TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU Bản án số: 488/2025/DS-PT Ngày 11 - 12 - 2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Quang Thế
Các Thẩm Phán: Ông Nguyễn A Đam
Bà Đinh Cẩm Đào
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn – Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Từ Thanh Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 150/2025/TLPT-DS ngày 20 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2018/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn (nay là Tòa án khu vực 5 – Cà Mau) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 464/2025/QĐ-PT ngày 11 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
· Nguyên đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1940. Địa chỉ cư trú: Số G, Nguyễn Tất T1, Khóm C, xã N, tỉnh Cà Mau (có mặt).
· Bị đơn: Ông Ngô Văn P, sinh năm 1954. Địa chỉ cư trú: Ấp Ô, xã Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lê Thị H, sinh năm 1962 (con ông T). Địa chỉ cư trú: Số H, ngách B, ngõ A, đường C, Thành Phố Hà Nội.
- Anh Lê Hoàng C, sinh năm 1967 (con ông T). Địa chỉ cư trú: Số G, đường A, xã K, tỉnh Hưng Yên.
- Chị Lê Thị Hương N, sinh năm 1968 (con ông T). Địa chỉ cư trú: Khóm C, xã N, tỉnh Cà Mau.
- Chị Lê Thị T2, sinh năm 1973 (con ông T). Địa chỉ cư trú: Số A, ấp Ông T3, xã Đ, tỉnh Cà Mau.
- Anh Lê Văn T4, sinh năm 1976 (con ông T). Địa chỉ cư trú: Khóm C, xã N, tỉnh Cà Mau.
- Ông Ngô Văn S, sinh năm 1947 (anh ông P). Địa chỉ cư trú: Khóm C, xã N, tỉnh Cà Mau.
- Bà Ngô Thị Đ, sinh năm 1949 (chị ông P). Địa chỉ cư trú: Số A, đường N, phường L, tỉnh Cà Mau.
- Ông Ngô Văn X, sinh năm 1951 (anh ông P);
- Bà Ngô Thị H1, sinh năm 1953 (chị ông P). Ông X, bà H1 cùng địa chỉ cư trú: Ấp T, xã Đ, tỉnh Cà Mau.
- Ông Ngô Văn M, sinh năm 1959 (em ông P). Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã Đ, tỉnh Cà Mau.
- Ông Ngô Út E, sinh năm 1971 (em ông P). Địa chỉ cư trú: Khóm C, xã N, tỉnh Cà Mau.
- Bà Trầm Thị H2, sinh năm 1957 (vợ ông P). Địa chỉ cư trú: Ấp Ô, xã Đ, tỉnh Cà Mau.
- Anh Lê Văn H3 con của ông Lê Văn T và bà Hoàng Thị U (anh H3 chết năm 2001), Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của anh Lê Văn H3 là: Anh Lê Thúy A, sinh năm 1996 (con anh H3); Chị Lê Bảo N1, sinh năm 2000 (con anh H3); Bà Phạm Thị L, sinh năm 1972 (vợ anh H3). Cùng địa chỉ cư trú: Khóm I, xã N, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Ông Lê Văn T là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 12 năm 2016 và đơn khởi kiện được sửa đổi bổ sung và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện nguyên đơn ông Lê Văn T trình bày yêu cầu khởi kiện: Năm 1986 gia đình ông T có sang nhượng của ông Võ Văn M1 hai bang đất Đ1 và T5 lộ đất đen (nay là quốc lộ A), phần đất tại ấp C (nay là khóm C), thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Về nguồn gốc phần đất: Cuối năm 1975 ông Trần Văn H4 được Nhà nước cấp phần đất giáp kênh C, năm 1982 ông H4 sang lại cho ông Võ Văn M1, năm 1986 ông M1 sang lại cho vợ chồng ông Lê Văn T (vợ ông T bà Hoàng Thị U đã chết năm 2011) với giá là 19.000 đồng, diện tích ngang 12 tầm (tầm 3m), dài đến sông C.
Vị trí phần đất ban đầu: Phía đông giáp kênh thủy lợi, phía tây giáp sông C, phía nam giáp đất ông Phạm Văn H5 và ông Phạm Văn H6, phía bắc giáp phần đất ông B, ông B sang đất lại cho ông T1. Ba gia đình ông H4, ông M1, ông T đã luân phiên quản lý, sử dụng ổn định từ năm 1986 đến năm 2016 ông T đi đăng ký quyền sử dụng (QSD) đất thì địa chính thị trấn cho hay là không đăng ký được vì đất này có anh M2 đăng ký. Khi làm đường H do đất đang tranh chấp nên chưa được bồi thường.
Ông T có gửi đơn đến Ủy ban nhân dân thị trấn N để giải quyết tranh chấp thì ông P xuất hiện và cho rằng phần đất này là của ông P do Nhà nước cấp cho gia đình ông P vào năm 1975, cấp để đóng đáy, bắt tôm.
Ngày 14/11/2016 gia đình ông P đến tác động lên phần đất dựng cọc que và chặt phá cây cối trong đó có 04 cây mắm 25-30 tuổi, đường kính khoảng 25-30cm.
Nay ông T yêu cầu Tòa án công nhận QSD đất diện tích chiều ngang 4,5m dài 20m tổng diện tích là 90m², tọa lạc tại khóm C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau là của ông T. Vị trí đất phần đất có tranh chấp: Phía Đông giáp quốc lộ A, Phía Tây giáp sông C, phía Nam giáp đất ông Ngô Văn Q, phía bắc giáp đất không ổn định của ông T do tranh chấp với ông Trần Như Q1, giá trị phần đất hiện nay theo ông T là 80.000.000 đồng. Đối với thiệt hại về cây cối trước đây yêu cầu bồi thường 500.000 đồng, nay rút lại không yêu cầu.
Bị đơn ông Ngô Văn P trình bày: Năm 1976 vợ chồng ông Ngô Văn P được cha mẹ ruột là cụ Ngô Văn P1 và cụ Nguyễn Thị H7 cho phần đất ở thuộc Khóm C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau. Nguồn gốc phần đất là cụ P1 được Nhà nước cấp vào cuối năm 1975, cùng thời điểm cấp cho cụ P1 có các ông Ngô Văn S và bà Trần Thị Q2, diện tích mỗi hộ chiều rộng 50m, cất nhà ở để đóng đáy và làm sân phơi tôm, cá. Quá trình sử dụng đất năm 1998 hàng đáy bị giải tỏa ông P về xã Đ ở, căn nhà cho cháu là Ngô Thị H8 ở, năm 2004 nhà sập cháu H8 không ở đó nửa; Do vợ bệnh có khó khăn về kinh tế nên ông P đã chuyển nhượng cho một số người, hiện nay còn lại 4,5m chiều rộng có tranh chấp với ông T. Vị trí phần đất khi được tặng cho: Phía đông giáp kênh thủy lợi (giáp quốc lộ A hiện nay), phía Tây giáp sông C, phía Nam giáp đất ông Út Q3, phía Bắc giáp đất ông Ngô Văn S.
Phần đất tranh chấp khi giải tỏa làm đường H có bồi thường ông P nhận tiền bồi thường là 4.900.000 đồng đối với hai phần đất, một phần đất sang cho ông T6 cua và một phần có tranh chấp với ông T.
Ông T yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho ông T, ông P không đồng ý vì đất này là của ông P. Ông T nhận chuyển nhượng đất vào năm 1986, còn ông P đã sử dụng đất từ năm 1976 nên nói đất này của ông T là không đúng.
Đối với yêu cầu bồi thường tiền chặt cây là 500.000 đồng thì ông P không đồng ý vì đất không phải của ông T và cây mắm tự mọc chứ không phải ông T trồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Chị Lê Thị H (con ông T) trình bày:
Phần đất tranh chấp là của gia đình chị H sang nhượng có giấy tờ theo đúng luật đất đai năm 1993 nên yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Văn T là chính đáng, hợp pháp và có đầy đủ cơ sở. Không chấp nhận ý kiến của bị đơn vì không có căn cứ pháp lý, Quốc lộ A năm 1975 chưa có, đến năm 1984 mới có lộ đất đen, yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
- Anh Lê Hoàng C (con ông T) trình bày:
Yêu cầu khởi kiện của cha (ông T) là chính đáng, hợp pháp và có đầy đủ cơ sở để giải quyết; Không chấp nhận lời khai không hợp lý của ông P, yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
- Chị Lê Thị Hương N (con ông T) trình bày:
Phần đất tranh chấp là của gia đình chị sang nhượng, ông P trình bày đất được cấp vào năm 1975 có mốc là quốc lộ A, cấp để đóng đáy, diện tích ngang từ nhà ông Tư S1 đến nhà bà Út N2 là không đúng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của cha chị (ông T) là chính đáng, hợp pháp, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
- Chị Lê Thị T2 (con ông T) trình bày:
Phần đất tranh chấp là của gia đình chị sang nhượng, loại đất trồng có nguồn gốc Nhà nước cấp. Ông P khai rằng đất này là của ông P, được cấp vào năm 1975 có mốc là quốc lộ A, cấp để đóng đáy, diện tích ngang từ nhà ông Tư S1 đến nhà bà Út N2 là không đúng, chị T2 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T và yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
- Anh Lê Văn T4 (con ông T) trình bày:
Yêu cầu khởi kiện của cha (ông T) là chính đáng, hợp pháp và có đầy đủ cơ sở giải quyết, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Ông Ngô Văn S, bà Ngô Thị Đ, ông Ngô Văn X, bà Ngô Thị H1, ông Ngô Văn M, ông Ngô Út E đồng ý kiến trình bày:
Nguồn gốc phần đất ông Lê Văn T tranh chấp với ông Ngô Văn P là của cụ Ngô Văn P1 là cha ruột của các ông bà.
Năm 1975 cụ Ngô Văn P1, ông Ngô Văn S và bà Trần Thị Q4 được chính quyền địa phương cấp cho mỗi hộ một phần đất ngang 50 mét. Đến năm 1976 cụ P1 cho Ngô Văn P phần đất này để cất nhà làm sân phơi tôm, cá. Do hoàn cảnh khó khăn nên ông P đã chuyển nhượng hiện còn lại 4,5 mét chiều rộng.
Việc ông T cho rằng phần đất là của ông T và yêu cầu Tòa án công nhận QSD đất là không có căn cứ. Vì ông T sang phần đất ở Khóm C vào năm 1986 đối diện với phần đất của ông P và cho rằng ông P chiếm đất là vô lý.
Do đất này cha mẹ cho ông P từ năm 1976 nên các ông bà không đặt ra yêu cầu.
- Bà Trầm Thị H2 (vợ ông P) trình bày:
Phần đất đang tranh chấp là của vợ chồng bà H2 – ông P được cha mẹ chồng cho năm 1976. Nguồn gốc, cụ Ngô Văn P1 là cha chồng được Nhà nước cấp đất vào năm 1975, đến năm 1976 thì cụ P1 cho lại vợ chồng bà toàn bộ diện tích đất. Quá trình quản lý, sử dụng do bà H2 bị bệnh nên đã cắt chuyển nhượng một phần, diện tích đất hiện nay còn lại là 4,5m chiều rộng. Bà H2 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T, vì 1986 ông T mới nhận chuyển nhượng phần đất tại khóm C đối diện với nhà của vợ chồng bà H2. Bà H2 yêu cầu Tòa án công nhận QSD phần đất trên cho vợ chồng bà.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của anh H3 con ông T là cháu Lê Thúy A, cháu Lê Bảo N1 (chị Phạm Thị L đại diện hợp pháp cho cháu) trình bày: Anh H3 là con ruột ông T, anh H3 chết năm 2001. Đối với phần đất có tranh chấp giữa ông T (cha chồng) và ông P thì không biết phần đất là của ai. Nhưng năm 2000 chị L về làm dâu, nhà cha chồng đối diện với phần đất tranh chấp, khi đó có ông Q, ông P và ông L1 sinh sống tại phần đất đối diện; Hiện tại hai cháu A và N1 đi học, xét thấy không có liên quan nên từ chối tham gia tố tụng và không đặt ra yêu cầu.
Từ nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số:15/2018/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn (nay là Tòa án Khu vực 5 – Cà Mau) Quyết định:
1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T về việc yêu cầu ông Ngô Văn P bồi thường thiệt hại về cây cối trên đất.
2. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng phần đất ở đối với phần đất có tranh chấp với ông P, phần đất tọa lạc tại Khóm C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau thuộc thửa đất số 18 tờ bản đồ số 48 thuộc bản đồ năm 2012 có diện tích 90m².
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 23/8/2018 Ông T kháng cáo, ngày 24/8/2018 ông T kháng cáo bổ sung yêu cầu sửa án sơ thẩm công nhận phần đất tranh chấp là của ông.
Tại bản án dân sự phúc thẩm số: 290/2019/DS-PT ngày 31 tháng 10 năm 2019 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án phúc thẩm số 02/QĐ-SCBSBA ngày 16/01/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau Quyết định:
1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T về việc yêu cầu ông Ngô Văn P bồi thường thiệt hại về cây cối trên đất.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T. Buộc ông Ngô Văn P cùng vợ là bà Trầm Thị H2 giao trả lại cho ông Lê Văn T phần đất có diện tích 90m² tọa lạc tại khóm C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau thuộc thửa đất số 18, tờ bản đồ số 48, thuộc bản đồ năm 2012 (kèm theo bản vẽ ngày 01/8/2017), vị trí: Mặt tiền giáp Quốc lộ A có chiều rộng 4,5m; mặt hậu giáp sông C có chiều rộng 4,5m; cạnh phải giáp thửa số 13, dài 20m (phần đất ông Trần Như Q1 đang tranh chấp với ông Lê Văn T), cạnh trái giáp thửa số 19 (nhà ông Ngô Văn Q), dài 20m.
Ngoài ra án phúc thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số: 281/2024/DS-GĐT ngày 20 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh Quyết định:
1. Chấp nhận toàn bộ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 75/2024/KN-DS ngày 30/8/2024 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
2. Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 290/2019/DS-PT ngày 31/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau để xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông T cho rằng, năm 1976 ông H9 được cấp đất từ kinh sáng đến mé sông, ông H9 bán đất cho ông M1, năm 1982 ông M1 bán lại cho ông cũng đúng vị trí đó, khi ông tiếp quản đất thì ông T chưa về đó sống, ông T cùng hai người nữa làm hàn đáy nếu được cấp đất 50m thì cũng nằm dọc theo lòng sông vì đáy bắt cá không thể nằm trên bờ, nói đất này của ông P chỉ có khả năng là chiếm của ông mà có, ông yêu cầu chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.
Ông P không tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu: Về tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung, giấy tờ mua bán đất của ông T không có diện tích và tứ cận, hai bang đất trong giấy tờ mua bán thời điểm đó chưa có quốc lộ A, do đó bang đất phía tây có thuộc phần đất tranh chấp không? Ông T không chứng minh được, nên kiến nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 15/2018/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn (nay là Tòa án Khu vực 5). Do cơ quan THA dân sự huyện N đã thi hành giao phần đất tranh chấp cho ông T nhưng diện tích chỉ có 80m² nhỏ hơn diện tích trong bản án sơ thẩm 10m² nên buộc ông T hoàn trả lại cho ông P diện tích 80m².
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hình thức, về nội dung và thời hạn kháng cáo được ông T thực hiện đúng quy định tại các Điều 272, 273 Bộ luật TTDS, đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét kháng cáo của ông theo quy định. Về thẩm quyền cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 26, 35 Bộ luật TTDS.
[2] Xét kháng cáo của ông T: HĐXX nhận thấy theo đơn xin nhượng đất của ông Võ Văn M1 cho ông T ngày 6-7-1986 (bút lục số 14) không thể hiện diện tích đất và vị trí tứ cận của phần đất chuyển nhượng, còn ông H4 là người chuyển nhượng đất cho ông M1 cho rằng ông được cấp đất năm 1976 có chiều dài từ kênh thủy lợi đến giáp sông Cái Nai nhưng lại không có giấy tờ gì chứng minh cho vị trí tiếp giáp sông Cái Nai. Hiện tại phần đất phía trong quốc lộ A ông T đã được cấp QSDĐ, phần đất phía ngoài quốc lộ đối diện phần đất của ông T giáp sông C (Đất đang tranh chấp) ông T chưa được cấp QSDĐ, cấp sơ thẩm có thu thập chứng cứ tại cơ quan quản lý đất đai ở địa phương trong bản đồ và sổ mục kê thì toàn bộ phần đất mé sông không có tên ông T đăng ký. Ngoài phần đất tranh chấp với ông P, ông T cho rằng đất của ông còn bị bà D chiếm 10m; ông L1 4,5m; ông Q 5m, những người chiếm đất này đã được ông khởi kiện ra tòa có vụ tranh chấp dân sự, có vụ tranh chấp hành chính, tại Quyết định giám đốc thẩm số 31/2023/HC-GĐT ngày 26/6/2023, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã xác định “Ông T không có tài liệu, chứng cứ chứng minh năm 1976 ông H9 được cấp đất có vị trí từ sông C đến Kênh thủy lợi. Năm 1982, ông H9 chuyển nhượng lại cho ông M1 và năm 1986 ông M1 chuyển nhượng lại cho ông T cũng không thể hiện vị trí đất và diện tích thửa đất. Quá trình sử dụng đất kê khai, đăng ký và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại vị trí từ Quốc lộ A đến Kênh thủy lợi (thửa đất số 240 và thửa đất số 241, tờ bản đồ số 01, thị trấn N, huyện N, tỉnh Minh Hải); phần diện tích đất từ Quốc lộ A đến sông Cái Nai ông T không kê khai và không thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước. Ông T không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 nên việc ông T chỉ đặt lú, bắt tôm cá, trồng cây đước để cải thiện đời sống và làm chỗ đậu tàu thuyền ở vị trí từ Quốc lộ A đến sông C không phải là căn cứ xác lập quyền sử dụng đất hợp pháp của ông T”. Như vậy, phần đất tranh chấp giữa ông T với ông P có vị trí từ Quốc lộ A đến mé sông Cái N nằm trong bang đất phía tây mà ông T khai nhận, đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xác định không thuộc quyền sử dụng đất của ông T. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T là có cơ sở. Nên kháng cáo của ông T không được chấp nhận.
[3] Sau khi bản án dân sự phúc thẩm số 290/2019/DS-PT ngày 31/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau có hiệu lực, cơ quan THA dân sự huyện N đã thi hành bàn giao đất cho ông T nhưng diện tích bàn giao chỉ có chiều ngang 4m, chiều dài 20m, diện tích 80m² (BL 792,793,794), nên buộc ông T bàn giao lại phần diện tích đất này cho ông P theo quy định tại điều 313 BLTTDS.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[4] Về chi phí tố tụng gồm chi phí đo đạc, thẩm định và định giá tại cấp sơ thẩm là 1.869.900 đồng, tại cấp phúc thẩm là 1.000.000 đồng tổng cộng là 2.869.900 đồng do yêu cầu của ông T không được chấp nhận nên ông T phải chịu toàn bộ chi phí này, ông đã tạm ứng thanh toán xong không phải nộp thêm. Quá trình thi hành án ông P chưa thi hành khoản tiền này cho ông T, nên không đặt ra việc hoàn lại.
[5] Về án phí sơ thẩm và phúc thẩm: Ông T là người cao tuổi nên được miễn nộp, khoản tiền dự nộp án phí sơ và phúc thẩm của ông được hoàn lại theo quy định tại Điều 147, 148 Bộ luật TTDS. Tại phiên tòa ông T xác định ông đã nhận lại số tiền này xong, nên không xem xét hoàn lại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 147,148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T7 quy định về án phí và lệ phí Toà án. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 15/2018/DS-ST ngày 09/8/2018 của Toà án nhân dân huyện Năm Căn (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Cà Mau). Tuyên xử:
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T về việc yêu cầu ông Ngô Văn P bồi thường thiệt hại về cây cối trên đất.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng phần đất tranh chấp với ông Ngô Văn P, có diện tích 90m² (Theo biên bản về việc tự nguyện bàn giao tài sản thi hành án là 80m²) tọa lạc tại khóm C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau (Nay là Khóm C, xã N, tỉnh Cà Mau) thuộc thửa số 18, tờ bản đồ số 48, thuộc bản đồ năm 2012 (kèm theo bản vẽ ngày 01/8/2017), vị trí: Mặt tiền giáp Quốc lộ A có chiều rộng 4,5m; mặt hậu giáp sông C có chiều rộng 4,5m; cạnh phải giáp thửa số 13, dài 20m (phần đất ông Trần Như Q1 đang tranh chấp với ông Lê Văn T), cạnh trái giáp thửa số 19 (nhà ông Ngô Văn Q), dài 20m.
Do cơ quan Thi hành án dân sự đã thi hành giao phần đất này cho ông T nên ông T có nghĩa vụ giao trả lại phần đất này cho ông P.
- Chi phí đo đạc thẩm định và định giá ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm là 2.869.900 đồng, ông T phải chịu toàn bộ, ông đã tạm ứng thanh toán xong không phải nộp thêm.
- Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm ông T được miễn nộp, ông đã được hoàn trả tiền dự nộp án phí xong.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ninh Quang Thế |
Bản án số 488/2025/DS-PT ngày 11/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 488/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
