|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG Bản án số: 489/2025/DS-ST Ngày 30/9/2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Hoàng Minh Trinh
- Ông Nguyễn Xuân Tùng
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Nguyên Lương, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 212/2025/TLST-DS ngày 17 tháng 04 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2025/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S. Trụ sở: 2 N, phường X, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đoàn Quốc C (Theo giấy ủy quyền số 40/2025/UQ-PGD-CC ngày 24/03/2025). Địa chỉ: B Ông Í, phường H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1997. Địa chỉ hộ khẩu thường trú: B L, phường H, thành phố Đà Nẵng; Địa chỉ liên hệ: K H, phường H, thành phố Đà nẵng. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, theo lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn nội dung vụ án như sau:
Ngày 30/11/2019, ông Nguyễn Thành Đ có ký với Ngân hàng TMCP S Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Căn cứ thu nhập của ông Đ, Ngân hàng đã cấp hạn mức tín dụng 20.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Lãi suất trong hạn: 2.77%/tháng, Lãi suất quá hạn: 4.15%/tháng (2.77% x 150%).
Trong quá trình sử dụng thẻ tính đến ngày 22/12/2023, ông Đ đã thực hiện nhiều giao dịch với tổng số tiền là 71.651.459 đồng. Ông Đ đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 78.426.814 đồng. Trong đó: phí trễ hạn: 1.080.000 đồng, phí vượt hạn mức: 300.000 đồng, phí: 1.995.000 đồng, lãi phát sinh: 24.432.603 đồng và thanh toán gốc 50.619.211 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Đến ngày 23/4/2024, ông Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Đ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Tính đến ngày 15/9/2025, ông Đ còn nợ ngân hàng số tiền 42.129.560 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi hai triệu một trăm hai mươi chín ngàn năm trăm sáu mươi đồng). Trong đó, dư nợ 24.684.531 đồng, lãi quá hạn 17.445.029 đồng.
Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông Đ thanh toán khoản nợ trên, tuy nhiên bị đơn vẫn chưa thanh toán. Nay, ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Thành Đ phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 15/9/2025 là 42.129.560 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi hai triệu một trăm hai mươi chín ngàn năm trăm sáu mươi đồng). Buộc ông Đ phải thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 16/9/2025 cho đến khi trả hết dư nợ thẻ theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng đã ký.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do, đồng thời không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Thành Đ phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 15/9/2025 là 42.129.560 đồng là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt đến lần thứ hai, do đó HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[3] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả số tiền 42.129.560 đồng và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 16/9/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ thì thấy: Vào ngày 30/11/2019, ông Nguyễn Thành Đ có ký với Ngân hàng TMCP S Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của ông Đ, Ngân hàng đã cấp hạn mức tín dụng 20.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Lãi suất trong hạn: 2.77%/tháng, Lãi suất quá hạn: 4.15%/tháng (2.77%x150%). Đây là hợp đồng vay tài sản và hợp đồng này thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và quy định của Luật Các tổ chức tín dụng nên có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên, buộc các bên tham gia giao dịch phải tuân thủ thực hiện.
Trong quá trình sử dụng thẻ đến ngày 22/12/2023, ông Đ đã thực hiện nhiều giao dịch với tổng số tiền là 71.651.459 đồng. Ông Đ đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 78.426.814 đồng. Trong đó: phí trễ hạn: 1.080.000 đồng, phí vượt hạn mức: 300.000 đồng, phí: 1.995.000 đồng, lãi phát sinh: 24.432.603 đồng và thanh toán gốc 50.619.211 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Đến ngày 23/4/2024, ông Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Đ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
HĐXX nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký, phù hợp quy định của các điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên cần chấp nhận, buộc ông Nguyễn Thành Đ phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 15/9/2025 là 42.129.560 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi hai triệu một trăm hai mươi chín ngàn năm trăm sáu mươi đồng). Buộc ông Đ phải thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 16/9/2025 cho đến khi trả hết dư nợ thẻ theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng đã ký.
[4] Đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.106.478 đồng (Hai triệu một trăm lẻ sáu ngàn bốn trăm bảy mươi tám đồng). Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;
- - Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Khoản 2 Điều 227, 228, 266, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng thương mại cổ phần S đối với ông Nguyễn Thành Đ. Xử: Buộc ông Nguyễn Thành Đ phải trả cho ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền 42.129.560 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi hai triệu một trăm hai mươi chín ngàn năm trăm sáu mươi đồng). Trong đó, dư nợ 24.684.531 đồng, lãi quá hạn 17.445.029 đồng.
Ông Nguyễn Thành Đ phải tiếp tục chịu tiền lãi theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 16/9/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân hàng.
- Án phí dân sự sơ thẩm: 2.106.478 đồng (Hai triệu một trăm lẻ sáu ngàn bốn trăm bảy mươi tám đồng) ông Nguyễn Thành Đ phải chịu. Hoàn trả cho ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí 903.881 đồng (Chín trăm lẻ ba ngàn tám trăm tám mươi mốt đồng) theo biên lai thu số 0005387 ngày 17/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - Đương sự; - VKSND khu vực 1 - ĐN; - Phòng THADS khu vực 1 - Đà Nẵng; - Lưu hồ sơ. |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Thủy |
Bản án số 489/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 489/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng thương mại cổ phần S đối với ông Nguyễn Thành Đ. Xử: Buộc ông Nguyễn Thành Đ phải trả cho ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền 42.129.560 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi hai triệu một trăm hai mươi chín ngàn năm trăm sáu mươi đồng). Trong đó, dư nợ 24.684.531 đồng, lãi quá hạn 17.445.029 đồng.
