Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 489/2024/HS-PT

Ngày: 07/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Nhã
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Thành
Ông Trần Đức Hiếu
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hà Nội

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương - Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 345/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Nghiêm Văn D do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HSST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội.

Bị cáo bị kháng cáo:

Nghiêm Văn D, sinh năm 1960; giới tính: nam; ĐKHKTT: thôn V, xã D, huyện H, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: bảo vệ; trình độ học vấn: 4/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nghiêm Van B và bà Đồng Thị T; có vợ và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân:

  • Ngày 03/02/1977, Công an quận H, thành phố Hà Nội bắt về hành vi trộm cắp tài sản.
  • Ngày 11/02/1977, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt Nghiêm Văn D mức án 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
  • Ngày 27/02/1978, Ủy ban nhân dân thành phố H áp dụng biện pháp cải tạo tập trung đối với Nghiêm Văn D, thời hạn 03 năm.
  • Ngày 16/4/1984, Tòa án nhân dân quận Đồng Đa, thành phố Hà Nội xử phạt Nghiêm Văn D mức án 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản.
  • Ngày 08/8/1987, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt Nghiêm Văn D mức án 05 năm tù về tội trộm cắp tài sản.
  • Ngày 28/11/1991, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt Nghiêm Văn D mức án 04 năm tù về tội trộm cắp tài sản.
  • Ngày 02/5/2005, Công an quận H, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính đối với Nghiêm Văn D số tiền 500.000 đồng về hành vi đánh bạc.
  • Ngày 20/7/2006, Công an quận H, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính đối với Nghiêm Văn D số tiền 500.000 đồng về hành vi đánh bạc.
  • Ngày 18/9/2007, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt Nghiêm Văn D mức án 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc.
  • Ngày 27/6/2014, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt Nghiêm Văn D mức án 05 tháng tù về tội Đánh bạc.

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Bị hại có kháng cáo:

Anh Đặng Văn T1, sinh năm: 1986; Nơi cư trú: Tổ A phường P, quận H, thành phố Hà Nội; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Luật sư Phạm Văn T2 thuộc Công ty L1; có mặt.

Bị đơn dân sự có kháng cáo:

Công ty Cổ phần S; địa chỉ: B - A B, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội; đại diện theo pháp luật: ông Phạm Văn P – Giám đốc; vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Đức D1 thuộc Công ty L2; có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bị kháng cáo:

Công ty TNHH T6; địa chỉ: số B ngõ A, phố Y, phường Y, quận T, thành phố Hà Nội; đại diện theo pháp luật: ông Trần Hoàng L, chức vụ: giám đốc; đại diện theo uỷ quyền: bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thúy A; có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị:

Anh Lò Khăm H, sinh năm: 2000, ĐKHKTT: xã H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, chỗ ở: thôn V, xã D, huyện H, thành phố Hà Nội; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 08/04/2022, anh Đặng Văn T1 là lái xe Công ty TNHH T7 điều khiển xe ô tô biển số 29C- 37966, chở hàng đến Công ty TNHH T6 ở điểm khu công nghiệp xã D thuộc thôn V, xã D, huyện H, thành phố Hà Nội. Khi đến nơi, anh T1 đỗ xe ở cổng công ty TNHH T6, (ở lề đường bên trái, đường nội bộ Cụm công nghiệp xã D, theo hướng từ đường D đi rẽ vào Công ty TNHH T6 và đến điểm cụt của C công nghiệp xã D). Do công ty TNHH T6 không có xe nâng hàng nên đã mượn chiếc xe nâng hàng chạy bằng điện hiệu Komasu, màu sơn vàng, số khung 833019 (xe không có biển số) của Công ty S (ở bên cạnh) để vận chuyển hàng trên xe ô tô của anh T1 từ bên ngoài vào công ty TNHH T6. Sau khi anh Lò Khăm H (Sinh năm: 2000, HKTT: xã H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, chỗ ở: thôn V, xã D, huyện H, TP. Hà Nội) - là lái xe của công ty S vận chuyển hàng xong thì để chiếc nâng hàng ở lề đường cụm công nghiệp D phía bên phải cạnh công ty TNHH S1 (đỗ song song với ô tô do anh T1 điều khiển). Lúc này, anh Đặng Văn T1 đi ra khu vực cạnh lốp bên phải bánh sau xe ô tô biển số 29C- 37966, đứng ở trên mặt đường nội bộ Cụm công nghiệp xã D mục đích để đóng cửa cạnh bên phải của xe, thì Nghiêm Văn D (Sinh năm 1960; Nơi cư trú: thôn V, xã D, huyện H, TP . Hà Nội) là bảo vệ Công ty S, tự ý ngồi lên chiếc xe nâng hàng hiệu K điều khiển lùi xe nâng hàng để đánh xe nâng hàng trả lại Công ty S, do không chú ý quan sát nên Nghiêm Văn D đã điều khiển lùi xe nâng hàng đâm vào người anh Đặng Văn T1 lúc này đang đứng đóng cửa cạnh bên phải thùng xe ô tô biển số 29C- 37966, khiến anh T1 bị ép kẹt giữa phần sau xe nâng hàng và cạnh bên phải của thùng xe ôtô tải biển số: 29C-379.666. Sau đó, anh T1 được mọi người đưa đến Bệnh viện Đa khoa huyện H cấp cứu và chuyển đến Bệnh viện V cấp cứu điều trị.

Hậu quả: Anh Đặng Văn T1 tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Đặng Văn T1 qua ba lần giám định tại thời điểm giám định bổ sung là 78% (Bảy mươi tám phần trăm).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HSST ngày 29/02/2024, Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội đã quyết định:

  • Áp dụng điểm a khoản 2 khoản 5 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt Nghiêm Văn D 03 năm tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  • Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332, Điều 333 và Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 590, Điều 591; Điều 597, Điều 600 và Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  • Buộc Công ty CP S có trách nhiệm bồi thường cho bị hại anh Đặng Văn T1 số tiền là 368.066.000 đồng.

    Buộc Công ty TNHH T6 tiếp tục bồi thường cho bị hại anh Đặng Văn T1 số tiền là 80.000.000 đồng.

    Buộc bị cáo Nghiêm Văn D tiếp tục bồi thường cho bị hại anh Đặng Văn T1 số tiền là 100.000.000 đồng.

    Buộc anh Lò K1 H có trách nhiệm bồi thường cho bị hại anh Đặng Văn T1 số tiền là 48.066.000 đồng.

    Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000 đồng tiền án phí dân sự.

    Buộc Công ty CP S có trách nhiệp nộp án phí dân sự sơ thẩm 18.403.300 đồng

    Buộc Công ty TNHH T6 có trách nhiệp nộp án phí dân sự sơ thẩm 4.000.000 đồng

    Buộc anh Lò K1 H có trách nhiệp nộp án phí dân sự sơ thẩm 2.403.000 đồng

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 04/3/2024, Công ty Cổ phần S kháng cáo đối với phần trách nhiệm dân sự theo hướng không phải bồi thường thiệt hại.

Ngày 07/3/2024, anh Đặng Văn T1 kháng cáo đề nghị xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh Nguyễn Viết T4, tăng hình phạt, tăng mức bồi thường đối với bị cáo; buộc Công ty Cổ phần S và Công ty TNHH T6 đứng ra bồi thường toàn bộ thiệt hại.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm quy kết.
  • Anh Đặng Văn T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
  • Đại diện Công ty TNHH T6 xin tự nguyện bồi thường, hỗ trợ bị hại tổng số tiền 160.000.000 đồng, trong đó 80.000.000 đồng đã bồi thường bị hại, cam kết tiếp tục hỗ trợ bị hại thêm 80.000.000 đồng.
  • Anh Lò Khăm H xin tự nguyện hỗ trợ bị hại số tiền 5.000.000 đồng.
  • Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:
  • Kháng cáo của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong hạn luật định nên được chấp nhận về mặt hình thức.

    Có đủ căn cứ quy kết bị cáo Nghiêm Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cấp sơ thẩm áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết mới. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt của bị hại.

    Bị cáo D không được anh Nguyễn Viết T4 bàn giao xe nâng, bị cáo tự mình giao xe nâng hàng cho Công ty TNHH T6, tự ý điều khiển xa nâng khi chưa được sự đồng ý của anh T4 nên hành vi của anh T4 không cấu thành tội “Đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường bộ, xe máy chuyên dùng không đảm bảo an toàn” và tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo Điều 262 và Điều 360 BLHS. Hành vi của bị cáo không thuộc phạm vi công việc được giao. Vì vậy Công ty Cổ phần S, Anh Lò Khăm H, Công Ty TNHH T6 không có lỗi đối với thiệt hại sức khỏe của bị hại. Vì vậy, Cấp sơ thẩm buộc anh Lò Khăm H, Công ty TNHH T6 và Công ty S liên đới bồi thường là không phù hợp với quy định. Vì vậy, đề nghị chấp nhận kháng cáo xủa Công ty S; tại phiên tòa, Công ty TNHH T6 và anh Lò Khăm H

tự nguyện hỗ trợ bị hại tổng số tiền 165.000.000 đồng nên đề nghị ghi nhận và đối trừ vào nghĩa vụ bồi thường chung.

Cấp sơ thẩm xác định tổng số bồi thường 736.132.000 đồng là thiếu sót. Cần bổ sung thêm tiền chi phí cứu, chữa có hóa đơn là 43.841.601 đồng và tiền mất thu nhập của vợ anh T1 trong thời gian anh T1 nằm viện. Vì vậy đề nghị chấp nhận kháng cáo tăng mức bồi thường thiệt hại và buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại.

  • Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại:
  • Anh Nguyễn Viết T4 được Công ty S giao quản lý 02 xe nâng, 02 xe nâng trên không được kiểm định chất lượng, không đủ điều kiện đưa vào sử dụng, anh T4 không thực hiện việc quản lý đối với 02 xe nâng để bị cáo tự ý sử dụng gây tai nạn. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trách nhiệm hình sự của anh T4 theo quy định tại Điều 262 và Điều 360 Bộ luật Hình sự.

    Bị cáo có nhân thân rất xấu, gây tổn thương nghiêm trọng cho đến thời điểm hiện tại không thể hồi phục, bị hại phải trải qua nhiều đợt điều trị đến nay có một số chức năng cơ thể bị mất đi, gây tổn hại nghiêm trọng đến tinh thần. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt của bị hại.

    Ngoài các chi phí thực tế gia đình bị hại phải chi trả như nội dung đơn kháng cáo; cấp sơ thẩm chưa đánh giá đầy đủ thiệt hại, trong đó có tiền mất thu nhập của anh T1, vợ anh T1, chi phí tiền công người chăm sóc, chi phí bồi dưỡng nâng cao sức khỏe. Ngoài ra, cho đến thời điểm hiện tại, anh T1 cũng chưa hồi phục hoàn toàn, còn phải tiếp tục điều trị, phẫu thuật để hồi phục chức năng bị mất có thể phát sinh thêm nhiều chi phí. Đề nghị chấp nhận kháng cao tăng mức bồi thường của bị hại.

    Công ty S là người quản lý, sử dụng hợp pháp đối với chiếc xe gây tại nạn, Công ty TNHH T6 mượn xe để phục vụ công việc. Cả hai công ty đều không thực hiện việc quản lý cần thiết để bị cáo gây tại nạn, Công ty S2 là người quản lý lao động. Vì vậy cần buộc Công ty TNHH T6 và Công ty S liên đới bồi thường toàn bộ thiệt hại, bị cáo có trách nhiệm hoàn trả.

  • Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty Cổ phần S3:
  • Xe nâng gây tại nạn trong vụ án không phải là nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định tại Điều 601 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo là người lao động thuộc Công ty S nhưng không được giao nhiệm vụ quản lý, điều khiển xe nâng; hành vi của bị cáo là tự phát nên Công ty S hoàn toàn không có lỗi trong vụ việc. Tòa án cấp sơ thẩm xác định Công ty S cố lỗi chính và phải bồi thường ½ thiệt hại là không phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của công ty.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo bị hại, Công ty Cổ phần S trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nghiêm Văn D khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ được tóm tắt nêu trên, bị cáo thừa nhận bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt là đúng người, đúng tội, không oan. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức xử phạt Nghiêm Văn D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[2.1] Về hình phạt đối với bị cáo.

Cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Ngoài thiệt hại 78% sức khỏe, gia đình anh Đặng Văn T1 còn phải chi phí khoản tiền lớn để cứu chữa, phụ hồi sức khỏe, bị cáo có nhân thân rất xấu. Theo đó, mức hình phạt 36 tháng tù cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết mới liên quan đến trách nhiệm hình sự của bị cáo. Vì vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt của bị hại.

[2.2] Về trách nhiệm hình sự đối với anh Nguyễn Viết T4.

Chiếc xe nâng nhãn hiệu Komasu do bị cáo điều khiển gây tai nạn không được đăng ký, đăng kiểm là vi phạm Điều 57 Luật Giao thông đường bộ. Tuy nhiên, chiếc xe trên vẫn được sử dụng hàng ngày; ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn, chiếc xe được anh Lò Khăm H điều khiển vẫn hoạt động bình thường; bị cáo thừa nhận tai nạn xảy ra do bị cáo không đủ kỹ năng điều khiển, không do yếu tố an toàn kỹ thuật của xe nâng gây ra; tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án không đủ xác định xe nâng không đảm bảo

tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn; bị cáo không được anh T4 giao điều khiển xe nâng; trường hợp anh T4 có lỗi trong việc quản lý xe thì cũng không phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Điều 262 Bộ luật Hình sự quy định “Người nào chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật mà cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng rõ ràng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật gây thiệt hại cho người khác ...”. Vì vậy, yêu cầu kháng cáo của bị hại về việc xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh Nguyễn Viết T4 theo Điều 262, Điều 360 Bộ luật Hình sự là không có căn cứ để chấp nhận.

[2.3] Về bồi thường thiệt hại.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguyên nhân trực tiếp gây tổn hại 78% sức khỏe của anh Đặng Văn T1; khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không chịu sự tác động của người khác; việc Công ty TNHH T6 mượn xe, anh Lò K1 H điều khiển xe trước đó không phải nguyên nhân trực tiếp xảy ra tai nạn. Vì vậy, Công ty TNHH T6 và anh Lò Khăm H hoàn toàn không có lỗi với thiệt hại xảy ra.

Bị cáo là người có lỗi đối với thiệt hại nên có trách nhiệm bồi thường.

Công ty Cổ phần S không có lỗi đối với thiệt hại về sức khỏe của anh Đặng Văn T1. Tuy nhiên, Công ty Cổ phần S là người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp đối với xe nâng nhãn hiệu Komasu gây tai nạn; xe nâng gây tai nạn trong vụ án là nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định pháp luật.

Điều 601 Bộ luật Dân sự quy định:

  1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy C1 đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.
  2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật.

  3. ...
  4. Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.”

Bị cáo tự ý điều khiển xe nâng là hành vi chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật; anh Nguyễn Viết T4 được Công ty Cổ phần S giao quản lý đối với 02 xe nâng nêu trên, anh T4 đồng ý cho mượn xe nhưng không thực hiện đủ các biện pháp quản lý để bị cáo có điều kiện sử dụng trái phép, vì vậy Công ty Cổ phần S có lỗi trong việc quản lý nguồn nguy hiểm cao độ nêu trên.

Với các căn cứ nêu trên, cần buộc bị cáo và Công ty Cổ phần S liên đới bồi thường thiệt hại cho anh Đặng Văn T1. Bị cáo là người trực tiếp gây thiệt hại nên phải bồi thường với kỷ phần cao hơn.

Công ty TNHH T6 tự nguyện hỗ trợ, bồi thường số tiền 160.000.000 đồng; anh Lò Khăm H tự nguyện hỗ trợ, bồi thường số tiền 5.000.000 đồng. Sự tự nguyện nêu trên không trái quy định pháp luật nên được ghi nhận. Số tiền Công ty TNHH T6 và anh H hỗ trợ được giảm trừ vào nghĩa vụ bồi thường chung.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại không xuất trình thêm hóa đơn, chứng từ mới. Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thỏa thuận được về bồi thường. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định pháp luật để quyết định.

Bị hại yêu cầu bồi thường tổng số tiền 1.077.259.014 đồng, bao gồm:

  • Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, phục hồi chức năng bị mất, bị giảm sút, chi phí thuê phương tiện phục vụ khám, điều trị. Chi phí phục hồi, bồi dưỡng nâng cao sức khỏe: 374.759.014 đồng + 22.400.000 đồng.
  • Khoản bù đắp tổn thất tinh thần: 90.000.000 đồng.
  • Khoản thu nhập bị mất do phải điều trị, phục hồi: 22.000.000 đồng/tháng x 22 tháng = 484.000.000 đồng.
  • Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc: 106.100.000 đồng.

Trên cơ sở các hóa đơn, chứng từ, tỷ lệ thương tật, các chi phí phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận các khoản bồi thường như sau:

  • Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, phục hồi chức năng bị mất, bị giảm sút, chi phí thuê phương tiện phục vụ khám, điều trị: 374.759.014 đồng;
  • Chi phí phục hồi, bồi dưỡng nâng cao sức khỏe: 20.000.000 đồng;
  • Khoản bù đắp tổn thất tinh thần: 90.000.000 đồng;
  • Cấp sơ thẩm xác định thời gian anh T1 bị mất thu nhập 20 tháng là phù hợp. Theo hợp đồng lao động, tiền lương của anh T1 là 14.096.100 đồng; ngoài ra, hàng tháng anh T1 còn các khoản thu nhập không thường xuyên thể hiện trong sao kê tài khoản. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định thu nhập hàng tháng của anh T1 là 18.000.000 đồng. Như vậy, khoản mất thu nhập của anh T1 được xác định: 20 tháng x 18.000.000 đồng/tháng = 360.000.000 đồng.
  • Khoản mất thu nhập của người chăm sóc: Tổng thời gian anh T1 khám, điều trị tại bệnh viện là 65 ngày, với thương tật phức tạp phải điều trị ở nhiều bệnh viện, Hội đồng xét xử thấy tiền công thuê người chăm sóc tại bệnh viện 500.000 đồng/ngày anh T1 yêu cầu là phù hợp (32.500.000 đồng). Với tỷ lệ thương tật 78%, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận khoản tiền thuê người chăm sóc tại nhà trong thời gian 02 tháng tương đương 17.000.000 đồng.

Như vậy, anh Đặng Văn T1 được nhận bồi thường tổng số tiền 894.259.014 đồng. Đối trừ số tiền 165.000.000 đồng anh Lò Khăm H và Công ty TNHH T6 tự nguyện hỗ trợ, bồi thường. Số tiền bị cáo và Công ty Cổ phần S phải liên đới bồi thường là 729.259.014 đồng, trong đó kỷ phần của bị cáo là 500.000.000 đồng, kỷ phần của Công ty Cổ phần S là 229.259.014 đồng. Bị cáo đã bồi thường 60.000.000 đồng nên được đối trừ vào phần nghĩa vụ.

[3] Về án phí và những nội dung khác có liên quan.

Do có thay đổi về mức bồi thường nên cần xác định lại án phí dân sự cho phù hợp.

Công ty TNHH T6 và anh Lò K1 H không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Công ty Cổ phần S không được chấp nhận kháng cáo nên phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.

Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nghiêm Văn D 03 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự. Sửa phần dân sự của bản án sơ thẩm như sau:

Áp dụng Điều 584, Điều 590, Điều 601 Bộ luật Dân sự.

Ghi nhận Công ty TNHH T6 tự nguyện hỗ trợ, bồi thường anh Đặng Văn T1 số tiền 160.000.000 đồng; anh T1 đã nhận 80.000.000 đồng nên có quyền yêu cầu Công ty TNHH T6 chi trả tiếp 80.000.000 đồng.

Ghi nhận Anh Lò Khăm H tự nguyện hỗ trợ, bồi thường anh Đặng Văn T1 số tiền 5.000.000 đồng. Anh T5 có quyền yêu cầu anh H thực hiện nghĩa vụ nêu trên.

Buộc bị cáo Nghiêm Văn D và Công ty Cổ phần S liên đới bồi thường anh Đặng Văn T1 729.259.014 đồng, trong đó kỷ phần của bị cáo là 500.000.000 đồng, kỷ phần của Công ty Cổ phần S là 229.259.014 đồng đồng. Bị cáo đã bồi thường 60.000.000 đồng, còn phải bồi thường tiếp 440.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

3. Căn cứ Điều 136, Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

3.1. Sửa phần án phí dân sự sơ thẩm như sau:

Buộc bị cáo phải nộp 21.600.000 đồng đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Buộc Công ty Cổ phần S nộp 11.462.950,7 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Lò Khăm H, Công ty TNHH T6 không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

3.2. Buộc Công ty Cổ phần S nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Được đối trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số 0005544 ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • VKSND Tp. Hà Nội;
  • TAND huyện Hoài Đức;
  • VKSND huyện Hoài Đức;
  • Công an huyện Hoài Đức;
  • Chi cục THADS huyện Hoài Đức;
  • Bị cáo; bị hại;
  • Người có QLNVLQ;
  • Lưu HSVA; VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Nhã

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 489/2024/HS-PT ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 489/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nghiêm Văn D - Vi phạm quy định về TGGT đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger