1-199.91, số khung: 08A06F07684, số máy: 0056300KT có giá trị vào thời điểm ngày 24/4/2023 là 41.667.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 65-KV2/KL-HĐĐGTS ngày 17/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu trắng, biển số 77C1-310.49, số khung: 5805EY067934, số máy: JF58E0068023 có giá trị vào thời điểm ngày 02/4/2023 là 18.267.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 144-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 17/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Vario màu xám đen, biển số 66G1-573.21, số khung: 5110KK356088, số máy: JM51E1355339, có giá trị vào thời điểm ngày 03/4/2023 là 28.000.000 đồng.
Kết luận giám định số 4220/KL-KTHS ngày 28/4/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Huỳnh Thái D và hình dấu Công an phường L, Thành phố T (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2327g, loại Methamphetamine.
* Vật chứng và đồ vật thu giữ:
- 03 USB ghi lại hình ảnh quá trình Huỳnh Thái D và Nguyễn Tuấn K thực hiện 03 vụ trộm;
- Thu giữ của Huỳnh Thái D:
- + Mẫu vật còn lại sau khi đã phục vụ giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên, cán bộ điều tra và Huỳnh Thái D là tinh thể không màu (m1) có khối lượng 0,1842 g;
- + 01 bộ sử dụng ma túy đá bằng chai nhựa;
- + 01 bật lửa màu vàng;
- + 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh, 01 đầu được vuốt nhọn;
- + 13 chìa khóa bằng kim loại;
- + 04 dụng cụ tự chế bằng kim loại dùng để bẻ khóa;
- + 07 thanh kim loại hình lục giác; 01 đầu được mài nhọn;
- + 02 thanh kim loại hình chữ T;
- + 01 thanh kim loại hình trụ tròn, 02 đầu rỗng hình lục giác;
- + 01 thanh dũa bằng kim loại;
- + 01 thanh kim loại hình trụ vuông được bọc băng dính màu đen;
- + 01 thanh kim loại hình trụ tròn, 02 đầu được mài nhọn;
- + 01 thanh nhựa hình tròn màu cam, 01 đầu gắn vòng kim loại;
- + 01 cần mở ốc vít bằng kim loại hình chữ L;
- + 01 áo sơ mi dài tay màu trắng;
- + 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng gắn thẻ sim;
- + 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu vàng gắn thẻ sim;
- + 01 (một) biển số 83C1 – 168.90 (đã qua sử dụng). Kết quả điều tra biển số xe có số nêu trên là xe mô tô hiệu Suzuki Hayate, số máy F4E4133047, số khung RLSCF4EE0D0107964 do anh Nguyễn Văn T1 là chủ sở hữu. Anh T1 vẫn sử dụng biển số xe trên, không bị mất và không cho ai mượn.
- + 01 (một) xe mô tô hiệu Honda SH, màu đỏ, biển số: 59H1 - 199.91. Kết quả điều tra, đã trả lại cho ông Võ Hoàng Q1 là chủ sở hữu hợp pháp.
- + 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số: 59X2 – 499.40. Kết quả điều tra xác định ông Huỳnh Văn H là bố ruột của Huỳnh Thái D là chủ sở hữu. Ông H không biết D sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông H.
-Thu giữ của Nguyễn Tuấn K: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, có gắn sim.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Võ Hồng X đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường; chị Nguyễn Thị Trúc P2 yêu cầu bồi thường 28.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị Mai V yêu cầu bồi thường 18.267.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 430/CT-VKSTPTĐ ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Tuấn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Huỳnh Thái D về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 173 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2023.
- - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Thái D từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả 02 tội là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2023.
- - Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý với kết luận giám định, kết luận định giá, thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, đồng ý bồi thường giá trị 02 chiếc xe đã chiếm đoạt cho bị hại. Các bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo đã biết lỗi của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.
[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, kết luận định giá, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Vào các ngày 02/4/2023 tại B D, Khu phố C, phường T, thành phố T; ngày 03/4/2023 tại F Đường H, Khu phố A, phường L, thành phố T và ngày 24/4/2023, tại I Đường số H, Khu phố B, phường L, thành phố T, Huỳnh Thái D và Nguyễn Tuấn K đã lần lượt thực hiện trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị Mai V (01 xe mô tô hiệu Vision, màu trắng biển số 77C1-310.49, có giá trị 18.267.000 đồng), Nguyễn Ngọc Trúc P1 (01 xe mô tô hiệu Honda Vario, màu xám đen, biển số 66G1-753.21, có giá trị 28.000.000 đồng) và Võ Hồng Q (01 xe mô tô hiệu Honda SH 150, màu đỏ, biển số 59H1-199.91, có giá trị 41.667.000 đồng). Tổng giá trị tài sản Huỳnh Thái D và Nguyễn Tuấn K chiếm đoạt trong 03 vụ trộm trên là: 87.934.000 đồng. Ngoài ra, ngày 24/4/2023, tại địa chỉ 188/12/8 T, Khu phố C, phường L, thành phố Hồ Chí Minh, Huỳnh Thái D có hành vi tàng trữ 0,2327 gam, loại methamphetamine với mục đích sử dụng.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng lười lao động lại nghiện ma túy nên đã các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi. Hành vi của các bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Huỳnh Thái D còn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành của tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với đối tượng tên Bi L do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục truy xét xử lý sau.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
- - Tổng tài sản các bị cáo chiếm đoạt có giá trị 87.934.000 đồng nên thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- - Khối lượng ma túy bị cáo D tàng trữ là 0,2327 gam nên thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng:
- - Cả hại bị cáo 03 lần thực hiện hành vi phạm tội, đều đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do lỗi cố ý thuộc trường hợp “Tái phạm” nên bị áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Vụ án có đồng phạm nhưng giản đơn, các bị cáo đều là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo K phạm tội nhiều lần và thuộc trường hợp tái phạm, có nhân thân xấu; bị cáo D phạm 02 tội, phạm tội nhiều lần và thuộc trường hợp tái phạm, có nhân thân xấu nên cần phải xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo Huỳnh Thái D: Xét đây là chất ma túy Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng gắn thẻ sim; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu vàng gắn thẻ sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, có gắn sim: Đây là phương tiện các bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- - Đối với 01 bộ sử dụng ma túy đá bằng chai nhựa; 01 bật lửa màu vàng; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh, 01 đầu được vuốt nhọn; 13 chìa khóa bằng kim loại; 04 dụng cụ tự chế bằng kim loại dùng để bẻ khóa; 07 thanh kim loại hình lục giác; 01 đầu được mài nhọn; 02 thanh kim loại hình chữ T; 01 thanh kim loại hình trụ tròn, 02 đầu rỗng hình lục giác; 01 thanh dũa bằng kim loại; 01 thanh kim loại hình trụ vuông được bọc băng dính màu đen; 01 thanh kim loại hình trụ tròn, 02 đầu được mài nhọn; 01 thanh nhựa hình tròn màu cam, 01 đầu gắn vòng kim loại; 01 cần mở ốc vít bằng kim loại hình chữ L; 01 áo sơ mi dài tay màu trắng; 01 biển số 83C1 – 168.90 (đã qua sử dụng): Xét đây là tang vật của vụ án, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 03 USB ghi lại hình ảnh quá trình các bị cáo thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản là dữ liệu điện tử chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
- - Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda SH, màu đỏ, biển số: 59H1 - 199.91 đã trả lại cho ông Võ Hoàng Q1 là chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
- - Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số: 59X2 – 499.40. Kết quả điều tra xác định ông Huỳnh Văn H là bố ruột của Huỳnh Thái D là chủ sở hữu. Ông H không biết D sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông H là có căn cứ.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý bồi thường giá trị chiếc xe mà các bị cáo đã chiếm đoạt cho chị Nguyễn Thị Trúc P2 số tiền 28.000.000 đồng và chị Nguyễn Thị Mai V số tiền 18.267.000 đồng, mỗi bị cáo chịu trách nhiệm bồi thường 50% giá trị mỗi chiếc xe nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7] Về án phí:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thái D phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
- - Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K: 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2023.
- - Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Thái D: 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả 02 tội là 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2023.
- Về trách nhiệm dân sự:
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + Mẫu vật còn lại sau khi đã phục vụ giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên, cán bộ điều tra và Huỳnh Thái D là tinh thể không màu (m1) có khối lượng 0,1842g;
- + 01 bộ sử dụng ma túy đá bằng chai nhựa;
- + 01 bật lửa màu vàng;
- + 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh, 01 đầu được vuốt nhọn;
- + 13 chìa khóa bằng kim loại;
- + 04 dụng cụ tự chế bằng kim loại dùng để bẻ khóa;
- + 07 thanh kim loại hình lục giác; 01 đầu được mài nhọn;
- + 02 thanh kim loại hình chữ T;
- + 01 thanh kim loại hình trụ tròn, 02 đầu rỗng hình lục giác;
- + 01 thanh dũa bằng kim loại;
- + 01 thanh kim loại hình trụ vuông được bọc băng dính màu đen;
- + 01 thanh kim loại hình trụ tròn, 02 đầu được mài nhọn;
- + 01 thanh nhựa hình tròn màu cam, 01 đầu gắn vòng kim loại;
- + 01 cần mở ốc vít bằng kim loại hình chữ L;
- + 01 áo sơ mi dài tay màu trắng;
- + 01 (một) biển số 83C1 – 168.90 (đã qua sử dụng).
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- + 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng gắn thẻ sim;
- + 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu vàng gắn thẻ sim.
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, có gắn sim.
- Về án phí:
- - Buộc các bị cáo, mỗi bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.156.675 (một triệu, một trăm năm mươi sáu nghìn, sáu trăm bảy mươi lăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
- - Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- - Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Buộc các bị cáo liên đới bồi thường cho chị Nguyễn Thị Trúc P2 số tiền 28.000.000 (hai mươi tám triệu) đồng, mỗi bị cáo chịu trách nhiệm bồi thường cho chị P2 số tiền 14.000.000 (mười bốn triệu) đồng; liên đới bồi thường cho chị Nguyễn Thị Mai V số tiền 18.267.000 (mười tám triệu, hai trăm sáu mươi bảy nghìn) đồng, mỗi bị cáo chịu trách nhiệm bồi thường cho chị V số tiền 9.133.500 (chín triệu, một trăm ba mươi ba nghìn, năm trăm) đồng.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 179/QĐ-VKSTPTĐ ngày 21/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Phiếu nhập kho số NK24/042C ngày 14/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Ngọc |
Bản án số 489/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 489/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thái D và đồng bọn phạm tội "Trộm cắp tài sản"
