Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 488/2024/HS-PT

Ngày: 29-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trí

Các Thẩm phán: Ông Trần Phương Đông

Bà Vũ Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 298/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Trương Văn T do có kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 121/2024/HS-ST ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo có kháng cáo:

Trương Văn T, sinh năm: 1989, tại tỉnh Đồng Nai;

Nơi đăng ký thường trú: Ấp E, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn M, sinh năm: 1954 và bà Hoàng Thị C, sinh năm: 1959; Vợ: Lê Thị L, sinh năm: 1995 (Đã ly hôn), có 01 người con, sinh năm 2020;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Tại Bản án số: 29/2008/HSST ngày 25-3-2008, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội: “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17-01-2009, đã nộp án phí và đã thi hành khoản tiền bồi thường cho bị hại.

- Tại Bản án số: 08/2013/HSST ngày 29-3-2013, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 26-4-2019.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15-9-2023 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Vào khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 15-9-2023, Trương Văn T đi đến nhà của Lý Văn H thuộc Ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai rủ sử dụng ma túy, Lý Văn H đồng ý. Lý Văn H dẫn Trương Văn T ra chòi lá phía sau nhà lấy 01 nỏ thủy tinh, bên trong có chứa một ít ma túy còn lại từ lần sử dụng trước đó. Trương Văn T sử dụng quẹt gas đốt nóng gom số ma túy đó và chế tạo một bộ dụng cụ sử dụng ma túy, rồi Trương Văn T và Lý Văn H sử dụng hết. Sau khi sử dụng xong, Trần N là bạn của Trương Văn T đến ngồi nói chuyện. Khoảng 30 phút sau, Lê Quang V là bạn của Lý Văn H đến bàn góp tiền mua ma túy về sử dụng, Lý Văn H và Trương Văn T đồng ý. Cả nhóm thống nhất Lê Quang V góp 100.000 đồng, Trương Văn T và Lý Văn H mỗi người góp 200.000 đồng, nhưng Lý Văn H và Trương Văn T không có tiền, nên Lê Quang V ứng trước 500.000 đồng, khi nào Trương Văn T và Lý Văn H có tiền sẽ trả. Lý Văn H lấy 500.000 đồng đi đến đoạn đường Q thuộc ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, gặp đối tượng tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 gói ma túy, giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Lý Văn H đem về chòi lá, đưa cho Trương Văn T, Trương Văn T cắt gói ma túy đổ một ít vào nỏ thủy tinh, cả nhóm cùng sử dụng, số còn lại Trương Văn T chia thành 02 gói, cất giấu 01 gói tại khe nứt mặt bàn gỗ gần chỗ Trương Văn T ngồi, mục đích để sau khi Lê Quang V ra về sẽ lấy ra cho Trương Văn T và Lý Văn H cùng sử dụng, còn 01 gói Trương Văn T đưa cho Lý Văn H cất giữ, để lúc khác cả nhóm sử dụng.

Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, Công an xã X, huyện X tiến hành kiểm tra, phát hiện Trương Văn T, Lý Văn H, Lê Quang V và Trần N đang sử dụng trái phép chất ma túy. Qua test nhanh ma túy đối với Trương Văn T, Lý Văn H, Lê Quang V và Trần N kết quả tất cả đều dương tính chất ma túy, loại Methamphetamine. Quá trình kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện thu giữ 01 gói nylon, hàn kín, kích thước (0,5x4) cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng trong kẽ hở của mặt bàn và 01 gói nylon, hàn kín, kích thước (3,5x3,5) cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng trên người của Lý Văn H. Ngoài ra, Công an còn thu giữ 01 chai nhựa có gắn nắp, trên nắp một đầu gắn ống thủy tinh, một đầu gắn ống hút là dụng cụ các đối tượng dùng để sử dụng ma túy. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong tang vật theo quy định.

2. Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: Chai nhựa, ống hút nhựa;
  • - 01 (Một) ống thủy tinh bên trong có vết bám nghi là ma túy;
  • - 01 (Một) gói nylon, kích thước (0,5x4)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng;
  • - 01 (Một) gói nylon, kích thước (3,5x3,5)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng;
  • - 01 (Một) quẹt gas.

3. Giám định:

Tại Bản kết luận giám định số: 2076/KL-KTHS ngày 22-9-2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ:

Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) bám dính trong 01 (Một) ống thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.

Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1389gam.

Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M3) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2120gam.

H1 lại đối tượng sau giám định:

  • - Không hoàn lại mẫu M1. Mẫu M1 đã sử dụng hết trong công tác giám định;
  • - Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: M2 = 0,1283 gam; M3 = 0,1972 gam.

Toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong số 2076/KL-KTHS.

4. Bản án sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 121/2024/HS-ST ngày 06/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc đã áp dụng điểm a, b, h, khoản 2, Điều 255; điểm o, khoản 2, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Trương Văn T 10 (M1) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 05 (N1) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho 02 tội là: 15 (Mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15-9-2023.

Áp dụng điểm a, b, khoản 2, Điều 255; điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn H phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lý Văn H 09 (C1) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 (H2) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho 02 tội là: 11 (Mười một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15-9-2023.

Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255; điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang V phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lê Quang V 07 (B) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho 02 tội là: 08 (T2) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15-9-2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

5. Kháng cáo:

Ngày 10/6/2024, bị cáo Trương Văn T kháng cáo xin nhẹ giảm hình phạt, vì theo cáo trạng thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.

6. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trương Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trương Văn T về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 255 và Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo có 02 tiền án theo Bản án số: 29/2008/HSST ngày 25-3-2008, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, và Bản án số: 08/2013/HSST ngày 29-3-2013, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ; xử phạt bị cáo 10 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho 02 tội là: 15 năm tù. Bị cáo Trương Văn T kháng cáo giảm hình phạt, vì theo cáo trạng thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Tại cấp phúc thẩm, phát sinh thêm tình tiết mới theo đó tại bản sao lưu tài liệu lưu trữ số 1873 ngày 30/9/2024 của Cục hồ sơ nghiệp vụ - Bộ C2 (V06) thể hiện bị cáo T đã chấp hành xong khoản tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại ông Lê Minh P số tiền là 2.100.6000đ đối với Bản án số: 29/2008/HSST ngày 25-3-2008, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc. Do đó, bị cáo T không còn tiền án. Đối với bản án số 08/2013/HSST ngày 29/3/2013 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 26/4/2019 bị cáo T chấp hành xong hình phạt tù, đã thi hành nghĩa vụ đóng án phí. Do đó, đến ngày 26/4/2022 bị cáo đã được xóa án tích.

Do có tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm thể hiện bị cáo phạm tội nhưng thời điểm này 02 tiền án của bị cáo đã được xóa án tích, không còn tiền án chỉ xem xét đánh giá nhân thân nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” từ 06 tháng đến 01 năm tù. Đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đề nghị giữ nguyên mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trương Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu, cụ thể: Vào khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 15-9-2023, Trương Văn T đến nhà của Lý Văn H thuộc ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai rủ sử dụng ma túy. Lý Văn H dẫn Trương Văn T ra chòi lá phía sau nhà lấy 01 nỏ thủy tinh, bên trong có chứa một ít ma túy. Trương Văn T gom số ma túy đó và chế tạo một bộ dụng cụ sử dụng ma túy, rồi Trương Văn T và Lý Văn H cùng sử dụng. Sau đó, Trần N và Lê Quang V đến. Lê Quang V bàn góp tiền mua ma túy sử dụng, Lý Văn H và Trương Văn T đồng ý. Lê Quang V góp 100.000 đồng, Trương Văn T và Lý Văn H mỗi người góp 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy đem về Trương Văn T, Lý Văn H, Lê Quang V và Trần N cùng sử dụng. Vào khoảng 13 giờ 45 phút ngày 15-9-2023, Công an xã X, huyện X tiến hành kiểm tra hành chính nhà của Lý Văn H, bắt quả tang. Lực lượng Công an thu giữ: 01 chai nhựa có gắn nắp, trên nắp một đầu gắn ống thủy tinh, một đầu gắn ống hút; 01 gói nylon, hàn kín, kích thước (0,5x4)cm và 01 gói nylon, hàn kín, kích thước (3,5x3,5)cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể, màu trắng. Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) bám dính trong 01 (một) ống thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng; Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1389gam; Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M3) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2120gam.

Với hành vi phạm tội nêu trên, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Trương Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 255 và Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:

[3.1] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết giảm nhẹ là bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); xác định bị cáo có 02 tiền án theo Bản án số: 29/2008/HS-ST của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, bị cáo chấp hành xong hình phạt nhưng chưa thi hành khoản tiền bồi thường cho bị hại và Bản án số: 08/2013/HS-ST của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ xử phạt 10 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nên xử phạt Trương Văn T mức án 10 năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; 05 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho 02 tội là 15 năm tù, tính từ ngày 15/9/2023. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

- Đối với Bản án sơ thẩm số: 29/2008/HSST ngày 25/3/2008 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xử phạt bị cáo Trương Văn T 02 năm tù về tội: “Cố ý gây thương tích”. Ngày 17/01/2009, bị cáo T đã chấp hành xong hình phạt tù, đã thi hành nghĩa vụ đóng án phí. Tại giấy xác nhận kết quả thi hành án số 130 ngày 25/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Xuân Lộc và giấy xác nhận kết quả thi hành án số 249 ngày 16/9/2024 theo văn bản yêu cầu của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai thì đối với hình phạt bổ sung là khoản tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại ông Lê Minh P là 2.100.6000đ đều thể hiện là số tiền trên chưa được thi hành. Tuy nhiên, tại Văn bản số 1704 ngày 05/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai gửi Trại giam X và Văn bản số 1807 ngày 20/9/2024 gửi cục hồ sơ nghiệp vụ - Bộ C2 thì có kết quả thể hiện bị cáo đã chấp hành xong khoản tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại ông Lê Minh P là 2.100.6000đ (theo Quyết định THA số 996 ngày 18/12/2008; Biên lai thu tiền của bị cáo Trương Văn T số tiền 2.100.600 đồng do ông Trương Văn M (cha của bị cáo đóng thay ) ngày 18/12/2008). Do đó, ngày 17/01/2009, bị cáo T đã chấp hành xong hình phạt tù đối với Bản án sơ thẩm số: 29/2008/HSST ngày 25/3/2008 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc nên đến ngày 17/01/2011, bị cáo T không còn tiền án.

- Đối với Bản án số: 08/2013/HSST ngày 29/3/2013 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ xử phạt bị cáo T 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 26/4/2019, bị cáo T chấp hành xong hình phạt tù, đã thi hành nghĩa vụ đóng án phí. Do đó, đến ngày 26/4/2022, bị cáo được xóa án tích.

[3.2] Ngày 15/9/2023, bị cáo T tiếp tục phạm tội nhưng thời điểm này 02 tiền án trên của bị cáo đã được xóa án tích, chỉ xem xét đánh giá nhân thân. Do có tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cần sửa bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo T về áp dụng pháp luật, xác định tại thời điểm bị cáo T phạm tội mới đã không còn tiền án đối với 02 bản án trên nên không phạm vào tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm o khoản 2 Điều 249 và điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) mà bị cáo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

[3.3] Xét kháng cáo của bị cáo T xin giảm nhẹ hình phạt với lý do bị cáo không có tiền án là có cơ sở phù hợp với tình tiết đánh giá trong vụ án, bị cáo không có tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm”. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo đối với tội “Tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;

Do sửa án sơ thẩm nên bị cáo không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

[5] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên vẫn giữ nguyên.

[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Văn T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 121/2024/HS-ST ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

2. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Trương Văn T 09 (Chín) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 03 (Ba) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho 02 tội là: 13 (Mười ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15-9-2023.

3. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc (2);
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc;
  • - Công an huyện Xuân Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện Xuân Lộc;
  • - Công an tỉnh Đồng Nai (Phòng PV06);
  • - Trại tạm giam - Công an tỉnh ĐN;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Ngọc Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 488/2024/HS-PT ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 488/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger