|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 489/2024/HS-PT Ngày: 11/11/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nam Phương.
Các thẩm phán:
Ông Dương Lê Bửu Thiện.
Bà Phạm Thị Xuân Đào.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Kim Hải - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử số 1 - Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 142/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo Lê Thị Thu P do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 659/2023/HSST ngày 05/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lê Thị Thu P
sinh năm 1989; (Tên gọi khác: Không), tại Đồng Nai; Địa chỉ thường trú: Tổ I, khu phố E, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: Như trên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: kinh doanh chụp ảnh cưới; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Họ tên cha: Lê Văn H, sinh năm 1955 (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Hoàng M, sinh năm 1959 (đã chết); Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con út trong gia đình; Có chồng tên: Vũ Gia P1, sinh năm 1984; Có 01 con chung sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. ĐT: 0906.788.xxx
Bị cáo được tại ngoại.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trương Hồng K, sinh năm 1986 – Luật sư thuộc Công ty L3, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ.
Địa chỉ: A, đường N, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. ĐT: 0942.976.xxx
- Bị hại: Anh Nguyễn Xuân N, sinh năm 1977.
Địa chỉ: I, khu phố A, phường T, thành phố B, Đồng Nai. ĐT: 0916.789.xxx
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thị Tuyết V, sinh năm 1968.
Địa chỉ: K, khu phố C, phường B, thành phố B, Đồng Nai. ĐT: 0949.987.xxx
2. Ông Lê Quốc V1, sinh năm 1995.
Địa chỉ: D, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. ĐT: 0906.706.xxx
- Người làm chứng: Bà Phạm Thị X, sinh năm 1957.
Địa chỉ: Tổ I, khu phố E, phường B, thành phố B, Đồng Nai.
(Bị cáo, luật sư, bị hại, ông V1 có mặt; Những người còn lại vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa năm 2019, ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1939 và bà Trần Thị Đ, sinh năm 1947 cùng thường trú tại số I, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Kim C, diện tích đất 3.292,8m2 thuộc các thửa đất số 382, 383, 352 tờ bản đồ số 13 thuộc phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (sau khi thay đổi bản đồ địa chính các thửa đất trên thuộc thửa 209, 210, 211 tờ bản đồ số 35, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai), sau đó ông L và bà Đ cho anh Nguyễn Xuân N (là con ruột của ông L và bà Đ) các thửa đất nói trên. Trên đất có trồng các loại cây mít, xoài, tràm và một số cây tạp tự mọc.
Bị cáo Lê Thị Thu P sinh sống ở cạnh mảnh đất của anh N. Lợi dụng đất không có người thường xuyên trông coi, vào khoảng ngày 20 tháng 11 năm 2020, bị cáo P gặp bà Lê Thị Tuyết V, sinh năm 1968, thường trú tại K, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đang đi hái lá lốt ở gần đất của anh N. Bị cáo P tự nhận đất của anh N là đất của gia đình mình, cần dọn vườn nên nhờ bà V tìm giúp người mua cây trong vườn thì bà V đồng ý và giới thiệu anh Lê Quốc V1, sinh năm 1995, thường trú tại D, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương là người chuyên mua cây xanh cho bị cáo P. Khoảng 30 phút sau, anh V1 đến gặp P thỏa thuận mua cây trong vườn với giá 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng), rồi anh V1 trả tiền mặt cho bị cáo P, bị cáo cho bà V 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), anh V1 cho bà V 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền giới thiệu mua bán cây. Khoảng 02 ngày sau anh V1 thuê người cùng anh V1 đến cưa cây trong vườn đã mua do bị cáo P bán rồi đưa đi bán cho các công ty lò hơi (không nhớ tên công ty) ở khu vực ngã ba C thuộc xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương làm củi đốt. Số cây bị cưa cắt gồm: 29 cây mít, 37 cây xoài, 12 cây tràm và một số cây tạp nhỏ khác.
Đến ngày 01 tháng 12 năm 2020, anh Nguyễn Xuân N biết được sự việc bị bán trộm cây nên đến Công an phường B trình báo. Công an phường B lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố điều tra theo thẩm quyền.
Vật chứng của vụ án: 29 cây mít, 37 cây xoài, 12 cây tràm. Số cây xanh này anh Lê Quốc V1 đã bán cho công ty L4 hơi ở khu vực ngã ba C thuộc xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương làm củi đốt (không rõ tên công ty) nên không thu hồi được.
Tại kết luận định giá số 36/TCKH-HĐĐG ngày 07/02/2021, của Hội đồng định giá tài sản thành phố B kết luận: “29 cây mít, 37 cây xoài, 12 cây tràm có giá trị định giá tài sản là 31.004.000₫ (Ba mươi mốt triệu không trăm lẻ bốn nghìn đồng)”.
Về dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Xuân N yêu cầu bị cáo Lê Thị Thu P bồi thường số tiền 31.004.000₫ (Ba mươi mốt triệu không trăm lẻ bốn nghìn đồng) theo giá trị định giá.
Tại Bản án số 659/2023/HSST ngày 05/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thu P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Thị Thu P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
3. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585 Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Lê Thị Thu P bồi thường cho anh Nguyễn Xuân N số tiền 31.004.000₫ (Ba mươi mốt triệu không trăm không bốn nghìn đồng).
4. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Buộc bà Lê Thị Tuyết V nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) do liên quan đến tội phạm.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo theo luật định.
Ngày 15/12/2023, bị cáo Lê Thị Thu P kháng cáo Bản án số 659/2023/HSST ngày 05/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai với nội dung bị cáo bị oan, bị cáo không phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Thị Thu P vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị tuyên bị cáo không phạm tội “Trộm cắp tài sản” hoặc hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại với nội dung:
Bị cáo không thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, việc xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù là oan sai.
Bị cáo có chứng cứ ngoại phạm nhưng cấp sơ thẩm không kiểm tra xem xét.
Lời khai của bà Lê Thị Tuyết V và ông Lê Quốc V1 có nhiều mâu thuẫn.
Không xác định, không chứng minh được tội phạm nhưng vẫn kết tội.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Hồ sơ thể hiện không có một nhân chứng nào nhìn thấy bị cáo P bán cây cho ông V1 ngoài bà V, không có chứng cứ để nhận dạng, lời khai, chứng cứ có tại hồ sơ có nhiều mâu thuẫn về thời gian cưa cây, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà V và ông V1 khai thời gian bất nhất, bị cáo P có chứng cứ ngoại phạm, ông V1 đưa tiền cho bị cáo không ai thấy ngoài bà V, các cuộc điện thoại bà V gọi cho bị cáo không trích xuất được. Đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm để điều tra lại.
Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo:
Căn cứ các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, bị cáo kháng cáo kêu oan là hoàn toàn có cơ sở. Bị cáo P kêu oan từ đầu, không có tài liệu chứng cứ nào chứng minh bị cáo P bán cây, chỉ dựa vào lời khai của bà V và ông V1 là thiếu căn cứ.
Ngày 20/11, bị cáo P có chứng cứ ngoại phạm như vậy ngày 20/11 bị cáo không phạm tội. Lời khai nhân chứng L1, bị hại N, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà V có nhiều mâu thuẫn. Hai người cưa cây không được cơ quan điều tra làm việc. Các cơ quan tố tụng không chứng minh được thời điểm phạm tội, không có cơ sở buộc tội bị cáo P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Tòa tuyên bị cáo P không phạm tội hoặc hủy bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử đánh giá các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án: Vào khoảng ngày 20/11/2020, tại mảnh đất thuộc thửa đất số 209, 210, 211 tờ bản đồ số 35 ở tổ I, khu phố E, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Lê Thị Thu P có hành vi bán trộm 29 cây mít, 37 cây xoài, 12 cây tràm, có tổng giá trị định giá là 31.004.000 đồng của ông Nguyễn Xuân N cho ông Lê Quốc V1, sau đó P bị phát hiện xử lý và bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án 01 năm 06 tháng tù.
Xét kháng cáo kêu oan của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
1. Hành vi phạm tội của bị cáo, cấp sơ thẩm dựa trên cơ sở các chứng cứ:
- - Lời khai của ông Lê Quốc V1 (người mua cắt cây).
- - Lời khai của bà Lê Thị Tuyết V (người môi giới cho ông V1 và bị cáo P mua bán cây).
- - Bản định giá tài sản bị trộm là 31.004.000 đồng.
Chứng cứ buộc tội chưa đủ cơ sở vững chắc vì:
- - Bị cáo Phương xuyên suốt từ đầu đến khi kháng cáo đều không thừa nhận hành vi phạm tội.
- - Bị hại hoàn toàn không biết ai là người lấy trộm.
- - Chỉ duy nhất lời khai của Lê Thị Tuyết V và Lê Quốc V1 là lời khai buộc tội bị cáo P nhưng không thể xem lời khai đó là vô tư khách quan được vì bản thân bà V, ông V1 là người liên quan đến vụ án.
2. Lời khai của người làm chứng, người liên quan có rất nhiều mâu thuẫn về thời điểm thỏa thuận mua bán, thời điểm cưa cây:
Thời điểm thỏa thuận mua bán:
- - Ông V1 khai thời điểm thỏa thuận mua bán cây khoảng 12 giờ 30 phút ngày 20/11/2020 (lời khai ngày 25/01/2021). Sau đó ông V1 lại xác định vào buổi trưa 11 giờ đến 12 giờ (lời khai ngày 08/02/2021).
- - Bà V khai khoảng 09 giờ cuối tháng 12/2020 (không nhớ ngày). Sau đó lại khai đầu giờ chiều giữa tháng 11/2020 (lời khai ngày 21/9/2022). Cuối cùng lời khai buổi trưa ngày 20/11/2020 (lời khai ngày 08/02/2023).
Thời điểm cưa cây:
- - Bà V khai không biết việc cưa cây vào thời điểm nào. Tuy nhiên lời khai của nhân chứng là bà X khai khoảng tháng 11/2020 bà V liên tục mua nước ngọt và nói mua cho thợ cưa cây vườn ông N.
- - Ông V1 khai ngày 20/11/2020 giao tiền, 02 ngày sau mới cưa cây tức là ngày 22/11/2020 (lời khai ngày 25/01/2021).
- - Nhân chứng Nguyễn Văn C1 khai 08 giờ ngày 20/11/2020 nhìn thấy 03 thanh niên đến cưa cây.
- - Nhân chứng Nguyễn Văn V2 khai vào buổi sáng ngày 20/11/2020 nhìn thấy 03 người đến cưa cây (như vậy lời khai của người liên quan là bà Vân bất N1 khai không biết việc cưa cây nhưng nhân chứng khai chính bà V mua nước cho thợ cưa cây). Ông V1 khai giao tiền thỏa thuận mua bán đến ngày 22/11/2020 mới cưa cây nhưng nhân chứng C1 và V2 khai cưa cây ngày 20/11/2020.
Lời khai của ông Lê Quốc V1 và bà Lê Thị Tuyết V có nhiều mâu thuẫn:
- - Ông V1 khai xuống thỏa thuận mua cây xong trả tiền ngày 20/11/2020
- - Bút lục 120: Bà V khai trả giá qua điện thoại, ngày hôm sau xuống xem cây, ngày hôm sau nữa mới giao tiền (mâu thuẫn).
- - Bút lục 121: Ông V1 khai cho bà V 500.000 đồng mâu thuẫn lời khai bà V (tại bút lục 507: V1 chỉ đưa cho tôi 300.000 đồng).
3. Chứng cứ ngoại phạm.
- - Bút lục 374: Hòa thượng Thích Huệ T xác nhận lúc 9 giờ 30 phút ngày 20/11/2020 chị em T1, P có đến chùa X1 cất nhà.
- - Bút lục 375: Bà Tô Xuân T2 - Hiệu trưởng trường THCS N2 cho biết gần 12 giờ ngày 20/11/2020 có đến nhà mẹ T1, P thắp nhang cho mẹ P (mẹ P là Hiệu phó trường THCS N2), có gặp T1, P.
- - Bút lục 376: Bà Hồ Thị Bích L2 là hộ lý chăm sóc cha P bị bệnh xác nhận ngày 20/11/2020 có gặp P ở nhà cha mẹ P.
- - Bút lục 377: Ông Trần Huỳnh Nhật Q xác nhận lúc 10 giờ 45 phút có gặp chị em P để tư vấn đi mua gạch xây nhà.
- - Bút lục 371: Công chứng lập vi bằng thể hiện trên điện thoại bà T1 chụp hình đi chọn gạch để xây nhà tại đại lý gạch M1 lúc 11 giờ 26 phút ngày thứ 6 (20/11/2020).
Tài liệu có trong hồ sơ vụ án không thể hiện chứng cứ trực tiếp (nhân chứng nhìn thấy P - V1 - V có sự trao đổi mua bán cây) hay chứng cứ vật chất (có sự trao đổi tiền hay thu giữ vật chứng) để quy kết hành vi phạm tội của P.
Cấp sơ thẩm căn cứ vào lời khai của bà V và ông V1 để buộc tội bị cáo P, tuy nhiên bà V và ông V1 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án, không phải là người làm chứng quy định tại Điều 66 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bản thân những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các nhân chứng có rất nhiều lời khai mâu thuẫn về thời gian.
Không chứng minh được rõ ràng thời gian xảy ra vụ án (Vi phạm khoản 1 Điều 85 Bộ luật tố tụng hình sự), cụ thể:
- - Tại thời điểm xảy ra vụ án, bị cáo P có bằng chứng ngoại phạm.
- - Giữa bị cáo và ông N đã quen biết nhau từ lâu, bị cáo biết rõ đất và cây kế bên nhà của bị cáo là của ông N.
- - Bà V khai trước khi bán cây, bị cáo P đã nhiều lần gọi điện thoại cho bà V để nhờ tìm người mua cây nhưng hồ sơ chưa có tài liệu trích lục dữ liệu điện thoại di động để xác nhận có hay không nội dung này.
- - Có một số nhân chứng quan trọng cơ quan điều tra chưa làm việc lấy lời khai là người cưa cây và tài xế lái xe chở cây từ vườn nhà ông N.
Với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ chưa đủ căn cứ vững chắc để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thị Thu P, cần hủy án sơ thẩm để điều tra lại.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Thị Thu P về đề nghị hủy án sơ thẩm.
[3] Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí HSPT: Kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Thị Thu P.
Hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 659/2023/HS-ST ngày 05/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
2. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai để điều tra lại vụ án.
Về án phí:
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Nam Phương |
Bản án số 489/2024/HS-PT ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 489/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp
