|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 489/2024/DS-PT Ngày 12 - 12 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất và thuê quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Trung
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trọng Quế
Ông Đỗ Cao Khánh
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuý Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 399/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất và thuê quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 270/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 314/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Trần Thị B, sinh năm 1957.
- Ông Châu Văn K, sinh năm 1956.
Địa chỉ cư trú: Khóm G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp của ông K: Bà Trần Thị B, sinh năm 1957; địa chỉ cư trú: Ấp I, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Theo văn bản uỷ quyền ngày 01 tháng 7 năm 2024, có mặt).
- Bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1963 (có mặt).
- Ông Trần Việt H, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp D, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Đ là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Trần Thị B, ông Châu Văn K thống nhất trình bày:
Ngày 08 tháng 3 năm 2015 âm lịch, bà Nguyễn Thị Đ và ông Trần Việt H có cầm cố cho ông bà một phần đất có diện tích là 06 công tầm lớn đất ruộng tọa lạc tại ấp D, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau với số vàng 20 chỉ vàng 24K, thời hạn cầm cố là 02 năm kể từ ngày xác lập hợp đồng. Sau khi nhận cầm cố xong, ông bà và bị đơn có thỏa thuận cho bị đơn thuê lại toàn bộ phần diện tích đất nêu trên với giá thuê lại trả tiền hàng năm, việc thỏa thuận cầm cố được các bên lập thành giấy viết tay có chữ ký của các bên. Từ thời điểm thuê đến nay, bị đơn đã chủ động thanh toán được 03 năm tiền thuê tính đến ngày 21 tháng 01 năm 2020 âm lịch là 36.000.000 đồng, sau đó không thanh toán nghĩa vụ cho đến nay. Yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng cầm cố vô hiệu và bị đơn có trách nhiệm trả cho ông bà số tiền đã nhận là 20 chỉ vàng 24K và tiền thuê đất tính đến thời điểm giải quyết vụ án là 25.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bà B xác định yêu cầu tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất vô hiệu, buộc bị đơn trả số vàng đã nhận là 20 chỉ vàng 24K, không yêu cầu trả tiền thuê đất.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Bà có nhận của nguyên đơn vàng cố đất 2 cây vàng 24k. Mỗi năm bà đóng lúa cho nguyên đơn 100 giạ. Từ năm 2020, bà chỉ trả được 7.000.000 đồng tiền thuê đất, còn thiếu lại tiền thuê đất từ năm 2020 đến nay. Bà chưa trả 2 cây vàng 24K. Nay, bà yêu cầu đối trừ tiền thuê đất mà bà đã thanh toán vào 20 chỉ vàng 24K; còn lại bao nhiêu, bà đồng ý trả nguyên đơn.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 270/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời quyết định:
Tuyên xử:
- Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị B, ông Châu Văn K với bà Nguyễn Thị Đ, ông Trần Việt H được lập ngày 03 tháng 3 năm 2015 là vô hiệu.
- Buộc bà Nguyễn Thị Đ, ông Trần Việt H có trách nhiệm trả lại cho bà Trần Thị B, ông Châu Văn K số vàng là 20 chỉ vàng 24K.
- Đình chỉ xét xử yêu cầu trả tiền thuê đất là 25.000.000 đồng của bà Trần Thị B, ông Châu Văn K.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 12/9/2024, bà Nguyễn Thị Đ có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Yêu cầu đối trừ tiền thuê đất vào số vàng vốn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị Đ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ tranh luận: Không tranh luận.
- Nguyên đơn bà Trần Thị B tranh luận: Bà không có nhận 44.100.000 đồng mà chỉ có nhận 34.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Đ. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 270/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Đ, Hội đồng xét xử nhận định:
- Bà Nguyễn Thị Đ thống nhất có nhận 20 chỉ vàng 24K, nhưng bà Đ cho rằng đã đóng lãi 44.100.000 đồng nên bà Đ yêu cầu đối trừ số tiền này vào vốn gốc 20 chỉ vàng 24K, còn lại bao nhiêu bà Đ đồng ý trả.
- Xét thấy, tại “Tờ giao kèo cố đất” ngày 03 tháng 3 năm 2015 (al), có nội dung: Bà Đ, ông H có cố cho ông K, bà B 6 công đất ruộng với giá 2 lượng vàng 24K; ông K cho bà Đ, ông H cho thuê lại 6 công đất với giá 100 giạ lúa/năm. Tại Biên bản hòa giải ngày 08 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, bà Đ cũng thừa nhận giữa bà Đ với bà B, ông K có hợp đồng cố đất và thuê đất. Như vậy hợp đồng giữa các đương sự là cầm cố quyền sử dụng đất. Do đó, bà Đ cho rằng vay 20 chỉ vàng 24K và trả lãi là không có căn cứ. Án sơ thẩm tuyên hợp đồng cố đất vô hiệu là có căn cứ.
- Khi nhận cầm cố đất, bà B đã cho bà Đ thuê lại với giá 100 giạ lúa/năm. Tuy hợp đồng cố đất là vô hiệu nhưng theo quy định tại khoản 3 Điều 131 Bộ luật dân sự thì hoa lợi, lợi tức phát sinh không phải trả lại khi ngay tình nên không buộc bà B phải trả cho bà Đ1 số lúa thuê đất được quy thành tiền đã nhận.
- Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Đ. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 270/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có điều chỉnh cách tuyên án để dễ thi hành án.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Đ là người cao tuổi và có yêu cầu xin miễn nộp nên được miễn nộp theo quy định pháp luật.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Đ.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 270/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị B, ông Châu Văn K với bà Nguyễn Thị Đ, ông Trần Việt H được lập ngày 03 tháng 3 năm 2015 là vô hiệu.
- Đình chỉ xét xử yêu cầu trả tiền thuê đất là 25.000.000 đồng của bà Trần Thị B, ông Châu Văn K.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Việt H phải nộp 3.900.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Đ được miễn nộp.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Đ được miễn nộp.
Buộc bà Nguyễn Thị Đ, ông Trần Việt H có trách nhiệm trả lại cho bà Trần Thị B, ông Châu Văn K số vàng là 20 chỉ vàng 24K.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Trung |
Bản án số 489/2024/DS-PT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất và thuê quyền sử dụng đất
- Số bản án: 489/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất và thuê quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà B xác định yêu cầu tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất vô hiệu, buộc bị đơn trả số vàng đã nhận là 20 chỉ vàng 24K, không yêu cầu trả tiền thuê đất.
