Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

————————————

Bản án số: 488/2024/DS-PT

Ngày: 28 - 11 - 2024

V/v “Yêu cầu tuyên bố

văn bản công chứng vô hiệu.”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa

Các Thẩm phán: Bà Trinh Thị Phúc

Ông Đặng Văn Những

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhã Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 25 và 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 359/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024, về việc: “Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 92 /2024/DS-ST ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh L bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 336/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Thu H, sinh năm 1984. (có mặt)
  2. Địa chỉ: Số C, khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh B.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H: Ông Thái Hoàng D -Luật sư Chi nhánh Văn phòng luật sư Nguyễn Hòa B - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L (có mặt)

    Địa chỉ: Ô, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.

  3. Bị đơn: Ông Phan Tấn T, sinh năm 1996
  4. Địa chỉ: Số G Ni Sư H, phường A, quận T, Thành phố H.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Phan Tấn T: Bà Phùng Thị U, sinh năm 2001. Địa chỉ: Thôn Đ, thị trấn Đ, huyện K, tỉnh Đ. (HĐ ủy quyền ngày 03/5/2024) (có mặt)

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Phan Tấn T: Ông Hoàng Xuân Đ – Luật sư – Công ty L (có mặt)

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Tấn T1, sinh năm 1972. (xin vắng mặt)
    2. Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện Đ, tỉnh L.

    3. Ông Lê Quang N, sinh năm 1983 (xin vắng mặt)
    4. Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện B, tỉnh L.

    5. Ông Phan Việt H1, sinh năm 1971. (xin vắng mặt)
    6. Địa chỉ: Số D đường số C, phường B, quận B, Thành phố H.

    7. Văn phòng công chứng C2 (xin vắng mặt)
    8. Địa chỉ: Ấp G, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh L.

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc M – Trưởng Văn phòng.

    9. Văn phòng công chứng C3 (xin vắng mặt)
    10. Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh L.

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Lư Thành D1 – Trưởng Văn phòng.

    11. Ông Ngô Thanh T2, sinh năm 1971. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh L. (xin vắng mặt)
    12. Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa (xin vắng mặt)
    13. Địa chỉ: Ô, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh L

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thành C – Chi cục trưởng.

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Thanh T3 – Phó Chi cục trưởng.

    14. Bà Trần Thu U1, sinh năm 1995.
    15. Địa chỉ: Số G Ni Sư H, phường A, quận T, Thành phố H.

      Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thu U1: Bà Phùng Thị U, sinh năm 2001. (có mặt)

      Địa chỉ: Thôn Đ, thị trấn Đ, huyện K, tỉnh Đ. (HĐ ủy quyền ngày 11/5/2024).

  6. Người kháng cáo: ông Phan Tấn T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/9/2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 01/11/2023, những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thu H trình bày như sau:

Ông Nguyễn Tấn T1 là chủ sử dụng thửa đất số 259, 263, 278, 230, 223, tờ bản đồ số 17, đất tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh L.

Ngày 21/02/2023, Tòa án nhân dân huyện Đ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 09/2023/QÐST-DS, theo đó, ông Nguyễn Tấn T1 phải thanh toán cho bà H số tiền 4.11.250.000 đồng, thời gian thanh toán vào ngày 10/6/2023. Tuy nhiên, ngày 10/02/2023, ông T1 có cam kết trả nợ cho bà H với số tiền trên và đồng thời hứa sẽ chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 230, 223 cùng tờ bản đồ số 17, đất tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh L để thanh toán nợ. Ông Nguyễn Tấn T1 vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ như thỏa thuận với bà H. Vì vậy, bà H đã làm đơn yêu cầu thi hành án tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ cho thi hành đối với quyết định số 09/2023/QÐST-DS của Tòa án nhân dân huyện Đ ban hành ngày 21/02/2023.

Ngày 20/06/2023, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ ban hành quyết định số 2312/QĐ-CCTHADS về việc thi hành án theo yêu cầu. Trong quá trình xác minh điều kiện thi hành án thì biết được ông Nguyễn Tấn T1 đã chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 259, 263, 278, 230, 223, tờ bản đồ số 17, đất tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh L cho ông Phan Tấn T nhưng chưa hoàn tất thủ tục, ông Nguyễn Văn T4 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chưa được chỉnh lý sang tên cho ông Phan Tấn T. Do đó, bà H khởi kiện yêu cầu:

  • Vô hiệu hợp đồng ủy quyền giữa ông Nguyễn Tấn T1 với ông Phan Việt H1 và ông Lê Quang N đối với thửa đất số 259, 263, 278, 230, 223, tờ bản đồ số 17, tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An công chứng tại Văn phòng công chứng C3 số công chứng 5581, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/10/2022.
  • Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Tấn T1 (do ông Phan Việt H1 và ông Lê Quang N đại diện) và ông Phan Tấn T đối với thửa đất số 259, 263, 278, 230, 223, tờ bản đồ số 17, tại xã A, huyện Đ, tỉnh L được Văn phòng công chứng C2, quyển số 12/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20 tháng 12 năm 2022.

Bị đơn ông Phan Tấn T do ông Vũ Xuân H2 đại diện theo ủy quyền trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và do bà Phùng Thị U đại diện theo ủy quyền trình bày tại phiên tòa:

Ngày 20/12/2022, ông Phan Tấn T ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (số A, quyển số 12/2022TP/CC-SCC/HĐGD do công chứng C2) với ông Nguyễn Tấn T1, thông qua người đại diện theo ủy quyền là ông Lê Quang N và ông Phan Việt H1 để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 05 thửa đất, cụ thể:

Thửa đất số 259, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.206 m²; Thửa đất số 263, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.843 m²; Thửa đất số 278, tờ bản đồ số 17, diện tích 2.683 m2; Thửa đất số 230, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.265 m²; Thửa đất số 223, tờ bản đồ số 17, diện tích 2.137 m², (tất cả loại đất chuyên trồng lúa nước), tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh L. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất( gọi tắt là GCNQSDĐ) số BY 929751, vào sổ cấp giấy số CH 00130 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh L cấp ngày 15/04/2015 và do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ chỉnh lý biến động ngày 03/08/2022; GCNQSDĐ số CE 110852, vào sổ cấp giấy số CS 00170 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 12/08/2016 và do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ chỉnh lý biến động ngày 02/08/2022; GCNQSDĐ số BY 929752, vào sổ cấp giấy số CH 00131 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh L cấp ngày 15/04/2015 và do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ chỉnh lý biến động ngày 03/08/2022; GCNQSDĐ số CE 110853, vào sổ cấp giấy số CS 00171 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 12/08/2016 và do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ chỉnh lý biến động ngày 02/08/2022; GCNQSDĐ số CE 110854, vào sổ cấp giấy số CS 00172 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 12/08/2016 và do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ chỉnh lý biến động ngày 02/08/2022.

Tổng giá trị chuyển nhượng là 2.050.000.000 đồng. Sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông Phan Tấn T đã thực hiện thanh toán đầy đủ số tiền 2.050.000.000 đồng cho ông Phan Việt H1 và ông Lê Quang N. Đồng thời, ông Nguyễn Tấn T1 đã thực hiện nghĩa vụ giao đất và bản chính các giấy chứng nhận của 05 thửa đất trên thông qua người đại diện là ông Lê Quang N và ông Phan Việt H1.

Ông Phan Tấn T đang thực hiện việc đăng ký cập nhật biến động đối với các thửa đất này tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ nhưng bị trả lại do thay đổi tỷ lệ bản đồ phải đo vẽ lại; ông T đã làm thủ tục đo vẽ lại và nộp hồ sơ lại thì biết được Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa có các Quyết định ngăn chặn giao dịch liên quan đến 05 thửa đất nêu trên. Vì vậy, ông Phan Tấn T vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất nhận chuyển nhượng. Hiện nay, ông Phan Tấn T đang là người quản lý, sử dụng các thửa đất nhận chuyển nhượng nói trên, hiện trạng các thửa đất nêu trên tại thời điểm nhận bàn giao đều là đất trống và ông Phan Tấn T không có yêu cầu liên quan đến việc giao nhận đất trong vụ án này.

Ngày 10/02/2023 ông Nguyễn Tấn T1 có cam kết trả nợ cho bà Huỳnh Thị Thu H số tiền đã vay trước đó, hứa chuyển nhượng cho bà H thửa đất số 230, 223 cùng tờ bản đồ số 17, đất tọa lạc tại xã A, huyện Đ, tỉnh L, tuy nhiên trước đó ngày 20/12/2022 ông Nguyễn Tấn T1 đã thực hiện việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Phan Tấn T (trong hợp đồng chuyển nhượng có bao gồm thửa đất số 230 và 223). Như vậy, tại thời điểm ông Nguyễn Tấn T1 thực hiện cam kết, ông đã không còn quyền định đoạt đối với các thửa đất 230 và 223.

Việc bà Huỳnh Thị Thu H khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Tấn T1 (do ông Phan Việt H1 và ông Lê Quang N đại diện) và ông Phan Tấn T đối với 05 thửa đất nêu trên là xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Phan Tấn T.

Ông Phan Tấn T yêu cầu phản tố công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Tấn T1 (do ông Phan Việt H1 và ông Lê Quang N đại diện) và ông Phan Tấn T đối với các thửa đất số 263, 230, 259, 278, 223 cùng tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh L là có hiệu lực pháp luật, đồng thời xác định các thửa đất số 263, 230, 259, 278, 223 cùng tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh L do ông Phan Tấn T nhận chuyển nhượng không là đối tượng bị tạm dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tặng cho, cầm cố, thế chấp, thay đổi hiện trạng.

Ông Phan Tấn T không có yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý trong trường hợp tuyên vô hiệu các giao dịch dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Tấn T1 xin vắng mặt trình bày tại Bản tự khai: Ông xác nhận có nợ bà H số tiền 4.111.250.000 đồng theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự của TAND huyện Đ. Đồng thời ông có cam kết dùng quyền sử dụng đất thửa đất số 230, 223 cùng tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh L để thanh toán nợ cho bà H. Các thửa đất số 263, 230, 259, 278, 223 cùng tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An ông đã thế chấp cho ông Lê Quang N và Phan Việt H1 để vay số tiền 2 tỷ đồng bằng hình thức ký hợp đồng ủy quyền; sau đó do không có khả năng thanh toán tiền vay và lãi cho ông N và ông H1 nên ông vẫn chưa chuộc lại được. Ông không biết việc ông Lê Quang N và Phan Việt H1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Phan Tấn T. Ông đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật, ông không có yêu cầu gì trong vụ án.
  2. Ông Lê Quang N và Phan Việt H1 xin vắng mặt có Bản tự khai trình bày: Ông Nguyễn Tấn T1 có ký hợp đồng ủy quyền cho ông Phan Việt H1, ông Lê Quang N đối với thửa đất số 259, 263, 278, 230, 223, tờ bản đồ số 17, tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An công chứng tại Văn phòng công chứng C3 số công chứng 5581, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/10/2022, sau đó ông Lê Quang N và Phan Việt H1 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 18109, quyển số 12/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20 tháng 12 năm 2022 cho ông Phan Tấn T đối với các thửa đất số 263, 230, 259, 278, 223 trên. Việc chuyển nhượng đã hoàn tất, các bên đã thực hiện việc giao tiền chuyển nhượng và giao đất đầy đủ. Ông Phan Việt H1, ông Lê Quang N đã giao tiền chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Tấn T1 nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H và xác định không có yêu cầu xử lý hậu quả pháp lý khi vô hiệu các văn bản công chứng.
  3. Ông Ngô Thanh T2 xin vắng mặt có văn bản trình bày: Ông Nguyễn Tấn T1 có nghĩa vụ thi hành cho ông số tiền 2.600.000.000đồng theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 07/2023/QĐST-DS ngày 31/01/2023 của TAND huyện Đức Hòa. Tuy nhiên ông xác định ông không có yêu cầu trong vụ án, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà H trong vụ án, không có yêu cầu gì liên quan đến các thửa đất số 263, 230, 259, 278, 223 cùng tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An.
  4. Bà Trần Thu U1 do bà Phùng Thị U đại diện theo ủy quyền trình bày tại phiên tòa: Bà Trần Thu U1 có biết việc ông Phan Tấn T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng các thửa đất số 263, 230, 259, 278, 223 cùng tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh L. Tuy nhiên nguồn tiền nhận chuyển nhượng là do ông Phan Tấn T dùng tiền cá nhân để nhận chuyển nhượng, không phải là tài sản chung vợ chồng. Bà Trần Thu U1 không có ý kiến và yêu cầu gì trong vụ án.
  5. Văn phòng công chứng C3 có văn bản trình bày: Việc công chứng hợp đồng ủy quyền giữa ông Nguyễn Tấn T1 và ông Phan Việt H1, ông Lê Quang N đối với thửa đất số 259, 263, 278, 230, 223, tờ bản đồ số 17, tại xã A, huyện Đ, tỉnh L công chứng tại Văn phòng C3 số công chứng 5581, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/10/2022 là đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Văn phòng C3 không có yêu cầu gì trong vụ án, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
  6. Văn phòng C2 có văn bản trình bày: Việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng công chứng số 18109, quyển số 12/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20 tháng 12 năm 2022 giữa ông Lê Quang N, ông Phan Việt H1 và ông Phan Tấn T đối với liên quan đến các thửa đất số 263, 230, 259, 278, 223 cùng tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An của Văn phòng C2 là đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Văn phòng C2 không có yêu cầu gì trong vụ án, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
  7. Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ xin vắng mặt có văn bản trình bày: Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ đang thụ lý và giải quyết 02 quyết định của Tòa án nhân dân huyện Đ số: 07/2023/QÐST-DS ngày 31/01/2023; số: 09/2023/QÐST-DS ngày 21/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh L.

Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ đã ra các Quyết định theo đơn yêu cầu thi hành án, có nội dung: “Ông Nguyễn Tấn T1 có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Thu H3 tổng số tiền vay là 4.111.250.000đồng và lãi chậm thi hành ẩn” và “Ông Nguyễn Tấn T1 có nghĩa vụ trả cho ông Ngô Thanh T2 tổng số tiền vay là 2.600.000.000đồng và lãi chậm thi hành án”. Ngoài 02 quyết định nêu trên ông Nguyễn Tấn T1 không có thi hành các quyết định nào khác tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ.

Ngày 11/10/2023, Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ đã nhận được thông báo thụ lý vụ án số: 598/TB-VA ngày 11/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đ. Về việc Huỳnh Thị Thu H yêu cầu vô hiệu văn bản công chứng với bị đơn là ông Phan Tấn T. Ngày 12/10/2023, Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ đã ra Quyết định hoãn thi hành án đối với các việc nêu trên đến thời điểm hiện tại. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đ sớm giải quyết vụ tranh chấp tài sản trên để Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ có cơ sở tổ chức thi hành án. Do điều kiện công tác nên Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa xin vắng mặt tất cả các buổi giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân huyện Đ.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 92/2024/DS-ST ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đ đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Thu H về việc “Tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” đối với ông Phan Tấn T.
    1. Tuyên bố các văn bản công chứng sau đây vô hiệu:
      • Hợp đồng ủy quyền giữa ông Nguyễn Tấn T1 và ông Phan Việt H1, ông Lê Quang N công chứng tại Văn phòng công chứng C3 số công chứng 5581, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/10/2022 đối với các thửa đất số 263, 230, 259, 278, 223 cùng tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An.
      • Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Quang N, ông Phan Việt H1 và ông Phan Tấn Tài công C1 số 18109, quyển số 12/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20 tháng 12 năm 2022 đối với các thửa đất số 263, 230, 259, 278, 223 cùng tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh L.
    2. Các đương sự có liên quan được quyền khởi kiện tranh chấp giải quyết hậu quả pháp lý về việc tuyên bố các văn bản công chứng trên vô hiệu bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
  2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, thu thập tài liệu, chứng cứ: ông Phan Tấn T có nghĩa vụ hoàn lại cho bà Huỳnh Thị Thu H số tiền 3.192.000đồng.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Tấn T chịu 600.000đồng án phí dân sự sơ thẩm sung Ngân sách Nhà nước được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp gồm: 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005807 ngày 29/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ. Ông Phan Tấn T phải nộp thêm số tiền 300.000 đồng.

H1 lại cho bà Huỳnh Thị Thu H số tiền tạm ứng án phí đã nộp gồm: 300.000đồng theo biên lai thu số 0001972 ngày 05/10/2023; 300.000đồng theo biên lai thu số 0006820 ngày 01/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.

Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực, ngày 19/6/2024, ông Phan Tấn T kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H; chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phan Tấn T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ông Phan Tấn T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án.

Luật sư Hoàng Xuân Đ phát biểu:

  1. Hợp đồng ủy quyền công chứng số 5581, ngày 07/10/2022 đảm bảo điều kiện có hiệu lực pháp luật của hợp đồng quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, ông H1, ông N và ông T đã được nghe công chứng viên đọc lại nội dung ủy quyền, đồng ý toàn bộ nội dung, ký vào từng trang và điểm chỉ thể hiện ý chí ông T ủy quyền cho ông H1 và ông N thay mặt và nhân danh ông thực hiện các giao dịch liên quan đến 05 quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Tấn T1. Nguyên đơn căn cứ Giấy thỏa thuận nợ ngày 10/02/2023 và bản tự khai của ông Nguyễn Tấn T1 cho rằng ông Nguyễn Tấn T1 thế chấp 02 thửa đất cho ông Phan Việt H1, ông Lê Quang N. Tuy nhiên theo như nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm tại Bản án số: 92/2024/DS-ST ngày 27/5/2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” thì không có chứng cứ chứng minh giữa ông Phan Việt H1, ông Lê Quang N với ông Nguyễn Tấn T1 có quan hệ vay tiền và trong khi việc này không được ông Phan Việt H1, ông Lê Quang N thừa nhận; không có chứng cứ chứng minh hợp đồng ủy quyền được giao kết nhằm mục đích bảo đảm cho số tiền vay. Hơn nữa, tại giấy thỏa thuận nợ ngày 10/02/2023, do ông Nguyễn Tấn T1 lập không thể hiện rõ ông T1 đang thế chấp đất cho ai, vay mượn ai. Do đó, không có cơ sở cho rằng ông Nguyễn Tấn T1 lập hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất với ông Phan Việt H1, ông Lê Quang N là giả.
  2. Ông Lê Quang N, ông Phan Việt H1 đã nhận tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Phan Tấn T và đã bàn giao lại cho ông Nguyễn Tấn T1. Do đó, có cơ sở để xác định ông Lê Quang N và ông Phan Việt H1 có thông báo cho ông Nguyễn Tấn T1 về việc có giao dịch chuyển nhượng 05 quyền sử dụng đất tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An của ông Nguyễn Tấn T1.

  3. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phan Tấn T (1996) với ông Nguyễn Tấn T1 (1972) công chứng số số 18109, quyển số 12/2022 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C2 ngày 20/12/2022 có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 và điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013. Bởi vì:
    • Hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất công chứng số 5581 ngày 07/10/2022 có hiệu lực pháp luật nên ông Lê Quang N và ông Phan Việt H1 có tư cách để ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đối với các thửa đất số 263, 230, 259, 278 và 223 cùng tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh L với ông Phan Tấn T (1996).
    • Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên được ký kết giữa bên nhận chuyển nhượng là ông Phan Tấn T (1996) là cá nhân có đủ điều kiện được nhận chuyển nhượng đất trồng lúa theo quy định luật đất đai; bên chuyển nhượng là ông Nguyễn Tấn T1 (1972), tại thời điểm ký kết ông Nguyễn Tấn T1 là người sử dụng đất đáp ứng điều kiện được thực hiện việc chuyển nhượng theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 188 Luật Đất đai 2013, ông Nguyễn Tấn T1 đã thực hiện ủy quyền hợp pháp cho ông Lê Quang N và ông Phan Việt H1 thay mặt, toàn quyền quyết định đoạt 05 thửa đất. Các bên tham gia ký kết hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc. Mục đích và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Tại thời điểm chuyển nhượng, 05 quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Tấn T1 không có tranh chấp, đảm bảo tuân thủ về mặt hình thức theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ trả 4.111.250.000đồng của ông Nguyễn Tấn T1 với bà Huỳnh Thị Thu H phát sinh sau giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Tấn T1 với ông Phan Tấn T nên không có căn cứ ông Nguyễn Tấn T1 thực hiện giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ với bà Huỳnh Thị Thu H.
    • Ngay sau khi ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông Phan Tấn T đã bàn giao đầy đủ tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Lê Quang N và ông Phan Việt H1 (việc này đã được các bên thừa nhận và có văn bản ghi nhận); ông Lê Quang N và ông Phan Việt H1 đã bàn giao 05 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 05 thửa đất trên, bàn giao 05 thửa đất trên cho ông Phan Tấn T quản lý, sử dụng (có văn bản ghi nhận). Như vậy, giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phan Tấn T với ông Nguyễn Tấn T1 đã hoàn thành vào ngày 20/12/2022.
  4. Ông Phan Tấn T chưa được cập nhật tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi nhận chuyển nhượng 05 quyền sử dụng đất đã nêu là vì trở ngại khách quan.
  5. Sau khi ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 05 thửa đất là thửa số 263, 230, 259, 278 và 223 cùng tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An, ông Phan Tấn T ngay lập tức nộp hồ sơ đăng ký cập nhật biến động sang tên đối với 05 quyền sử dụng đất đã nêu trong ngày 20/12/2022. Tuy nhiên ngày 23/12/2022, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ trả hồ sơ, đề nghị ông Phan Tấn T liên hệ cơ quan có chức năng để đo đạc cấp đổi theo hệ thống bản đồ địa chính mới (căn cứ Công văn số 1420/VPĐKĐĐ-DLLT ngày 18/07/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai về việc khẩn trương thực hiện khai thác, sử dụng sản phẩm đo đạc bản đồ, hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu) và hướng dẫn ông Phan Tấn T thực hiện thủ tục nộp lại hồ sơ để tiếp tục được giải quyết theo quy định. Sau khi đã có bản vẽ, qua thời điểm tết âm lịch, ông Phan Tấn T tiếp tục nộp lại hồ sơ đăng ký cập nhật biến động sang tên nhưng không thực hiện được do:

    • Ngày 02/2/2023, Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa phát hành Quyết định thi hành án số: 1235/QĐ-CCTHADS (thời điểm này là ngày 12/1/2023 âm lịch).
    • Đến ngày 24/5/2023, Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hoà phát hành Quyết định số: 192/QĐ-CCTHADS về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tặng cho, cầm cố, thế chấp, thay đổi hiện trạng tài sản đối với 05 thửa đất là thửa số 263, 230, 259, 278 và 223 cùng tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An. Ông Phan Tấn T không phải là không được thực hiện thủ tục đăng ký biến động theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 mà thuộc trường hợp trở ngại khách quan, ông Phan Tấn T chậm trễ thực hiện nghĩa vụ đăng ký cập nhật biến động sang tên sau khi giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất vì những sự kiện mà ông không thể biết được trước.

    Căn cứ: Điểm a khoản 3 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013, Điều 117 và Điều 401 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 69 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung tại Điều 28 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, kính đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh L chấp nhận kháng cáo của bị đơn Phan Tấn T.

    Luật sư D phát biểu:

    Tại thời điểm ông Nguyễn Tấn T1 lập hợp đồng ủy quyền số công chứng 5581, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/10/2022 đối với các thửa đất số 263, 230, 259, 278, 223 cùng tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An với ông Phan Việt H1, ông Lê Quang N thì nghĩa vụ thanh toán tiền vay của bà Huỳnh Thị Thu H đã phát sinh, do đó có thể xác định việc ký hợp đồng ủy quyền này với mục đích nhằm trốn tránh trách nhiệm trả nợ cho bà H.

    Mặt khác ông Nguyễn Tấn T1 ký hợp đồng ủy quyền toàn bộ cho ông Phan Việt H1, ông Lê Quang N nhưng bản chất không phải là chuyển giao quyền sử dụng đất nên quyền sử dụng đất này vẫn thuộc của ông Nguyễn Tấn T1. Ông Nguyễn Tấn T1 cho rằng việc giao kết hợp đồng ủy quyền được giao kết nhằm mục đích đảm bảo số tiền vay của ông Phan Việt H1, ông Lê Quang N nhưng ông T1 không xuất trình được chứng cứ chứng minh có tồn tại giao dịch vay tiền giữa các bên và ông Phan Việt H1, ông Lê Quang N không thừa nhận có giao dịch vay tiền ở đây.Theo hợp đồng ủy quyền giữa ông Nguyễn Tấn T1 với ông Phan Việt H1, ông Lê Quang N thì ông Nguyễn Tấn T1 có quyền yêu cầu ông H1, ông N thông báo đầy đủ việc thực hiện các công việc thuộc phạm vi ủy quyền. Ông H1, ông N chuyển nhượng các phần đất trên cho ông Phan Tấn T lại không thông báo cho ông Phan Tấn T được biết.

    Thứ hai, theo quy định pháp luật việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Trong trường hợp này ông Phan Tấn T vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các phần đất trên nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phan Việt H1, ông Lê Quang N với ông Phan Tấn T vẫn chưa hoàn thành nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các thửa đất trên chưa có hiệu lực.Ông Phan Tấn T không thuộc trường hợp người thứ ba ngay tình theo quy định pháp luật. Hợp đồng ủy quyền vô hiệu nên các hợp đồng phía sau cụ thể ở đây là hợp đồng chuyển nhượng các thửa đất 263, 230, 259, 278, 223 cùng tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh L đương nhiên cũng vô hiệu, kính đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án Nhân dân tỉnh Long An chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Thu H đối với ông Phan Tấn T.

    Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

  6. Về chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật từ khi thụ lý giải quyết vụ án để xét xử phúc thẩm đến trước thời điểm nghị án. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  7. Kháng cáo của ông Phan Tấn T đảm bảo các nội dung quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó đủ điều kiện xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

  8. Quan điểm giải quyết: Xét yêu cầu kháng cáo của ông Phan Tấn T, ông yêu cầu công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng công chứng số 18109, quyển số 12/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/12/2022 giữa ông Lê Quang N, ông Phan Việt H1 và ông Phan Tấn T thấy rằng:
  9. Tại thời điểm ngày 10/02/2023, ông Nguyễn Tấn T1 cam kết hứa chuyển nhượng thửa 230 và 223 để trả nợ hơn 4 tỷ đồng cho bà H thì bản thân ông Nguyễn Tấn T1 biết rõ các thửa đất trên ông Nguyễn Tấn T1 đã ký hợp đồng uỷ quyền với ông Phan Việt H1 và ông Lê Quang N đối với thửa đất số 259, 263, 278, 230, 223, tờ bản đồ số 17, tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An công chứng tại Văn phòng C3 số công chứng 5581, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/10/2022, tức là ông đã ký hợp đồng uỷ quyền các thửa đất trên trước đó 4 tháng. Theo như ông Nguyễn Tấn T1 trình bày thì ông ký uỷ quyền để vay hai tỷ đồng của ông H1 và ông N nhưng không có chứng cứ chứng minh. Quá trình giải quyết vụ án ông H1 và ông N thừa nhận có ký hợp đồng uỷ quyền sau đó ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Phan Tấn T và xác định toàn bộ số tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên ông Phan Việt H1 giữ và đã bàn giao lại cho ông Nguyễn Tấn T1 (BL 132).

    Hồ sơ vụ án thể hiện: Lời khai của đại diện ông Phan Tấn T (BL146) có ghi: ngày 23/12/2022, ông Phan Tấn T nhận lại hồ sơ và phiếu trả (theo biên nhận 20122022-0084) của Chi nhánh V đăng ký đất đai tại huyện Đ, trong đó thể hiện nội dung căn cứ công văn số 1420/VPĐKĐĐ ngày 18/7/2022 của Văn phòng đăng ký về việc khẩn trương thực hiện khai thác, sử dụng sản phẩm đo đạc bản đồ, hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu “Đề nghị hộ dân liên hệ cơ quan có chức năng đo đạc cấp đổi theo hệ thống bản đồ địa chính mới” và hướng dẫn ông Phan Tấn T thực hiện thủ tục nộp lại hồ sơ để tiếp tục giải quyết theo quy định... Tuy nhiên từ thời điểm ngày 23/12/2022 phía ông T không xúc tiến việc đo đạc mới và tại lời khai của người đại diện ông Phan Tấn T trình bày vì lý do cá nhân nên ông Phan Tấn T không thực hiện yêu cầu của Văn phòng đăng ký đất đai đến khi thực hiện xong thì bị ngăn chặn việc chuyển nhượng. Vì lẽ vào ngày 05/7/2023 Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hoà ra Quyết định cưỡng chế kê biên toàn bộ diện tích đất và tài sản trên đất đối với 5 thửa đất mang tên ông Nguyễn Tấn T1 (trong đó có hai thửa đất 230 và 233) do ông Nguyễn Tấn T1 còn phải thực hiện hai quyết định án có hiệu lực pháp luật và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hoà ra Quyết định thi hành án với tổng số tiền là 6.711.250.000 đồng được cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án. Chi cục thi hành án huyện Đức Hoà có văn bản số 712/CCTHADS ngày 11/9/2023 xác định căn cứ vào Điều 24 Nghị định 33/CP “1...a) Trường hợp có giao dịch về tài sản nhưng chưa hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu, sử dụng thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản theo quy định. Khi kê biên tài sản, nếu có tranh chấp thì Chấp hành viên thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự, trường hợp cần tuyên bố giao dịch vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự.

    Căn cứ Công văn 4267/CN.VPĐKĐĐ-HCTH ngày 05/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ - BL 263 cung cấp các thửa đất số 263, 230, 259, 278, 223 hiện nay vẫn còn ông Nguyễn Tấn T1 đang đứng tên chủ sử dụng.

    Căn cứ khoản 3 Điều 188 Luật đất đai thì hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất được xác lập kể từ thời điểm đăng ký vào số địa chính. Do hiện nay quyền sử dụng các thửa đất nêu trên vẫn còn đứng tên của ông Nguyễn Tấn T1 nên kháng cáo của ông Phan Tấn T không có căn cứ chấp nhận.

    Bởi các lẽ trên, căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của ông Phan Tấn T, giữ y bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Phan Tấn T đảm bảo các nội dung quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó đủ điều kiện xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  2. Xét yêu cầu kháng cáo của Phan Tấn T nhận thấy:
    1. Xét hiệu lực của hợp đồng ủy quyền giữa ông Nguyễn Tấn T1 và ông Phan Việt H1, ông Lê Quang N công chứng tại Văn phòng C3 số công chứng 5581, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/10/2022 giữa ông Lê Quang N, ông Phan Việt H1 và ông Phan Tấn T đối với các thửa đất số 263, 230, 259, 278, 223 cùng tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh L (gọi tắt là HĐUQ 5581). Thấy rằng:
    2. Ngày 11/11/2023, Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý giải quyết vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà H và ông Nguyễn Tấn T1. Ngày 21/02/2023, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 09/2023/QÐST-DS, theo đó, ông Nguyễn Tấn T1 phải thanh toán cho bà H số tiền 4.11.250.000đồng, thời gian thanh toán vào ngày 10/6/2023(BL154). Do đó không có căn cứ xác định việc lập HĐUQ 5581 của ông Nguyễn Tấn T1 là nhằm trốn tránh nghĩa vụ với bà Huỳnh Thị Thu H. Ông N và ông Việt H1 khai sau khi thực hiện công việc ủy quyền thì ông Việt H1 đã giao tiền chuyển nhượng các thửa đất nêu trên cho ông Nguyễn Tấn T1 nhận (BL126, 132). Ông Nguyễn Tấn T1 cho rằng các thửa đất số 263, 230, 259, 278, 223 cùng tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh L ông đã thế chấp cho ông Lê Quang N và Phan Việt H1 để vay số tiền 2 tỷ đồng bằng hình thức ký HĐUQ 5581; ông không có yêu cầu gì đối với các hợp đồng trong vụ án và không có tài liệu chứng cứ gì để cung cấp cho Tòa án, ông từ chối đối chất (BL142). Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm xác định tại thời điểm ông Nguyễn Tấn T1 lập HĐUQ 5581 với ông Phan Việt H1, ông Lê Quang N thì nghĩa vụ thanh toán tiền vay của ông Nguyễn Tấn T1 đối với bà Huỳnh Thị Thu H đã phát sinh, cho rằng HĐUQ 5581 của ông Nguyễn Tấn T1 với ông Phan Việt H1, ông Lê Quang N là nhằm trốn tránh nghĩa vụ với bà Huỳnh Thị Thu H nên căn cứ Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Thu H tuyên vô hiệu HĐUQ 5581 là không đúng pháp luật. Ông Nguyễn Tấn T1 lập HĐUQ 5581 với ông Phan Việt H1, ông Lê Quang N đã được công chứng đúng quy định pháp luật đất đai, các chủ thể tham gia đủ năng lực hành vi dân sự, việc giao kết hợp đồng đều tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm nên có hiệu lực mà không bị vô hiệu.

    3. Xét hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 18109, quyển số 12/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20 tháng 12 năm 2022 giữa ông Lê Quang N, ông Phan Việt H1 và ông Phan Tấn T đối với các thửa đất số 263, 230, 259, 278, 223 cùng tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An( gọi tắt là HĐCN 18109) thấy rằng: theo như đã nêu tại mục [2.1] HĐUQ5581 giữa ông Nguyễn Tấn T1 và ông Phan Việt H1, ông Lê Quang Nkhông bị vô hiệu nên ngày 20 tháng 12 năm 2022 giữa ông Lê Quang N, ông Phan Việt H1 nhân danh ông Nguyễn Tấn T1 ký chuyển nhượng các thửa đất số 263, 230, 259, 278, 223 cùng tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An cho ông Phan Tấn T. Ông Phan T5 tài đã giao đủ tiền cho ông H1, ông N; ông Việt H1, ông N đã lập biên bản bàn giao đất và GCNQSDĐ cho ông Phan Tấn T để ông T làm các thủ tục cần thiết để được đứng tên quyền sử dụng đất các thửa đất nên trên cụ thể: cùng ngày 20/12/2022, ông Phan Tấn T đã thực hiện thủ tục kê khai, đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai huyện Đ. Ngày ngày 21/12/2022, cơ quan đăng ký đất đai huyện Đ xác nhận đủ điều kiện. Ngày 23/12/2022 Chi nhánh VPĐĐ huyện Đ trả hồ sơ lại cho ông Phan Tấn T vói lý do: đề nghị hộ dân liên hệ cơ quan có chức năng đo đạc để đo đạc cấp đổi theo hệ thooang bản đồ địa chính mới. Mặt khác, tại thời điểm Nguyễn Tấn T1( thông qua ông N, ông Việt H1) và ông Phan Tấn T thỏa thuận ký HĐCN 18109 thì chưa có bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án về việc buộc ông Nguyễn Tấn T1 có nghĩa vụ thanh toán nợ cho bà H số tiền 4.111.250.000đồng và lãi chậm thi hành án; mãi đến ngày 21/02/2023, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 09/2023/QÐST-DS, theo đó, ông Nguyễn Tấn T1 phải thanh toán cho bà H số tiền 4.11.250.000 đồng, thời gian thanh toán vào ngày 10/6/2023 nên bà H cho rằng ông Nguyễn tấn T1 chuyển nhượng các thửa đất cho ông Phan Tấn T nhằm tẩu tán tài sản, không thi hành khoản nợ theo Bản án, Quyết định có hiệu lực của Tòa án là không có căn cứ. Thời điểm hai bên thỏa thuận ký HĐCN 18109 thì đất của ông Nguyễn Tấn T1 không có tranh chấp khiếu nại với ai, không bị giải tỏa kê biên thi hành án, không năm trong quy hoạch, không bị giải tỏa đền bù và hoàn toàn tự nguyện, chủ thể tham gia giao dịch có đủ năng lực pháp luật dân sự, phù hợp với quy định tại Điều 117 và Điều 502 của Bộ luật Dân sự nên đủ điều kiện chuyển nhượng theo quy định tại Điều 188 Luật đất đai 2013. Cho đến ngày 20/6/2023, Chi cục trưởng Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa ban hành Quyết định Thi hành án theo yêu cầu số 2312/QĐ-CCTHADS (BL155) và đến ngày 12/10/2023 Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa ban hành Quyết định hoãn thi hành án số 02/QĐ-CCTHADS (BL 172).
  3. Từ những phân tích và lập luận nêu trên ở mục [2], Tòa cấp phúc thẩm xét thấy: Bản án dân sự sơ thẩm số: 92/2024/DS-ST ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa cấp sơ thẩm nhận định tại thời điểm ông Nguyễn Tấn T1 lập HĐUQ 5581 với ông Phan Việt H1, ông Lê Quang N thì nghĩa vụ thanh toán tiền vay của ông Nguyễn Tấn T1 đối với bà Huỳnh Thị Thu H đã phát sinh nên việc lập HĐUQ 5581 của ông Nguyễn Tấn T1 là nhằm trốn tránh nghĩa vụ với bà Huỳnh Thị Thu H từ đó chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H; không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phan Tấn T về việc công nhận hiệu lực của HĐCN 18109 giữa ông Nguyễn Tấn T1 do Lê Quang N, ông Phan Việt H1 đại diện với ông Phan Tấn T là không có căn cứ. Do đó cần chấp nhận kháng cáo của ông Phan Tấn T, sửa bản án sơ thẩm: không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H; chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phan Tấn T về việc công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng công chứng số 18109, quyển số 12/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20 tháng 12 năm 2022, có hiệu lực.
  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên ông Phan Tấn T không phải chịu.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh L về giải quyết vụ án không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Chấp nhận kháng cáo của ông Phan Tấn T sửa Bản án sơ thẩm số 92/2024/DS-ST ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh L.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Thu H đối với ông ông Phan Tấn T về việc yêu cầu:
    • Vô hiệu hợp đồng ủy quyền giữa ông Nguyễn Tấn T1 và ông Phan Việt H1, ông Lê Quang N công chứng tại Văn phòng C3 số công chứng 5581, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/10/2022 đối với các thửa đất số 263, 230, 259, 278, 223 cùng tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An.
    • Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Quang N, ông Phan Việt H1 và ông Phan Tấn Tài công C1 số 18109, quyển số 12/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20 tháng 12 năm 2022 đối với các thửa đất số 263, 230, 259, 278, 223 cùng tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phan Tấn T:
  3. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Tấn T1 (do ông Phan Việt H1 và ông Lê Quang N đại diện) và ông Phan Tấn T đối với thửa đất số 259, 263, 278, 230, 223, tờ bản đồ số 17, tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An được Văn phòng C4, quyển số 12/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20 tháng 12 năm 2022 có hiệu lực.

    Cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để điều chỉnh biến động hoặc giải quyết cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

    Trường hợp một trong các bên không thực hiện theo ranh đất theo quyết định của bản án, quyết định của Tòa án thì theo yêu cầu của đương sự, cơ quan thi hành án dân sự ra Quyết định buộc thi hành.

  4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, thu thập tài liệu, chứng cứ: số tiền 3.192.000 đồng bà Huỳnh Thị Thu H phải chịu. Bà H đã nộp đủ.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Huỳnh Thị Thu H phải chịu 600.000đồng án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp gồm: 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001972 ngày 05/10/2023; 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006820 ngày 01/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ. H1 lại ông Phan Tấn T số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005807 ngày 29/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ.
  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Phan Tấn T không phải chịu. H1 lại ông Phan Tấn T 300.000đồng theo Biên lai thu số 0004968 ngày 27/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ.
  7. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  8. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • -VKSND tỉnh Long An;
  • -TAND huyện Đức Hòa;
  • -Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • -Các đương sự
  • -Lưu HS, lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Hữu Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 488/2024/DS-PT ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu

  • Số bản án: 488/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp vô hiệu văn bản công chứng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger