TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 489/2024/DS-PT Ngày 28-6 và ngày 04-7-2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tô Ngọc
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Minh
Ông Phan Nhựt Bình
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thu Phương - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Dũng, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 28 tháng 6 và ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 267/2020/TLPT-DS ngày 22 tháng 4 năm 2020 về việc: “Tranh chấp di sản thừa kế và tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 77/2019/DS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo;
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 832/2024/QĐPT-DS ngày 10 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Võ Hữu T, sinh năm 1964;
Địa chỉ: ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Tạm trú: 155101 W L, S, AZ H, Hoa Kỳ.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Đỗ Thành K, sinh năm 1952;
Địa chỉ: ấp Q, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Chu Văn H thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
- Bị đơn:
- Nguyễn Tiết H1, sinh năm 1956 (chết);
- + Ông Cao Văn T1, Địa chỉ: thôn P, xã P, huyện B, Bình Phước.
- + Bà Cao Thị H3, Địa chỉ: ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
- + Ông Cao Thanh T2, Địa chỉ: ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
- + Ông Cao Minh T3, Địa chỉ: ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ. (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- + Ông Cao Văn T4 Địa chỉ: ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
- 2. Nguyễn Kim L, sinh năm 1958;
- 3. Nguyễn Thị M, sinh năm 1945 (chết năm 2012);
- 4. Nguyễn Thanh D1, sinh năm 1973;
- 5. Võ Thị H4, sinh năm 1974;
Địa chỉ: ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Nguyết Tiết H2:
Đại diện theo ủy quyền của ông T1, bà H3, ông T2, ông T4: Lê Thành Đ, sinh năm 1960; Địa chỉ: số F Rạch G, Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (có mặt).
Địa chỉ: ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà L: ông Trần Quốc D; địa chỉ: C đường F, phường P, thành phố T, TP Hồ Chí Minh (có mặt).
Địa chỉ: ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà M: Phan Văn Vĩnh N, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Tạm trú: H N, Khu phố A, phường T, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt) .
Địa chỉ: ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Tạm trú: Ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1. Nguyễn Thị Yến N1, sinh năm 1995;
- 2. Nguyễn Trí N2, sinh năm 1994;
- 3. Huỳnh Công T5, sinh năm 1963;
- 4. Võ Minh H5, sinh năm 1977;
- 5. Nguyễn Thiết H6, sinh năm 1952;
- 6. Nguyễn Thị Bạch T6, sinh năm 1960;
- 7. Bà Hồ Thị C, sinh năm 1966;
- 8. Ông Đỗ Thành K, sinh năm 1952;
Cùng địa chỉ: ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang (đều vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang (đều vắng mặt).
Địa chỉ: thôn P, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: ấp A, xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Quốc D; địa chỉ: C đường F, phường P, thành phố T, TP Hồ Chí Minh (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước (có mặt, vắng mặt lúc tuyên án).
Địa chỉ: A W L, S, AZ H, Hoa Kỳ.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành K, sinh năm 1952 (có mặt);
Địa chỉ: ấp Q, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: ấp Q, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, đại diện nguyên đơn là ông Đỗ Thành K trình bày:
Ông T khởi kiện bà Nguyễn Tiết H1, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị Kim L1, ông Nguyễn Thanh D1, bà Võ Thị H4 yêu cầu được thừa kế theo di chúc do bà Võ Thị M1 lập ngày 13/9/2006, di sản gồm 5.919m2 đất tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Cụ thể: thửa 1227, diện tích 1.450m2 loại đất trồng cây lâu năm, hiện ông D1 và bà H4 đang sử dụng 374,7m2, phần còn lại thì bà L1 đã chuyển nhượng cho ông Huỳnh Công T5 lúc bà M1 còn sống. Đại diện theo ủy quyền của ông T là ông Đỗ Thành K yêu cầu Tòa án công nhận 02 bản di chúc bà Võ Thị M1 lập ngày 13/9/2006 để lại các phần đất gồm 2 thửa đất cho ông Võ Hữu T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là: Thửa số 44, tờ bản đồ số 3 và thửa số 31 tờ bản đồ số 2, đất tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện G theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 07886 và số CH 07887 ngày 23/10/2014 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp cho ông Võ Hữu T.
* Tại đơn yêu cầu phản tố ngày 29/12/2010 bản tự khai ngày 29/12/2010 và tại biên bản hòa giải ngày 24/7/2018, bị đơn - bà Nguyễn Tiết H1 và đại diện theo ủy quyền là ông Lê Thành Đ trình bày:
Bà H1 không đồng ý giao trả lại phần đất thuộc thửa 1280 nay là thửa 31 tờ bản đồ số 02 diện theo giấy chứng nhận là 3.490m2 (đo đạc thực tế là 3.593,5m2) theo yêu cầu của ông T. Bà yêu cầu tiếp tục sử dụng và được công nhận quyền sử dụng diện tích đất này, vì phần đất này bà được cha mẹ cho sử dụng từ năm 1991 đến nay, bà không có đứng tên trong sổ bộ địa chính nhưng có đóng thuế và hàng năm bà đều giao lúa cho mẹ của bà đầy đủ. Cha mẹ của bà tên Nguyễn Văn M2 (chết năm 1995), Võ Thị M1, chết năm 2007 có 5 người con tên Nguyễn Tiết H1, Nguyễn Thị M, Nguyễn Thiết H6, Nguyễn Kim L1,Nguyễn Thị Bạch T6. Mẹ bà chết có để lại 4 thửa đất như lời trình bày của ông T. Nay bà không đồng ý theo yêu cầu của ông T, bà có đơn phản tố yêu cầu hủy bỏ hai bản di chúc và chia thừa kế theo pháp luật phần diện tích đất 5.939m2 đất tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang làm 5 phần bằng nhau vì đây là tài sản chung chưa chia (của cha bà) và di sản thừa kế của mẹ bà.
Ông Lê Thành Đ là đại diện theo ủy quyền của bà H1 giữ nguyên lời trình bày của bà H1, đồng thời yêu cầu Tòa án hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 07886 và số CH 07887 ngày 23/10/2014 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp cho ông Võ Hữu T.
* Bị đơn - bà Nguyễn Kim L1 trình bày: Bà thống nhất theo lời trình bày và yêu cầu của bà H1. Riêng phần đất ông Huỳnh Công T5 đang quản lý là do bà bán lúc mẹ bà còn sống và đồng ý, nếu ông T5 trả lại đất thì bà không đồng ý trả lại tiền.
* Bị đơn - ông Nguyễn Thanh D1, bà Võ Thị H4 trình bày: Ông bà yêu cầu thực hiện di chúc do bà Võ Thị M1 chết để lại ngày 13/9/2006, di sản mà Yến N1 và Trí N2 được hưởng là diện tích 2.000m2 đất lúa, thửa 1272, tờ bản đồ số 3 tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Hiện trạng phần đất này do ông bà đang sử dụng một phần, phần còn lại hiện bà L1 đang ở, trước đây là nhà thiết, vách lá, nền trước đây do ông M2 lên. Sau khi xảy ra tranh chấp thì bà L1 tự ý cất nhà tường, ông bà yêu cầu bà L1 dỡ nhà, trả đất, không đồng ý bồi hoàn giá trị nhà. Về phần thửa 1277, diện tích 1450m2, loại đất trồng cây lâu năm, ông bà đang quản lý 374,7m2, ông bà đồng ý giao lại cho ông Võ Hữu T sử dụng theo di chúc.
*Tại bản tự khai ngày 07/3/2011 và ngày 17/11/2009, bị đơn -bà Nguyễn Thị M trình bày: Bà là con của ông M2, bà M1 khi bà M1 chết có lập di chúc để lại cho bà diện tích 1.020m2 đất (nằm trong thửa 1272). Hiện trạng phần đất này trước giờ bà quản lý, sử dụng. Nay bà yêu cầu được hưởng di sản theo di chúc của mẹ là Võ Thị M1 lập ngày 13/9/2006, bà đồng ý trả lại cho ông Võ Hữu T phần đất thuộc thửa số 1281.
Hiện nay bà M đã chết, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà M là anh Phan Văn Vĩnh N vẫn giữ nguyên yêu cầu của bà M yêu cầu công nhận phần đất thuộc thửa 1272 là thuộc quyền sử dụng của bà M, Yến N1, Trí N2 và anh N có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Thiết H6 trình bày:
Thống nhất theo lời trình bày và yêu cầu của bà Nguyễn Kim L1 hủy bỏ hai bản di chúc và chia thừa kế theo pháp luật. Ông H6 xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
* Tại biên bản lấy ghi lời khai ngày 18 tháng 3 năm 2010, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Huỳnh Công T5 trình bày: Phần đất hiện ông đang canh tác là do ông mua của bà L1, trước đây là cái mương, sau ông lên nền. Ông không có yêu cầu gì, tùy tòa xem xét giải quyết. Ông T5 xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
* Tại bản tự khai ngày 28 tháng 10 năm 2009, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị Bạch T6 trình bày: Bà yêu cầu công nhận 02 bản di chúc do bà M1 lập, di sản được bà M1 định đoạt cho ai thì người đó được hưởng, bà không đồng ý theo yêu cầu của bà H1 và bà L1.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/8/2011, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Võ Minh H5 trình bày: Ông thừa nhận có thuê đất của bà H1 phần đất ruộng, diện tích khoảng 3.000m2, với giá 15 giạ/1.000m2, không có làm hợp đồng, khi nào bà H1 có nhu cầu sử dụng thì ông trả lại nên ông không có yêu cầu gì.
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 56/2011/DS-ST ngày 14/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
1/ Chấp nhận yêu cầu anh Võ Hữu T.
Chia cho anh Võ Hữu T sử dụng 03 thửa đất theo di chúc:
- + Thửa 1277 tờ bản đồ số 3 diện tích 1450m2 loại đất cây lâu năm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00133 cấp ngày 26/7/2004 theo khảo sát đo đạc có diện tích là 1.490,72m2; Trong đó, ông D1, bà H4 sử dụng 374,7m2, ông T5 sử dụng 84,7m2 nên diện tích thửa 1277 ông T được chia là 1.031,3m2. Ghi nhận bà M, ông D1, bà H4 tự nguyện giao lại cho ông T diện tích là 1031,3m2 tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện G có vị trí: Bắc giáp Võ Thị M1, nam giáp tỉnh lộ 877, đông giáp Nguyễn Kim L1, Điêu Văn P và Huỳnh Công T5, tây giáp Võ Thị M1, Võ Hữu T (kèm theo sơ đồ).
- + Thửa 1280 diện tích 3490m2, loại đất lúa theo khảo sát đo đạc có diện tích là 4.037,89m2 do bà Nguyễn Tiết H1 và anh Võ Minh H5 đang quản lý có trách nhiệm giao lại cho anh Võ Hữu T tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện G có vị trí bắc giáp Võ Thị M1 thửa 1271, nam giáp Võ Thị M1, đông giáp Võ Thị M1, Võ Hữu T, tây giáp Võ Tấn S (kèm theo sơ đồ).
- + Thửa 1281 tờ bản đồ số 3 diện tích 979m2 loại đất thổ + cây lâu năm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00133 cấp ngày 26/7/2004 theo khảo sát đo đạc có diện tích là 784,46m2, ghi nhận tự nguyện của chị Nguyễn Thị M, đồng ý giao lại đất cho anh Võ Hữu T tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện G có vị trí bắc giáp Võ Thị M1 + Võ Hữu T, nam giáp tỉnh lộ 877, đông giáp Nguyễn Văn L2, tây giáp Dương Văn D2, Võ Hữu T (kèm theo sơ đồ).
2/ Chấp nhận yêu cầu bà Nguyễn Thị M, Nguyễn Thanh D1, Võ Thị H4 (đại diện theo pháp luật Nguyễn Thị Yến N1 và Nguyễn Trí N2).
- + Thửa 1272 diện tích 3020m2 đất lúa theo khảo sát đo đạc có diện tích là 3.552,2m2, chị L1 được tiếp tục sử dụng 217,3m2 tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện G có vị trí bắc giáp phần đất còn lại Võ Thị M1 (thửa 1272), nam giáp Võ Thị M1, đông giáp Võ Thị M1, tây giáp Võ Tấn S (kèm theo sơ đồ). Phần diện tích còn lại là 3.334,9m2 giao cho hai cháu Nguyễn Thị Yến N1 và Nguyễn Trí N2 và bà Nguyễn Thị M được tiếp tục quản lý sử dụng chị H4, anh D1 là người đại diện theo pháp luật của hai cháu N1 và N2 được nhận thay phần đất tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện G có vị trí bắc giáp Cao Văn T7, nam giáp Võ Thị M1, đông giáp Lê Văn S1, Cao Văn T7, tây giáp Võ Tấn S (kèm theo sơ đồ).
3/ Không chấp nhận yêu cầu của bà L1, bà H1 về việc yêu cầu được hủy bỏ hai bản di chúc có tên bà Võ Thị M1 xác lập ngày 13/9/2006 cho Võ Hữu T, Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị Yến N1, Nguyễn Trí N2; công nhận 3.000m2 đất lúa cho chị H1; yêu cầu chia sở hữu chung và thừa kế theo pháp luật diện tích 5.939m2 đất tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện G cho 5 anh chị em thành 5 kỷ phần bằng nhau.
Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Nguyễn Kim L1, bà Nguyễn Tiết H1 có đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm nêu trên.
* Tại quyết định số 178/2015/KN-DS ngày 29/5/2015, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm, đề nghị Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm và bản án dân sự sơ thẩm nêu trên, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại.
* Tại quyết định giám đốc thẩm số 38/2016/DS-GĐT ngày 19/02/2016 của Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
- Hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 300/2012/DSPT ngày 13/7/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang và hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 156/2011/DS-ST ngày 14/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định.
* Ngày 10/5/2016 Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây đã thụ lý vụ án để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
* Tại quyết định chuyển vụ án số 126/2016/QĐ-CVA ngày 20/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây đã căn cứ vào khoản 3 Điều 33; điểm c khoản 1 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định:
Chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để giải quyết theo thẩm quyền với lý do tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án, nguyên đơn Võ Hữu T không có mặt tại Việt Nam mà ngụ tại 15257 W country, gables dr, surprise az 85379, USA.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 77/2019/DS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
1/- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Hữu T.
2/- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị H7, bà Võ Thị Kim H8 và ông Nguyễn Thanh D1.
- Công nhận một phần di chúc ngày 13/9/2006 của bà Võ Thị M1 về việc chia thừa kế quyền sử dụng đất cho ông Võ Hữu T, bà Nguyễn Thị M, anh Nguyễn Thị Yến N1 và Nguyễn Trí N2.
- Chia thừa kế theo di chúc của cụ Nguyễn Thị M3 và chia thừa kế theo pháp luật di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn M2 cho những người thừa kế như sau:
- Chia cho ông T thửa đất số 44, tờ bản đồ số 3, loại đất Q+T diện tích 818,6m2 tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang trị giá 1.262.994.000 đồng. Buộc ông T phải hoàn giá trị tài sản thừa kế cho bà L1 với số tiền là 123.485.000 đồng; hoàn cho chị N1 và anh N2 số tiền 3.065.375 đồng; hoàn trả anh N số tiền 177.760.012 đồng; hoàn lại cho ông H6 số tiền 45.125.846 đồng là một phần của kỷ phần thừa kế.
- Chia cho bà H7 thửa đất số 31 tờ bản đồ số 2, diện tích 3.593,5m2, tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang trị giá 546.212.000 đồng.
- Chia cho bà Nguyễn Thị Bạch T6 1 kỷ phần thừa kế có trị giá là 197.112.600 đồng. Buộc bà H7 hoàn giá trị chênh lệch là 197.112.600 đồng cho bà Nguyễn Thị Bạch T6.
- Chia cho ông H6 1 kỷ phần thừa kế trị giá là 197.112.600 đồng. Buộc bà H7 hoàn giá trị chênh lệch còn lại cho ông H6 số tiền 151.986.800 đồng.
- Chia cho bà Nguyễn Thị L1 thửa đất số 301, tờ bản đồ 32, diện tích 487,6m2, tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang trị giá 73.627.600 đồng.
- Chia cho anh Nguyễn Trí N2 và chị Nguyễn Thị Yến N1 thửa đất 316 tờ bản đồ số 32, diện tích 1.897,6m2 và thửa 227 tờ bản đồ số 32 diện tích 352,4m2 tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang trị giá 305.593.200 đồng.
- Chia cho anh Phan Văn Vĩnh N thửa đất số 225 tờ bàn đồ số 32 diện tích 205,2m2 và thửa 218 tờ bản đồ số 32, diện tích 1.105,6m2 tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang trị giá 176.924.400 đồng.
- Buộc bà H8 phải giao thửa đất số 227, tờ bản đồ số 32, diện tích 352,4m2 tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang cho anh Nguyễn Trí N2 và chị Nguyễn Thị Yến N1.
Việc giao đất và tiền được thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
(Có sơ đồ thửa đất kèm theo)
Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa đất được chia theo quy định pháp luật.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí sơ thẩm, trách nhiệm thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 17/12/2019 bị đơn bà Nguyễn Tiết H1 kháng cáo bản án sơ thẩm theo hướng sửa bản án sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 04/01/2010, bị đơn bà Nguyễn Kim L1 kháng cáo bản án sơ thẩm theo hướng hủy bản án sơ thẩm hoặc sửa bản án sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 04/01/2010, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thiết H6 kháng cáo bản án sơ thẩm theo hướng hủy bản án sơ thẩm hoặc sửa bản án sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Ông Lê Thành Đ đại diện cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tung của bà Nguyễn Tiết H1 trình bày: Bà H1 không đồng ý giao trả lại phần đất thuộc thửa 1280 nay là thửa 31 tờ bản đồ số 02 diện theo giấy chứng nhận là 3.490 m² (đo đạc thực tế là 3.593,5 m²) theo yêu cầu của ông T. Bà yêu cầu tiếp tục sử dụng và được công nhận quyền sử dụng diện tích đất này, vì phần đất này bà được cha mẹ cho sử dụng từ năm 1991 đến nay, bà không có đứng tên trong sổ bộ địa chính nhưng có đóng thuế và hàng năm bà đều giao lúa cho mẹ của bà đầy đủ. Cha mẹ của bà tên Nguyễn Văn M2 (chết năm 1995), Võ Thị M1, chết năm 2007 có 5 người con tên Nguyễn Tiết H1, Nguyễn Thị M, Nguyễn Thiết H6, Nguyễn Kim L1, Nguyễn Thị Bạch T6. Mẹ bà chết có để lại 4 thửa đất như lời trình bày của ông T. Nay bà không đồng ý theo yêu cầu của ông T, bà có đơn phản tố yêu cầu hủy bỏ hai bản di chúc và chia thừa kế theo pháp luật phần diện tích đất 5.939 m² đất tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang làm 5 phần bằng nhau vì đây là tài sản chung chưa chia (của cha bà) và di sản thừa kế của mẹ bà. Yêu cầu Tòa án hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 07886 và số CH 07887 ngày 23/10/2014 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp cho ông Võ Hữu T.
Tất cả các tài liệu như khế ước vay vốn, sổ sản xuất...cụ M1 đều lăn tay, thể hiện cụ M1 không biết chữ. Di chúc của cụ M1 không có hai người làm chứng là vi phạm khoản 2 Điều 658 Bộ luật dân sự 2005 và Nghị định số 75 của chính phủ về công chứng, chứng thực. Trong phần diện tích đất đang tranh chấp, cụ M1 có cho bà 3.000 m², bà H1 chưa nhận, nay yêu cầu trừ phần này ra trước khi chia thừa kế. Phan Văn Vĩnh N thừa nhận là con ruột của bà T6, con nuôi của bà M, cấp sơ thẩm chưa xác minh thủ tục giao nhận con nuôi mà đã xác định N là con nuôi, xác định N là người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng, chia một phần tài sản cho N là không đúng.
UBND cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ M1 khi cụ M2 đã chết, không có ý kiến của các đồng thừa kế là trái pháp luật. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho cụ M1, di chúc của cụ M1 không hợp pháp nên Giấy chứng nhận cấp cho ông T cũng không hợp pháp. Đề nghị chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn và chia thừa kế di sản của cụ M2, cụ M1 theo pháp luật.
Ông Trần Quốc D, đại diện cho bà Nguyễn Kim L1 và ông Nguyễn Thiết H6 trình bày: Thống nhất các ý kiến của ông Lê Thành Đ về nguồn gốc di sản, về việc chia di chúc, giấy chứng nhận không hợp pháp do cụ M1 không biết chữ, việc di chúc không có hai người làm chứng là không đúng pháp luật, cấp sơ thẩm không xác minh việc N là con nuôi hay con ruột, thủ tục cho nhận con nuôi, không triệu tập công chứng viên để làm rõ việc công chứng là vi phạm tố tụng. Yêu cầu chấp nhận kháng cáo, bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy hai bản di chúc ngày 13/9/2006, chia di sản theo pháp luật. Riêng về ý kiến cho rằng bà Nguyễn Tiết H1 được cho 3.000 m² nhưng chưa nhận, yêu cầu trừ riêng phần này trước khi chỉ thì bà L1 không đồng ý. Trước khi chết, cụ M1 cho bà T6, bà L1 và bà H1 mỗi người 3.000 m², cả ba người đã nhận và đã bán cho người khác, phần bà H1 được cho 3.000 m² không nằm trong phần di sản còn lại mà các bên đang tranh chấp.
Bà Nguyễn Thị Bạch T6 trình bày: giữ nguyên lời trình bày tại cấp sơ thẩm. Bà M1 biết đọc, biết viết tuy viết chữ không rành, trước khi chết, bà M1 cho T6, Loan H9 mỗi người ba công ruộng, cả ba đã nhận và đều đã bán hết, phần còn lại bà M1 cho T vì khi bà M1 già yếu, T là hàng xóm, ở gần, chăm sóc nuôi dưỡng bà M1, bà M1 bị tai nạn, T là người lo tiền bạc, thuốc men. Đề nghị Tòa án giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện theo ủy quyền nguyên đơn, ông Đỗ Thành K trình bày: đề nghi bác yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm,
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:
Về hai tờ di chúc: cụ M1 là người biết chữ, minh mẫn và đủ sức khỏe khi lập di chúc. Trước khi lập di chúc, cụ M1 đã đi khám sức khỏe, giấy khám sức khỏe thể hiện cụ M1 đủ năng lục hành vi dân sự. không có căn cứ để cho rằng di chúc không hợp pháp. Kết luận giám định xác định dấu vân tay là của cụ M1, công văn của phòng công chứng trả lời tòa án cũng xác định việc công chứng là hợp pháp.
Về hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: bên bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc cấp là không hợp pháp.
Đề nghị bác toàn bộ kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên toà phát biểu:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự.
Về hình thức: đơn kháng cáo của các đương sự làm trong hạn luật định nên được chấp nhận.
Về nội dung: Cụ M2 chết năm 1995, không có di chúc, năm 2006 cụ M1 lập di chúc tại phòng Công chứng là đúng trình tự, thủ tục. Tuy nhiên cụ M1 định đoạt toàn bộ tài sản là không đúng pháp luật. cấp sơ thẩm xác định tài sản chung của cụ M2 và cụ M1 hủy một phần di chúc là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tuy nhiên: theo sổ hộ khẩu số 5901339334 ngày 28/8/2012 thể hiện Phan Văn Vĩnh N và Đỗ Nguyễn Thủy T8 là con nuôi ông Phan Văn T9 (chồng bà M). Chưa đủ căn cứ xác định N là con nuôi bà M. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Đỗ Nguyễn Thủy T8 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là thiếu sót.
Ông Võ Hữu T là người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Cấp sơ thẩm cũng chưa xác minh làm rõ thời gian xuất nhập cảnh của anh T mà đã giao cho ông Đỗ Thành K là đại diện ủy quyền của anh T quản lý sử dụng là không đúng quy định của Luật đất đai.
Do cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đề nghị chấp nhận kháng cáo, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài tiệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Tiết H1 là ông Cao Minh T3, bị đơn bà Võ Thị H8 đều có đơn xin xét xử vắng mặt; người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Nguyễn Thị M là ông Phan Văn Vĩnh N, ông Nguyễn Thanh D1 và một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Vì vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hình thức: đơn kháng cáo của bà Nguyễn Tiết H1, bà Nguyễn Kim L1, ông Nguyễn Thiết H6 làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[3]. Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Nguyễn Tiết H1, bà Nguyễn Kim L1, ông Nguyễn Thiết H6:
Theo sổ hộ khẩu số 5901339334 ngày 28/8/2012 thể hiện Phan Văn Vĩnh N và Đỗ Nguyễn Thủy T8 là con nuôi ông Phan Văn T9 (chồng bà M). Tòa án cấp sơ thẩm chưa mời Đỗ Nguyễn Thủy T8, chưa xác minh T8 có phải con nuôi ông T9, bà M hay không để xác định người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà M là vi phạm tố tụng, không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đỗ Nguyễn Thủy T8.
Bản án dân sự sơ thẩm xác định phần diện tích đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng chung của cụ M2 và cụ M1, từ đó công nhận một phần di chúc ngày 13/9/2006 là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai nhận của các đương sự. Cấp sơ thẩm cũng dựa trên thực tế quản lý, sử dụng để giao phần diện tích đất cho những người đang quản lý và có trách nhiệm thanh toán phần chênh lệch cho những người không nhận đất là có căn cứ. Tuy nhiên, bị đơn có yêu cầu phản tố hủy di chúc, hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho cụ M1, sau đó cấp cho ông Võ Hữu T và thực tế cấp sơ thẩm hủy một phần di chúc, giao cho những người khác một phần diện tích đã được cấp Giấy chứng nhận cho ông Võ Hữu T mà không đưa cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tham gia tố tụng là vi phạm Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét thấy, do vi phạm thủ tục tố tụng, cần chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Tiết H1, bà Nguyễn Kim L1, ông Nguyễn Thiết H6, hủy Bản án dân sự sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[4]. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, đại diện Viện kiểm sát đề nghị hủy bản án dân sự, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: bà Nguyễn Tiết H1, bà Nguyễn Kim L1, ông Nguyễn Thiết H6, không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do hủy bản án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ nghị nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Tiết H1, bà Nguyễn Kim L1, ông Nguyễn Thiết H6, hủy bản án sơ thẩm số 77/2019/DSST ngày 06/12/2019, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Tiết H1, bà Nguyễn Kim L1, ông Nguyễn Thiết H6 không phải chịu.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Các thẩm phán | Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa | |
Nguyễn Văn Minh | Phan Nhựt Bình | Phan Tô Ngọc |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Tô Ngọc |
Bản án số 489/2024/DS-PT ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 489/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Tiết H1, bà Nguyễn Kim L1, ông Nguyễn Thiết H6, hủy bản án sơ thẩm số 77/2019/DSST ngày 06/12/2019, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
