Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Số: 489/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 28/11/2023.

V/v: Xin ly hôn.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

--------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thúy Anh;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vương Đình Quang;
  2. Bà Trần Thị Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên toà: Ông Lê Hoàng Đăng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 424/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc “Xin ly hôn” – theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 199/2023/QĐXX-ST ngày 03/11/2023; Quyết định hoãn phiên toà số 192/2023/QĐHPT ngày 20/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thanh H, sinh năm 1986.

Bị đơn: Anh Lưu Thế A, sinh năm 1984.

Cùng đăng ký HKTT và cư trú tại: P, phường T, quận N, thành phố H.

Anh chị đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại bản tự khai, chị H trình bày: Tôi và anh Lưu Thế A kết hôn năm năm 2015 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký tại UBND phường T, quận N, thành phố H. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Thế A có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác. Tôi và anh Thế A nhiều lần cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung. Tôi đã chuyển ra ngoài thuê nhà sống từ cuối tháng 5/2023. Nay tôi xác định không còn tình cảm với anh Thế A. Đề nghị Toà án cho tôi được ly hôn với anh Thế A.

Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là cháu Lưu Tuấn M, sinh ngày 07/02/2016. Ly hôn tôi đồng ý để anh Thế A nuôi cháu M. Về cấp dưỡng nuôi con, tôi đề nghị được thoả thuận với anh Thế A. Hiện nay tôi làm ở Công ty C. Địa chỉ: Số P, quận C, thành phố H. Thu nhập hàng tháng của tôi khoảng 20.000.000 đồng. Hiện nay tôi đang thuê nhà tại địa chỉ: phường Y, quận C, thành phố H.

Về tài sản chung, vay nợ chung: Chúng tôi tự thoả thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai, anh Thế A trình bày: Tôi và chị Phạm Thị Thanh H kết hôn năm năm 2015 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký tại UBND phường T, quận N, thành phố H. Quá trình chung sống, tôi công nhận vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Tôi thừa nhận có quan hệ với người phụ nữ khac nhưng cũng đã dừng lại mối quan hệ này. Nay chị H chuyển ra ngoài ở từ cuối tháng 5/2023. Sau khi chị H chuyển ra ngoài ở, tôi có gọi điện và nhắn tin cho chị H để khuyên chị H quay về đoàn tụ nhưng chị H không đồng ý. Tôi xác định còn tình cảm với chị H và mong muốn chị H quay về. Nay chị H có đơn xin ly hôn, tôi không đồng ý ly hôn với chị H.

Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là cháu Lưu Tuấn M, sinh ngày 07/02/2016. Hiện nay cháu đang ở cùng tôi. Tôi có nguyện vọng xin được nuôi cháu M và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay tôi đang làm tại Công ty CP C1. Địa chỉ: số G, phường P, quận Đ, thành phố H. Thu nhập hàng tháng của tôi khoảng 40 triệu đồng. Hiện nay tôi đang ở nhà của tôi tại địa chỉ: P, tòa nhà C, Chung cư C, TDP số F, phường T, quận N, thành phố H.

Về tài sản chung, vay nợ chung: Chúng tôi tự thoả thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn – chị H trình bày: Tôi giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Thế A. Về con chung: Tôi đồng ý để anh Thế A nuôi cháu M. Về cấp dưỡng nuôi con, tôi đề nghị được thoả thuận với anh Thế A. Về tài sản chung, vay nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Bị đơn – anh Thế A giữ nguyên quan điểm không đồng ý ly hôn với chị H vì anh vẫn còn tình cảm với chị H nhưng không còn biện pháp gì để cải thiện quan hệ vợ chồng. Về con chung: Anh xin được nuôi cháu M để ổn định cho cuộc sống của cháu và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, vay nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm phát biểu ý kiến:

Việc thụ lý, giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX tại phiên tòa sơ thẩm cũng như việc chấp hành pháp luật của các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H với anh Thế A. Về con chung: Giao cháu M cho anh Thế A trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của chị H. Về tài sản chung, vay nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn yêu cầu và các tài liệu chứng cứ kèm theo của chị Phạm Thị Thanh H đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị H yêu cầu xin ly hôn với anh Lưu Thế A có địa chỉ: TDP P, quận N, thành phố H là đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu “Xin ly hôn” của chị H đối với anh Thế A, Hội đồng xét xử thấy:

Chị H và anh Thế A kết hôn với nhau năm 2015 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký tại UBND phường T, quận N, thành phố H. Hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Theo chị H trình bày: Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Thế A có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác. Chị và anh Thế A nhiều lần cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung. Chị đã chuyển ra ngoài thuê nhà sống từ cuối tháng 5/2023. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh Thế A và vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn.

Anh Thế A thừa nhận anh có quan hệ ngoại tình tuy nhiên anh đã hối hận và quay về sửa chữa sai lầm. Anh có công nhận vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Chị H chuyển ra ngoài ở từ cuối tháng 5/2023. Sau khi chị H chuyển ra ngoài ở, anh có biện pháp để cải thiện quan hệ vợ chồng như có gọi điện và nhắn tin cho chị H để khuyên chị H quay về đoàn tụ nhưng chị H không đồng ý. Anh xác định còn tình cảm với chị H và không đồng ý ly hôn với chị H.

Toà án tiến hành xác minh mâu thuẫn vợ chồng của anh chị tại TDP P, phường T, quận N, thành phố H, thể hiện: hiện nay hai anh chị không còn sống chung. Về mâu thuẫn gia đình của anh chị, TDP không nắm được. Về phía gia đình chị H là ông Phạm Công B và bà Phạm Thị Đ (bố mẹ đẻ chị H) có trình bày: xác nhận anh Thế A và chị H có xảy ra mâu thuẫn vợ chồng, hiện không

còn chung sống với nhau và biết việc chị H có nguyện vọng xin được ly hôn anh Thế A.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn và hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”.

Xét mâu thuẫn giữa chị H và anh Thế A, HĐXX nhận thấy: Cả chị H và anh Thế A đều xác định vợ chồng anh chị có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung và do lỗi của anh Thế A. Anh chị đã ly thân từ tháng 5/2022. Anh Thế A đã có những biện pháp để cải thiện quan hệ vợ chồng tuy nhiên không có kết quả. Chị H không còn tình cảm với anh Thế A. Xét thấy mâu thuẫn anh chị đã đến mức độ trầm trọng, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị H đề nghị được ly hôn với anh Thế A là có căn cứ, cần được chấp nhận.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Lưu Tuấn M, sinh ngày 07/02/2016. Anh chị đã thỏa thuận: anh Thế A là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con cho cháu M. Xét thấy: anh Thế A có thu nhập và chỗ ở ổn định. Hiện cháu M đang ở cùng với anh Thế A. Việc thỏa thuận của chị H và anh Thế A là không trái với quy định của pháp luật, không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của cháu M cần được ghi nhận,

Về tài sản chung, vay nợ chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bác các yêu cầu khác của đương sự.

[3] Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • - Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình;
  • - Khoản 4, Điều 147; khoản 3, Điều 228 và các Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu “Xin ly hôn” của chị Phạm Thị Thanh H đối với anh Lưu Thế A. Cho chị H ly hôn với anh Thế A.
  2. Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Lưu Tuấn M, sinh ngày 07/02/2016. Giao cháu M cho anh Thế A trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của chị H cho đến khi anh Thế A có yêu cầu hoặc có sự thoả thuận khác.
  3. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.

  4. Tài sản chung, vay nợ chung: Anh chị tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
  5. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009011 ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm. Chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Chị H và anh Thế A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hà Nội;
  • - VKS Q. Nam Từ Liêm;
  • - Chi cục THADS Q. Nam Từ Liêm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - UBND phường Tây Mỗ, quận Nam
  • Từ Liêm, Hà Nội (Số 47/2015);
  • - Lưu văn phòng.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Đỗ Thúy Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 489/2023/HNGĐ-ST ngày 28/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hôn nhân gia đình (xin ly hôn)

  • Số bản án: 489/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hôn nhân gia đình (Xin ly hôn)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Thanh H và Lưu Thế A thuận tình ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger