Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 4886/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30-9-2024

V/v: Ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Quyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đăng Vạn
  2. Bà Đặng Thị Thu Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Lê Quang Đạo – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 591/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 6738/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 7755/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1972
  2. Địa chỉ: Số F L, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bị đơn: Ông Võ Thuận H, sinh năm 1970
  4. Địa chỉ: Số F L, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Các đương sự đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị D trình bày:

Bà và ông Võ Thuận H có tìm hiểu nhau, tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn ngày 21 tháng 6 năm 1993 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T nay là phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi kết hôn, ông bà sinh sống cùng gia đình vợ tại phường H, đến năm 2015 thì cất nhà và chuyển về sinh sống ổn định tại địa chỉ: Số F L, Khu phố A (Tổ E, Khu phố F cũ), phường T, thành phố T đến nay. Quá trình chung sống hạnh phúc được hơn một năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông H thường xuyên ăn nhậu say xỉn rồi về chửi mắng, xô xát với vợ. Ông bà đã ly thân từ năm 2018 đến nay dù vẫn sống chung nhà. Bà D và các con nhiều lần khuyên ngăn mong ông H thay đổi nhưng ông H đều không có kết quả. Nay bà D cảm thấy không còn tình cảm vợ chồng, không thể hàn gắn đoàn tụ nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Võ Thuận H.

Về con chung: Bà D xác nhận bà và ông H có 02 người con chung tên Võ Thuận P, sinh ngày 05 tháng 12 năm 1993 và Võ Hùng P1, sinh ngày 19 tháng 3 năm 2003 đều đã trưởng thành.

Về tài sản chung: Bà D xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Bà D tự khai không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cho ông Võ Thuận H đến Tòa án để trình bày lời khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông H và không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn ông Võ Thuận H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Xác định đúng người tham gia tố tụng; Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ thể, về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị D được ly hôn với ông Võ Thuận H; Về con chung: có 02 người con chung tên Võ Thuận P, sinh ngày 05 tháng 12 năm 1993 và Võ Hùng P1, sinh ngày 19 tháng 3 năm 2003 đều đã trưởng thành; Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Nợ chung: không có; Về án phí: Bà D phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ lời khai của đương sự trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị D nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Võ Thuận H, ông H có nơi cư trú tại phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn ông Võ Thuận H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

[3] Xét yêu cầu của đương sự:

Bà Nguyễn Thị D và ông Võ Thuận H tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn ngày 21 tháng 6 năm 1993 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T nay là phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 30/1993, quyển số 01 nên hôn nhân giữa bà D và ông H là hợp pháp.

Theo lời khai của bà D, cuộc sống chung hạnh phúc được hơn một năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông H thường xuyên say xỉn nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát. Bà D và các con nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông H không thay đổi. Từ năm 2018 đến nay vợ chồng đã ly thân, tình cảm vợ chồng không còn nên bà D yêu cầu được ly hôn với ông H.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng ông Võ Thuận H không đến Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ông H không đến Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mặc dù Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định. Điều đó thể hiện việc ông H cố tình bỏ mặc, không còn quan tâm đến hôn nhân giữa ông với bà D. Xét thấy lời khai của bà D là phù hợp với thực tế nêu trên. Mâu thuẫn giữa bà D và ông H đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Diễm đối V ông Võ Thuận H là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Có 02 người con chung tên Võ Thuận P, sinh ngày 05 tháng 12 năm 1993 và Võ Hùng P1, sinh ngày 19 tháng 3 năm 2003 đều đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Bà D xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nợ chung: Bà D tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị D phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

    Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị D được ly hôn với ông Võ Thuận H.

    Giấy chứng nhận kết hôn số 30/1993, quyển số 01, đăng ký ngày 21 tháng 6 năm 1993 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T nay là phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý.

    Về con chung: Có 02 người con chung tên Võ Thuận P, sinh ngày 05 tháng 12 năm 1993 và Võ Hùng P1, sinh ngày 19 tháng 3 năm 2003 đều đã trưởng thành.

    Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị D xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Nợ chung: Bà Nguyễn Thị Diễm T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà D đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng số: 0025726 ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà D đã nộp đủ án phí.
  3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Lệ Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4886/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 4886/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger