|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 489/2024/DS-PT Ngày: 29-11-2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
Bà Phùng Thị Cẩm Hồng
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chung - Kiểm sát viên.
Vào ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 419/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 86/2024/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 438/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1948;
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1982;
- Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1985;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1950;
- Bà Phạm Thị T3, sinh năm 1959;
- Bà Phạm Thị M, sinh năm 1952;
- Bà Phạm Thị N1, sinh năm 1940;
- Bà Nguyễn Thị Lệ H, sinh năm 1969;
- Bà Nguyễn Thị Thanh V, sinh năm 1975;
- Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1967;
- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1972;
- Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1964;
Địa chỉ: Ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T, bà T3: Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1985; Địa chỉ: ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An. (Theo Giấy ủy quyền ngày 17-5-2024; Giấy ủy quyền ngày 04-01-2024).
Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Số C ấp C, xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
- Người kháng cáo: Bà Phạm Thị N.
(Bà N, ông T1, ông T2 có mặt;
Các đương sự khác vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Trịnh Minh H1 trình bày:
Về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng: Vào khoảng năm 1975, mẹ của bà N là bà Cao Thị H2 có chia cho bà N một phần đất có diện tích trên 10.000 m² (không nhớ chính xác), đất tại xã P, huyện C, tỉnh Long An. Từ đó gia đình bà quản lý, sử dụng cho đến nay. Trước đây bà được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mẫu bìa trắng, sau đó chuyển sang mẫu bìa đỏ bao gồm nhiều thửa, trong đó có thửa đất số 499, tờ bản đồ số 5, đất tại xã P, huyện C, tỉnh Long An có diện tích là 1.790m², sau đó do nhầm chủ sử dụng đất nên nhà nước thu hồi một phần thửa có diện tích là 177m², diện tích thửa 499 còn lại là 1.613m².
Vào khoảng năm 2000, gia đình bà N đào đầm nuôi tôm trên thửa đất 499 một phần, một phần đắp gò cho bà Cao Thị H2 để xây dựng nhà ở có diện tích khoảng 50m². Tuy nhiên, sau đó bà H2 không có nhu cầu cất nhà nên sử dụng phần đất này để trồng rau màu, bà H2 về ở chung nhà với bà T3. Đến năm 2010, con của bà T3 là ông Nguyễn Minh T có sang xin bà N cho cất nhà ở trên phần nền lúc trước đắp cho bà H2, bà N đồng ý. Đồng thời ông T cũng xin bà N cho đắp thêm một nền liền kề để bảo vệ nền nhà của ông T, bà N cũng đồng ý.
Đến năm 2012, ông Nguyễn Minh T1 là em của ông T tự ý cất nhà cấp 4 trên phần đất nền liền kề này. Sau đó đến năm 2017, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 499 của bà Phạm Thị N. Từ đó đến nay, thửa đất số 499 này chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Liền kề phần nền nhà của T1 và T, có một phần đất trống, hiện T1 và T đang để vật dụng, trồng một số cây cối trên đất. Bà N chỉ đồng ý cho T1 và T 2 nền nhà, theo kết quả đo đạc thực tế nền nhà của ông T1 có diện tích là 78m², nền nhà của ông T có diện tích là 94m². Còn phần đất trống có diện tích khoảng 322m², ông T1 và ông T phải có trách nhiệm trả lại cho bà N.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu:
- Xác định phần đất có diện tích 382m² thuộc một phần thửa 499, tờ bản đồ số 5, đất tại xã P, huyện C, tỉnh Long An thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Phạm Thị N.
- Buộc ông Nguyễn Minh T và ông Nguyễn Minh T1 tháo dỡ, di dời các cây cối, vật kiến trúc ra khỏi phần đất có diện tích 382m² thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà N, hoàn trả nguyên trạng đất trống cho bà N.
- Bà Phạm Thị N được liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 382m² thuộc một phần thửa 499, Tờ bản đồ số 5, đất tại xã P, huyện C, tỉnh Long An đứng tên Phạm Thị N.
Sau khi nhận được Mảnh trích đo địa chính số 34-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 16-4-2024, bà Phạm Thị N xác định lại diện tích phần đất tranh chấp là 322m² tương ứng với Khu A trong Mảnh trích đo địa chính. Còn vị trí 2 căn nhà của ông T1 và ông T tương ứng với Khu B và Khu C theo Mảnh trích đo, bà N đồng ý cho ông T1 và ông T tiếp tục quản lý, sử dụng, không tranh chấp. Bà Phạm Thị N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T3.
Bị đơn ông Nguyễn Minh T1 đồng thời là đại diện theo ủy quyền của bị đơn - ông Nguyễn Minh T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Phạm Thị T3 trình bày:
Ông là con của bà Phạm Thị T3, cháu ngoại của bà Cao Thị H2, em của ông Nguyễn Minh T. Ông và ông T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị N. Bà Phạm Thị T3 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà N và khởi kiện yêu cầu xác định phần đất có diện tích 494m², thuộc một phần thửa 499, Tờ bản đồ số 05, đất tại xã P, huyện C, tỉnh Long An, tương ứng với các khu A, B, C trong Mảnh trích đo địa chính số 34-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 16-4-2024 thuộc quyền sử dụng của bà T3. Ông và ông T đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T3, xác định phần đất nêu trên thuộc quyền sử dụng của bà T3.
Trước năm 1975, bà T3 và bà H2 canh tác phần đất khoảng hơn 20.000m², trong đó có thửa số 499, Tờ bản đồ số 5, đất tại xã P, huyện C, tỉnh Long An. Sau năm 1975, bà T3 và bà H2 vẫn tiếp tục canh tác phần đất này. Đến khoảng năm 1980, bà H2 cho bà N một phần đất lúa để làm nuôi con, vì bên chồng bà N không có nhiều đất. Lúc này Nhà nước có chủ trương lấy đất giao Hợp tác xã nông nghiệp, nên bà H2 mới giao thửa đất 499 cho bà N canh tác. Đến khoảng năm 1983, do căn nhà ở gần bờ sông có dấu hiệu sạt lỡ nên bà T3 và bà H2 bàn bạc về phần đất thuộc thửa 499 đắp gò, cất nhà ở. Lúc này lấy đất từ phần mé lá đắp gò, con cháu cùng nhau đắp gò đất tại phần đất tranh chấp này. Từ đó, bà T3 và bà H2 cùng canh tác trên phần đất thuộc một phần thửa 499 này, theo đo đạc thực tế là 494m². Phần còn lại do bà Phạm Thị N trực tiếp canh tác. Bà T3 và bà H2 trồng rau màu trên phần gò, phần đất trũng thì gieo mạ để đem vào cấy ở các phần ruộng phía bên trong. Trong quá trình sử dụng, bà T3 thường xuyên bồi đắp phần nền gò để rộng ra như ngày nay. Khi Nhà nước làm đường (lộ Chống Mỹ) thì bà T3 có thuê kobe móc đất bồi đắp thêm vào phần gò và phần đất lá trũng cho rộng như hiện nay, kobe móc đất từ phần đất lúa của bà N có vị trí hiện giờ là ao nuôi tôm của bà N. Thời điểm đó cho đến năm 2015, gia đình bà T3 vẫn sử dụng phần đất này, vợ chồng bà N không có ý kiến phản đối hay tranh chấp với phía bà T3.
Theo xác minh của chính quyền từ xã đến tỉnh thì từ khoảng năm 1985 đến nay, phần đất tranh chấp do bà T3 trực tiếp quản lý, sử dụng. Trong khi đó, năm 1996, bà Phạm Thị N được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất toàn bộ thửa 499 này. Do đó, Ủy ban nhân dân huyện C đã ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Phạm Thị N.
Khoảng năm 2010, ông T và ông T1 được bà H2 và bà T3 cho về cất nhà ở tại phần đất tranh chấp, nhà ông T là nhà cấp 4 kiên cố, nhà của ông T1 có kết cấu là gỗ và tol. Đến năm 2012, ông T1 sửa căn nhà lại thành nhà cấp 4 kiên cố như hiện nay. Lúc này, em gái ông T1 cũng cất 1 căn nhà trên phần đất tranh chấp, sát vách nhà ông T, sau đó do giông gió, nhà sập nên em gái đã chuyển về C sinh sống cho đến nay. Nhà của ông T1 và ông T liền kề nhau. Phần đất 322m² mà bà N tranh chấp nằm ngoài phần nền nhà của ông T và ông T1, nó nằm liền kề phần nhà của ông T, hiện do ông T1 và ông T đang quản lý, sử dụng, trồng cây cối và để khoảng 10 hồ tròn chứa nước, dung tích 2m³/hồ. Ông T1 xác định từ trước đến nay, bà H2 và bà T3 chỉ sử dụng phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 494m² này, phần còn lại của thửa 499 do bà N trực tiếp quản lý, sử dụng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Văn T2 thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn. Ông là chồng của bà N. Bà T3 là con út nên từ trước đến nay sống chung với bà H2. Phần đất thửa 499 của bà N có nguồn gốc từ mẹ là bà H2 cho lại khoảng năm 1975. Khi nhận từ bà H2, đất này là đất lúa, vợ chồng ông sử dụng đất canh tác lúa. Đến năm 2001, vợ chồng ông đào ao nuôi tôm trên một phần thửa 499, có vị trí tiếp giáp với phần nền nhà của ông T1 hiện nay, và hiện vẫn tiếp tục nuôi tôm. Phần đất hiện tranh chấp, gia đình ông vẫn tiếp tục trồng lúa cho đến khi xảy ra tranh chấp vào khoảng năm 2015. Vợ chồng ông vẫn đồng ý cho hai cháu T1 và T tiếp tục sử dụng hai nền nhà, riêng phần đất trống ngoài 02 nền nhà trên thì phải trả lại cho vợ chồng ông.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị M trình bày: Bà là con của bà Cao Thị H2 và chị của bà Phạm Thị T3. Bà biết vị trí đất mà các bên đang tranh chấp. Phần đất này trước đây là của bà Cao Thị H2. Bà H2 trước đây có cho bà N một phần đất để canh tác nuôi con. Tuy nhiên sau này bà N tự kê khai, đăng ký toàn bộ mà bà H2 không biết. Trước đây, nhà của mẹ bà ở gần mé sông, có nguy cơ sạt lỡ nên bà T3 và bà H2 mới về phần đất tranh chấp này đắp gò để xây nhà ở, nhưng bà N có ý kiến sợ sau này anh em ở gần xích mích nên bà H2 và bà T3 vào phần đất ruộng phía trong đắp gò, cất nhà ở như hiện nay. Phần đất này bà T3 cùng bà H2 gieo mạ, trồng rau màu, bồi đắp thành gò như hiện nay. Sau này thì con của bà T3 là T và T1 cất nhà ở. Bà xác định phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà Phạm Thị T3.
Ông Nguyễn Minh T1 – là bị đơn đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông T và bà T3 trình bày: Vào năm 2010, ông T có xin bà N cất nhà trên phần đất tại vị trí nhà của ông T hiện nay. Việc ông T nói với bà N nhưng bà T3 và bà H2 không biết, nếu biết thì đã ngăn cản. Vì chính bà T3 và bà H2 kêu anh em ông về phần đất này cất nhà ở. Lúc này, ông T ở thành phố, ông ở xã T, dọn về phần đất này xây nhà ở cho đến nay.
Năm 1975, bà H2 có cho bà N một phần đất. Đến khoảng năm 1980, vào thời điểm nghe thông tin đất vào tập đoàn, bà H2 lo sợ đất bị chia cho người khác, phần bà N con đông mà bên chồng ít đất, nên bà H2 mới giao cho bà N sử dụng thêm một phần đất bao gồm cả thửa đất tranh chấp. Việc giao đất này chỉ giao cho bà N canh tác để nuôi con, không phải cho luôn vì bà H2 còn nhiều người con khác, không phải chỉ có bà N. Sau đó, bà N tự đi kê khai, đăng ký toàn bộ mà bà H2 không biết. Còn phần đất tranh chấp này bà H2 và bà T3 vẫn sử dụng từ năm 1975 đến nay, khoảng năm 1985 do nhà ở gần mé sông có dấu hiệu sạt lỡ nên mới vào phần đất tranh chấp đắp gò định xây nhà, sau đó không xây. Ban đầu đắp chỉ có khoảng 50m², quá trình sử dụng bà H2 và bà T3 bồi đắp dần dần mới được gò rộng như hiện nay, sử dụng phần đất này phơi lúa, trồng rau màu, nuôi gà, nuôi vịt, gieo mạ... Phần đất trống có một phần là đất gò và một phần là đất ruộng, phần đất gò chính là nền nhà mà lúc trước em gái dựng nhà ở, hiện giờ vẫn còn phần cát lấp, phần đất này hiện để các hồ tròn.
Quá trình sử dụng đất bà T3 có đi đăng ký cấp quyền sử dụng đất nhưng ở xã thông tin là đất bà N đã đứng tên, sau đó bà T3 vẫn sử dụng bình thường, bà N không tranh chấp, thời điểm đó chị em trong gia đình thuận thảo nên bà T3 cũng không tranh chấp. Sau này bà T3 yêu cầu cắt phần đất này cho bà T3, phía bà N nói diện tích nhỏ không cắt được. Sau đó, bà N nói là phần đất này là của bà N, chỉ cho ở chứ không cho đứng tên, nên bà T3 mới khiếu nại.
Theo Kết luận của Thanh tra huyện qua quá trình xác minh đã xác định phần đất này do gia đình bà T3 sử dụng, bà N không sử dụng.
Tại thời điểm mà anh em ông cất nhà ở vào năm 2010, là về cất nhà trên gò có sẵn, không có bồi đắp thêm. Phần gò này trước giờ do bà T3 bồi đắp, phía bà N, ông T2 không có bồi đắp.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 86/2024/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An đã căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 95, 166, 170, 203 Luật Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị N về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với ông Nguyễn Minh T, ông Nguyễn Minh T1, đối với phần đất có diện tích 322m² thuộc một phần thửa 499, tờ bản đồ số 5, đất tại xã P, huyện C, tỉnh Long An. Phần đất có vị trí, tứ cận tương ứng với Khu A thuộc Mảnh trích đo địa chính số 34-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 16-4-2024.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T3 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bà Phạm Thị N.
Xác định phần đất có diện tích 494m² thuộc một phần thửa 499, Tờ bản đồ số 5, đất tại xã P, huyện C, tỉnh Long An thuộc quyền sử dụng của bà Phạm Thị T3. Vị trí, tứ cận phần đất nêu trên tương ứng với các khu A, B, C theo Mảnh trích đo địa chính số 34-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 16-4-2024.
Bà Phạm Thị T3 có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký cấp quyền sử dụng đối với phần đất nêu trên theo quy định của pháp luật đất đai.
Trên cơ sở bản án có hiệu lực pháp luật, Cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai cấp quyền sử dụng đất cho bà Phạm Thị T3 theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Về án phí: Bà Phạm Thị N thuộc trường hợp được miễn án phí nên không phải nộp.
- Về chi phí tố tụng khác là 16.000.000 đồng, bà Phạm Thị N phải chịu toàn bộ, đã nộp xong.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự.
Ngày 05/7/2024, nguyên đơn là bà Phạm Thị N kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.
Bà Phạm Thị N trình bày: Tại bản án hành chính sơ thẩm số 41/2022/HC-ST ngày 18/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An và bản án hành chính phúc thẩm số 944/2022/HC-PT ngày 12/12/2022 và lời trình bày của bị đơn xác định diện tích phần đất tranh chấp là 463m² nhưng Tòa án huyện C căn cứ Mảnh trích đo xác định diện tích tranh chấp 494m² là không đúng. Bà yêu cầu bị đơn trả lại cho bà phần đất chênh lệch có diện tích 31m² (494 m² - 463m²), chiều ngang 1m x chiều dài 21m (phần sát với khu C nhà của ông Nguyễn Minh T1) để bà đi vào đầm nuôi tôm, các phần tranh chấp còn lại gồm khu A, B, C bà đồng ý theo bản án sơ thẩm.
Ông Nguyễn Minh T1 trình bày: Ông không đồng ý kháng cáo của bà N, vì bà N có thể sử dụng phần đất khác của bà N để đi vào đầm nuôi tôm. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Văn T2 trình bày: Ông thống nhất lời trình bày của bà N, không bổ sung gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu:
- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử phúc thẩm nghị án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
* Xét kháng cáo của Bà Phạm Thị N, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng:
Bà Phạm Thị N yêu cầu xác định phần đất có diện tích 322m² thuộc quyền sử dụng của bà N. Bà Phạm Thị T3 yêu cầu xác định phần đất có diện tích 494m² thuộc quyền sử dụng của bà T3.
Căn cứ yêu cầu khởi kiện của đương sự, Mảnh trích đo địa chính số 34-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 16-4-2024, phần đất tranh chấp có tổng diện tích là 494m², thuộc một phần thửa đất số 499, tờ bản đồ số 5, đất tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An, có vị trí tương ứng với Khu A – diện tích 322m², Khu B – diện tích 94m² và Khu C – diện tích 78m².
Bà N xác định phần đất tương ứng với Khu B và Khu C, hiện có nhà ông T1 và ông T thì bà N đồng ý để ông T1, ông T tiếp tục quản lý sử dụng, bà không có tranh chấp, đồng thời ông T1 và ông T cũng thống nhất phần đất này thuộc quyền sử dụng của bà T3. Do đó, xác định phần đất có vị trí tương ứng với Khu B và Khu C thuộc quyền sử dụng của bà Phạm Thị T3 là phù hợp.
Bà N và bà T3 đều yêu cầu xác định phần đất có diện tích 322m² có vị trí tương ứng với Khu A của Mảnh trích đo địa chính thuộc quyền sử dụng của mình.
Xét thấy, các đương sự đều xác định nguồn gốc thửa đất 499, tờ bản đồ số 5, tọa lạc xã P, huyện C, tỉnh Long An là của bà Cao Thị H2, là mẹ của bà N và bà T3.
Ngày 30/12/1996, bà N được UBND huyện C cấp GCN QSD trong đó có thửa 499, diện tích 1.790m². Ngày 23/10/2014 UBND huyện C có Quyết định số 7256/QĐ-UBND thu hồi quyền sử dụng đất của bà N đối với một phần thửa đất số 499, diện tích 177m², diện tích còn lại của thửa 499 là 1.613m² với lý do thu hồi do cấp sai chủ sử dụng.
Theo Kết luận số 166/KL-TTr ngày 31/5/2017 của Thanh tra huyện C, Tờ trình số 147/TTr-TNMT ngày 18/4/2017 của Phòng Tài nguyên Môi trường huyện C trong quá trình giải quyết khiếu nại của bà T3 thể hiện: phần đất tranh chấp này vào khoảng năm 1985, bà H2 đến đắp gò để cất nhà nhưng sau đó không cất nhà, phần đất gò trồng mía và các loại cây khác. Đến năm 1991, bà H2 để lại cho bà T3 sử dụng. Đến năm 1992 bà T3 cho bồi đắp thêm phần gò như hiện nay. Đến năm 1996, bà N kê khai đăng ký toàn bộ thửa đất bao gồm phần đất tranh chấp. Năm 2010-2012, ông T1 và ông T cất nhà trên phần đất này. Tại Kết luận thanh tra, trên phần đất thuộc một phần thửa 499 gồm 2 căn nhà và một phần đất trống do gia đình bà T3 sử dụng, bà N không sử dụng, việc UBND huyện C đã cấp toàn bộ diện tích thửa đất số 499 cho bà N là không đúng quy định của pháp luật.
Ngày 04/7/2017, Ủy ban nhân dân huyện C có Quyết định số 9134/QĐ-UNND thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà N đối với thửa 499. Bà N không đồng ý Quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên khiếu nại. Quá trình giải quyết khiếu nại, Chủ tịch UBND huyện C, UBND nhân dân tỉnh L bác đơn khiếu nại của bà N.
Bà N khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu hủy các quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định thu hồi đất, quá trình giải quyết vụ án hành chính, Bản án hành chính sơ thẩm số 41/2022/HC-ST ngày 18/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, Bản án hành chính phúc thẩm số 944/2022/HC-PT ngày 12/12/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP H đã có hiệu lực pháp luật đều nhận định: “...Phần đất diện tích 463m² thuộc một phần thửa 499, tờ bản đồ số 5, tại P, huyện C, bà Phạm Thị T3 cùng mẹ là bà Cao Thị H2 sử dụng từ khoảng năm 1985 đến nay; năm 2011-2012 và năm 2013 bà T3 sử dụng đất cất 02 căn nhà cho con là các ông Nguyễn Minh T và Nguyễn Minh T1, bà N không có ý kiến, không tranh chấp. Bà Phạm Thị N hoàn toàn không sử dụng phần đất 463m² khoảng từ năm 1984-1985 đến nay, nội dung này được chứng minh qua lời khai của ông T2 (chồng bà N) tại phiên tòa, biên bản kiểm tra hiện trạng sử dụng đất ngày 09/5/2016 của Ủy ban nhân dân xã P, Kết luận số 166/KL-TTr ngày 31/5/2017 của Thanh tra huyện C, Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 30/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An...”; năm 1996 UBND huyện C cấp GCN QSD đất đối với thửa 499 cho bà N là không đúng đối tượng sử dụng đất nên ngày 04/7/2017 UBND huyện C ban hành Quyết định số 9134/QĐ-UBND về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà N với lý do không đúng chủ sử dụng đất là đúng trình tự thủ tục, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N.
Ngoài ra, theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, Mảnh trích đo địa chính số 34-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 16-4-2024 thì khu A diện tích 322m², hiện trạng là gò đất, trên phần đất gò có hồ nước và cây cối của gia đình bà T3, bà T3 sử dụng, bồi đắp phần đất gò. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T2 cũng xác định phần gò trước đây đắp cho bà H2, gia đình ông không có bồi đắp vào nền gò này. Việc bà T3 bồi đắp phần gò, bà N biết nhưng không tranh chấp.
Do đó Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N là có cơ sở. Bà N kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị N. Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Phạm Thị N thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- [2] Về thủ tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông T, bà M, bà K, bà H, bà V, ông G, ông D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin giải quyết vắng mặt; Bà Phạm Thị N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
- [3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm:
- [4] Xét kháng cáo của bà Phạm Thị N, thấy rằng:
- [4.1] Về vị trí phần đất tranh chấp:
- [4.2] Xét yêu cầu khởi kiện của các đương sự thấy rằng:
- [4.2.1] Về nguồn gốc đất: Các đương sự đều thống nhất trình bày nguồn gốc phần đất thuộc thửa số 499, tờ bản đồ số 5, đất tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An có nguồn gốc của bà Cao Thị H2 là mẹ của bà N và bà T3.
- [4.2.2] Về quá trình cấp và thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
- [4.2.3] Về quá trình sử dụng đất:
- [5] Từ những phân tích trên thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N, chấp nhận yêu cầu độc lập của bà T3 là có căn cứ và đúng quy định pháp luật, phía nguyên đơn kháng cáo yêu cầu bị đơn phải trả lại phần đất có diện tích 31m² nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị N.
- [6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- [7] Về chi phí tố tụng ở cấp sơ thẩm: Chi phí đo đạc, định giá, thẩm định tại chỗ là 16.000.000 đồng, bà N phải chịu toàn bộ, đã nộp xong.
- [8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị N không được chấp nhận nên bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bà N là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định nên miễn cho bà N án phí dân sự sơ thẩm.
- [9] Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn cho bà N án phí dân sự phúc thẩm do bà N là người cao tuổi.
- [10] Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bà Phạm Thị N khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất với bị đơn ông Nguyễn Minh T và ông Nguyễn Minh T1 đối với phần đất có diện tích 322m² thuộc một phần thửa 499, tờ bản đồ số 5, đất tại xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi xét xử sơ thẩm, bà N kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc bị đơn trả cho bà phần cái bờ 31m².
Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.
Căn cứ yêu cầu khởi kiện của đương sự, Mảnh trích đo địa chính số 34-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 16-4-2024, phần đất tranh chấp có tổng diện tích là 494m², thuộc một phần thửa đất số 499, tờ bản đồ số 5, đất tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An, có vị trí tương ứng với Khu A có diện tích 322m², Khu B có diện tích 94m² và Khu C có diện tích 78m². Tổng diện tích tranh chấp là 494m².
Bà Phạm Thị T3 yêu cầu xác định toàn bộ phần đất có diện tích 494m² nêu trên thuộc quyền sử dụng của bà T3. Bà Phạm Thị N yêu cầu xác định phần đất có diện tích 322m² thuộc quyền sử dụng của bà N. Bà N xác định phần đất tương ứng với Khu B và Khu C – hiện có nhà của các con bà T3 là T1 và T thuộc quyền sử dụng của bà T3, đồng thời ông T1 và ông T cũng thống nhất phần đất này thuộc quyền sử dụng của bà T3. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự thống nhất này của các đương sự, xác định phần đất có vị trí tương ứng với Khu B và Khu C thuộc quyền sử dụng của bà Phạm Thị T3 là phù hợp. Bà N và bà T3 đều yêu cầu xác định phần đất có diện tích 322m² có vị trí tương ứng với Khu A thuộc quyền sử dụng của mình.
Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00540 QSDĐ/0514-LA do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 30-12-1996 thể hiện bà Phạm Thị N được cấp quyền sử dụng đất đối với các thửa đất 406, 407, 408, 409, 497, 499 và 501, Tờ bản đồ số 5, đất tại xã P, huyện C, tỉnh Long An. Trong đó chỉ có thửa 499 giáp với Lộ chống Mỹ, các thửa khác nằm ở bên trong thửa 499.
Theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị H3 vào năm 2014. Ngày 23-10-2014, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 7256/QĐ-UBND thu hồi quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất số 499, Tờ bản đồ số 5, diện tích 177m², đất trồng lúa...trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00540 QSDÐ/0514-LA do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 30-12-1996 cho bà Phạm Thị N. Với lý do: Thu hồi do cấp sai chủ sử dụng. Theo đó, diện tích còn lại của thửa đất 499 là 1.613m².
Theo hồ sơ thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hồ sơ khiếu nại của bà Phạm Thị N đối với thửa 499, Tờ bản đồ số 5, đất tại xã P, huyện C, tỉnh Long An thể hiện: Tại Kết luận số 166/KL-TTr của Thanh tra huyện ngày 31-5-2017 về việc thẩm tra Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Tờ trình số 214/TTr-TN&MT ngày 01-6-2017 của Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường, xác định thửa đất số 499 trên thực tế có hai chủ sử dụng, bà Phạm Thị T3 sử dụng một phần thửa với diện tích là 463m² (trên đó có 02 căn nhà và một phần đất trống), một phần thửa còn lại do bà Phạm Thị N quản lý, sử dụng. Trên cơ sở đó, ngày 04-7-2017, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 9134/QĐ-UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Phạm Thị N, số vào sổ cấp giấy 00540QSDĐ/0514-LA ngày 30-12-1996, đất tọa lạc xã P. Lý do: Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định của pháp luật, cụ thể: không đúng chủ sử dụng đất. Ngày 07-8-2017, bà N khiếu nại yêu cầu hủy Quyết định số 9134. Ngày 02-02-2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 563/QĐ-UBND bác đơn khiếu nại của bà N, giữ nguyên Quyết định số 9134. Ngày 19-11-2018, Ủy ban nhân dân tỉnh L ban hành Quyết định số 4245/QĐ-UBND giữ nguyên Quyết định số 563/QĐ-UBND ngày 02-02-2018 của Ủy ban nhân dân huyện C.
Không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân tỉnh L, bà Phạm Thị N khởi kiện vụ án hành chính. Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 41/2022/HC-ST ngày 18-5-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã tuyên: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị N đối với yêu cầu hủy các quyết định: Quyết định số 4245/QĐ-UBND ngày 19-11-2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L, Quyết định số 563/QĐ-UBND ngày 02-02-2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, Quyết định số 9134/QĐ-UBND ngày 04-7-2017 của Ủy ban nhân dân huyện C. Bà Phạm Thị N kháng cáo. Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 944/2022/HC-PT ngày 12-12-2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử không chấp nhận kháng cáo của bà N, giữ nguyên Bản án số 41/2022/HC-ST ngày 18-5-2022.
Theo bà T3, khi giao đất, bà H2 không cho bà N toàn bộ thửa đất 499, nhưng bà N đã tự đi kê khai, thực tế bà H2 và bà T3 vẫn quản lý, sử dụng đối với phần đất đang tranh chấp từ trước năm 1985. Đến khoảng năm 1985 thì đắp nền gò có diện tích khoảng 50m². Sau này bà H2 lớn tuổi, giao cho bà T3 quản lý, sử dụng. Bà T3 sử dụng trồng rau màu, gieo mạ, phơi lúa, nuôi gà, vịt và sau này cho hai người con của bà T3 là ông T1 và ông T xây nhà trên phần đất này. Quá trình quản lý, sử dụng, bà T3 bồi đắp dần dần được phần nền gò như hiện nay.
Thấy rằng trong quá trình giải quyết khiếu nại của bà T3, khiếu nại của bà N, trên cơ sở kết quả xác minh quá trình sử dụng đất đối với thửa đất 499, Ủy ban nhân dân các cấp, Tòa án nhân dân các cấp đều xác định Thửa đất số 499, Tờ bản đồ số 5, đất tại xã P, huyện C, tỉnh Long An có hai chủ sử dụng là bà Phạm Thị N và bà Phạm Thị T3. Trong đó bà T3 sử dụng phần đất có diện tích khoảng 463m², trên đất có 02 căn nhà và một phần đất trống, bà T3 sử dụng phần diện tích này từ khoảng năm 1985 đến nay, phần còn lại của T4 499 do bà N quản lý, sử dụng. Đây là nhận định tại các Bản án hành chính sơ thẩm, phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, đây được xác định tình tiết không cần phải chứng minh. Tuy nhiên, trong các Quyết định thu hồi, giải quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân các cấp không thể hiện nội dung xác định quyền sử dụng đối với diện tích đất cụ thể cho bà T3 và bà N mà giao về Ủy ban nhân dân xã P thông báo đăng ký và đề nghị xét cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, bà N không đồng ý xác định phần đất bà T3 đang sử dụng thuộc quyền sử dụng của bà T3 toàn bộ nên bà N và bà T3 tiếp tục tranh chấp quyền sử dụng đất trong vụ án này.
Quá trình giải quyết vụ án bà Phạm Thị M là em của bà N, chị của bà T3 xác định phần đất tranh chấp bà H2 cùng bà T3 sử dụng, và sau này bà H2 cho bà T3 quản lý, sử dụng cho đến nay. Ngoài ra, bà N xác định quá trình sử dụng đất, việc bà T3 bồi đắp, cho các con của bà T3 là ông T1 và ông T cất nhà trên đất khoảng năm 2010-2012, bà N không có ý kiến khiếu nại hay tranh chấp. Cho đến năm 2015 khi bà T3 yêu cầu bà N cắt phần đất nêu trên cho bà T3 đứng tên, bà N không đồng ý, bà T3 khiếu nại, từ đó bà N và bà T3 mới bắt đầu tranh chấp. Bà N cho rằng sở dĩ bà không tranh chấp là vì bà đồng ý cho cháu ở, chứ không cho đất. Tuy nhiên, ông T1, ông T, bà T3 xác định không có việc xin bà N cho đất. Bà N cũng không có chứng cứ chứng minh lời trình bày này.
Qua kết quả thẩm định tại chỗ, kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, thấy rằng, phần đất tranh chấp có diện tích 494m², trên đó có hai căn nhà của ông T1 và ông T đang sử dụng với diện tích lần lượt là 78m² và 94m², một phần đất trống có diện tích là 322m², có hiện trạng là một phần đất gò, một phần đất thấp hơn, khác với hiện trạng là ao nuôi tôm của phần còn lại của thửa đất. Hơn nữa tại phiên tòa ông T2 cũng xác nhận phần đất ông đào làm ao (để nuôi tôm) vào năm 2000, ông sử dụng để đắp vào nền gò của ông ở phía trong, không đắp nền gò 50m² này. Phần nền gò 50m² đắp cho bà H2 do con cháu phụ đắp, từ đó về sau gia đình ông không có bồi đắp vào phần nền gò này, phần đất ruộng ngoài phần đất gò gia đình ông sử dụng gieo mạ. Thấy rằng phần nền gò này hiện có diện tích trên 100m² bao gồm 2 nền nhà của ông T1 và ông T cùng một phần gò nhỏ cặp vách nhà ông T. Cho thấy quá trình sử dụng đất phía bà T3 phải thường xuyên bồi đắp thêm vào nên phần nền gò cũ 50m² ban đầu không bị xói mòn mà rộng thêm như hiện nay. Quá trình bồi đắp, sử dụng này, phía bà N không có ý kiến ngăn cản hay tranh chấp gì. Do đó, lời trình bày của bà T3 về quá trình sử dụng đất là có cơ sở.
Từ những phân tích nêu trên, có đủ cơ sở xác định phần đất tranh chấp từ trước năm 1985 đến nay do bà T3 quản lý, sử dụng. Đến năm 2010, bà T3 cho ông T1, ông T cất nhà trên đất và sinh sống ở phần đất này nên yêu cầu khởi kiện của bà N không có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị N.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 86/2024/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 95, 166, 170, 203 Luật Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị N về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với ông Nguyễn Minh T, ông Nguyễn Minh T1, đối với phần đất có diện tích 322m² thuộc một phần thửa 499, Tờ bản đồ số 5, đất tại xã P, huyện C, tỉnh Long An. Phần đất có vị trí, tứ cận tương ứng với Khu A thuộc Mảnh trích đo địa chính số 34-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 16-4-2024.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T3 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bà Phạm Thị N.
- Về án phí: Bà Phạm Thị N thuộc trường hợp được miễn án phí nên không phải nộp.
- Về chi phí tố tụng khác là 16.000.000 đồng, bà Phạm Thị N phải chịu toàn bộ, đã nộp xong.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn cho bà Phạm Thị N án phí dân sự phúc thẩm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Xác định phần đất có diện tích 494m² thuộc một phần thửa 499, Tờ bản đồ số 5, đất tại xã P, huyện C, tỉnh Long An thuộc quyền sử dụng của bà Phạm Thị T3. Vị trí, tứ cận phần đất nêu trên tương ứng với các khu A, B, C theo Mảnh trích đo địa chính số 34-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 16-4-2024.
Bà Phạm Thị T3 có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký cấp quyền sử dụng đối với phần đất nêu trên theo quy định của pháp luật đất đai.
Trên cơ sở bản án có hiệu lực pháp luật, Cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai cấp quyền sử dụng đất cho bà Phạm Thị T3 theo quy định của pháp luật về đất đai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 489/2024/DS-PT ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 489/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất
