|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 489/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 11 - 2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Mai Khanh
2. Ông Trần Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến – Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Không tham gia phiên toà.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 431/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 457/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1983; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: thôn P, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Chỗ ở hiện nay: Tầng A, số I, ngõ F, đoạn 2, đường T, khóm A, phường B, thành phố N, huyện N, Đài Loan.
Vắng mặt (có đề nghị xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Công ty L và cộng sự; Địa chỉ: số B, ngõ D, D, phường M, quận C, thành phố Hà Nội; (Ủy quyền nhận, giao nộp văn bản, tài liệu) (Công ty L và cộng sự phân công ông Nguyễn Việt H1, sinh năm: 2000; Địa chỉ: thôn T, xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh thực hiện công việc giao nhận tài liệu, chứng cứ, các văn bản tố tụng).
- Bị đơn: Anh Hồ Văn N, sinh năm 1982; Địa chỉ: xóm E (nay là xóm D), xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị Q, sinh năm 1957; địa chỉ: thôn P, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt (có đề nghị xét xử vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 12/09/2024, Bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:
-
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hồ Văn N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 072/2008 ngày 29/09/2008. Sau khi kết hôn, thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau một thời gian chung sống do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hoà hợp nên vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến tình cảm rạn nứt và sống ly thân. Năm 2013, chị H đi xuất khẩu lao động tại đất nước Đài Loan, do khoảng cách địa lý xa xôi, vợ chồng không quan tâm gì đến nhau cả về vật chất lẫn tinh thần, mâu thuẫn càng trở nên trầm trọng, cuộc sống vợ chồng bế tắc. Hiện nay xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, và cả hai đã ly thân nhiều năm, nên chị H yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với anh Hồ Văn N.
-
- Về con chung: Chị và anh Hồ Văn N có 01 con chung là cháu: Hồ Quốc V, sinh ngày 01/08/2009. Hiện nay, cháu Hồ Quốc V đang ở cùng bà ngoại là bà Phan Thị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay ly hôn, chị H đề nghị Toà án giao cháu Hồ Quốc V cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Trong thời gian chị H lao động, làm việc ở nước ngoài, thì bà ngoại là bà Phan Thị Q sẽ tạm thời thay chị H chăm sóc, nuôi dưỡng cháu để không làm ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt và học tập của cháu. Chị H đề nghị giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
-
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đồng thời, do điều kiện công việc và địa lý nên chị không thể đi lại để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm và các buổi hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ nên chị đề nghị Toà án xem xét giải quyết vắng mặt. Các văn bản tống đạt của Tòa án kính đề nghị Toà án tống đạt cho người đại diện theo uỷ quyền của chị là Công ty L và cộng sự.
Tại Bản tự khai ngày 08/11/2024, Biên bản lấy lời khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là anh Hồ Văn N trình bày:
-
- Về quan hệ hôn nhân: Anh N và chị Phạm Thị H kết hôn và chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 29/09/2008 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, hoà thuận, quan tâm chăm sóc nhau. Đến năm 2014, chị H đưa con về nhà ngoại sinh sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, sống ly thân. Đến khoảng năm 2014, 2015, chị Phạm Thị H đi xuất khẩu lao động tại đất nước Đài Loan, từ đó, vợ chồng xa cách, không còn quan tâm tới nhau cả về vật chất lẫn tinh thần, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nhận thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên anh N đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị H, đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn với chị H.
-
- Về con chung: Anh N và chị Phạm Thị H có 01 con chung là cháu Hồ Quốc V, sinh ngày 01/08/2009. Theo anh N, từ năm 2014, khi mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, chị H đã đưa cháu V cùng về nhà ngoại sinh sống tại thôn P, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Hiện nay, cháu V đang được bà ngoại là bà Phan Thị Q nuôi dưỡng, và đang sinh sống, học tập tại xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Nay ly hôn, anh N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V, và không đề nghị chị H phải cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, trong trường hợp Toà án giao cháu V cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống học tập của cháu thì anh N đồng ý. Về nghĩa vụ cấp dưỡng, anh N đồng ý cấp dưỡng cho cháu V 1.000.000 đồng (một triệu đồng) mỗi tháng.
-
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Như không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại Đơn trình bày ý kiến ngày 12/11/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phan Thị Q trình bày: Chị Phạm Thị H (sinh ngày 01/09/1983) là con gái của bà, có đăng ký kết hôn với anh Hồ Văn N và được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2008. Năm 2011, do điều kiện kinh tế khó khăn, nên chị H đã xuất khẩu lao động sang đất nước Đài Loan. Từ khi chị H sang Đài Loan, tình cảm vợ chồng chị H và anh N nảy sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn, và đã ly thân nhiều năm. Vợ chồng chị H - anh N có 01 con chung là cháu Hồ Quốc V (sinh ngày 01/08/2009), đang sinh sống cùng bà tại thôn P, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình, tính đến nay đã được hơn 10 năm. Bà Q không yêu cầu vợ chồng con gái (chị H - anh N) phải thanh toán tiền nuôi dưỡng cháu những năm qua. Khi ly hôn, chị Phạm Thị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con, và do chị H đang lao động tại nước ngoài nên bà Q đồng ý thay con gái tạm thời chăm sóc cháu Hồ Quốc V cho đến khi chị H trở về Việt Nam. Bà Q không yêu cầu con gái là chị H phải cấp dưỡng trong thời gian nuôi cháu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 12 tháng 9 năm 2024, chị Phạm Thị H có đơn khởi kiện gửi tới Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Hồ Văn N. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì anh N có nơi cư trú tại xóm E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; còn chị H trước khi xuất cảnh có địa chỉ cư trú tại thôn P, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình nhưng đã đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan từ năm 2013 cho đến nay nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Quá trình giải quyết vụ án, chị Phạm Thị H không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài, xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Đồng thời, do trong vụ án ly hôn này, Tòa án không tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị H:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: cuộc hôn nhân giữa chị Phạm Thị H và anh Hồ Văn N được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hoà thuận và đã có một người con chung nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, sau khi chị H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan thì do khoảng cách địa lý xa xôi nên tình trạng vợ chồng càng trở nên trầm trọng, vợ chồng không quan tâm lẫn nhau cả về đời sống vật chất và tinh thần. Tại các bản tự khai, chị H và anh N đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên thống nhất giải quyết ly hôn. Hội đồng xét thấy, thời gian vợ chồng chung sống với nhau là chưa dài nhưng đã phát sinh mâu thuẫn một thời gian mà cả hai bên đương sự đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, đều yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị H yêu cầu giải quyết ly hôn và anh N đồng ý ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 55 Luật Hôn nhân - Gia đình nên ghi nhận sự thuận tình ly hôn này của hai anh chị.
[2.2] Về quan hệ con chung: Tại các bản tự khai, chị H và anh N đều trình bày vợ chồng có một con chung là: cháu Hồ Quốc V, sinh ngày 01/8/2009. Nay ly hôn, chị H và anh N đều có nguyện vọng được nuôi con chung. Xét thấy, yêu cầu được nuôi con của các đương sự là hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên, từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay, cháu V đã sinh sống cùng với chị H và bà Q (bà ngoại của cháu), được chăm sóc, phát triển hoàn toàn bình thường. Bản thân cháu V cũng có nguyện vọng được ở với mẹ nhưng do mẹ đang đi lao động tại nước ngoài nên đề nghị Tòa án cho cháu được tạm thời ở với bà ngoại là bà Phan Thị Q để không làm ảnh hưởng đến học hành, sinh hoạt của cháu từ trước đến nay. Tại Bản tự khai và Biên bản lấy lời khai, anh N cũng thống nhất thoả thuận là trường hợp Tòa án giao cháu V cho chị H chăm sóc nuôi dưỡng để đảm bảo ổn định cuộc sống, học tập của cháu thì anh cũng đồng ý và đồng ý cấp dưỡng cho cháu V 1.000.000 đồng/tháng để cho cháu học tập. Tuy nhiên, do chị H đang ở nước ngoài nên bà Phan Thị Q (mẹ đẻ của chị H) nhận trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hồ Quốc V chu đáo cho đến khi chị H về Việt Nam với cháu V; bà Q cũng không yêu cầu chị H và anh N phải thanh toán tiền nuôi dưỡng cháu V trong thời gian bà nuôi dưỡng cháu. Xét thấy sự thoả thuận của các đương sự về việc giao cháu V cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con cũng như nguyện vọng của cháu V; mức cấp dưỡng mà anh N đưa ra cũng phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của các bên, mức sinh hoạt trung bình tại địa phương và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84, 104 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Tòa án ghi nhận sự thoả thuận này.
Anh Như K trực tiếp nuôi con sau ly hôn nên có quyền đi lại thăm nom con chung; không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Tại các bản tự khai, chị H, anh N đều Hkhông yêu cầu Toà án giải quyết về phần tài sản nên miễn xét.
[3]. Về án phí: Chị Phạm Thị H tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm; anh Hồ Văn N phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, Điều 40, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 55, 58, 81, 82, 83, 84, 104, 107, 110, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị H.
-
Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Hồ Văn N.
-
Về quan hệ con chung: Giao con chung là Hồ Quốc V, sinh ngày 01/8/2009 cho chị Phạm Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do chị H đang ở nước ngoài nên bà Phan Thị Q (mẹ đẻ của chị H) nhận trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hồ Quốc V cho đến khi chị H về Việt Nam với cháu V.
Anh Hồ Văn N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị Phạm Thị H mỗi tháng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) kể từ tháng 11 năm 2024 cho đến khi cháu V thành niên đủ 18 tuổi.
Anh Hồ Văn N có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Hồ Văn N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
-
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: chị Phạm Thị H và anh Hồ Văn N không yêu cầu nên Toà án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
-
Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp theo biên lai số 0013379 ngày 24/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Trả lại cho chị H số tiền tạm ứng án phí còn lại là 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Anh Hồ Văn N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con. (Anh N chưa nộp).
-
Kể từ ngày chị Phạm Thị H có đơn yêu cầu thi hành án cấp dưỡng nuôi con cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, nếu anh Hồ Văn N không chịu thi hành thì hàng tháng anh N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
-
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
-
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: Chị Phạm Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Hồ Văn N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Nga |
Bản án số 489/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 489/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị H và anh N
