|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 488/2024/HS - PT |
|
|
Ngày: 21 tháng 6 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Tuấn
Các thẩm phán: Ông Vũ Ngọc Huynh
Bà Hồ Thị Thanh Thúy
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLPT-HS ngày 10/01/2024 đối với bị cáo Nguyễn Thế T và các bị cáo khác (5 bị cáo).
Do có kháng cáo của các bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo bị kháng nghị:
- Nguyễn Thế L; giới tính: Nam; sinh ngày 15 tháng 6 năm 1998, tại tỉnh Nam Định; thường trú: 7 T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Thế V, sinh năm: 1960 và bà Nguyễn Thị V1, sinh năm: 1972; gia đình bị cáo có 03 anh chị em (anh ruột là Nguyễn Thế T đồng thời là bị cáo trong cùng vụ án), bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2021. (Có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thế L: Bà Nguyễn Thị Hằng N, Luật sư thuộc Văn phòng L4, Đoàn luật sư Thành phố H. (Có mặt)
Các bị cáo có kháng cáo:
- Nguyễn Thế T; giới tính: Nam; sinh ngày 28 tháng 8 năm 1992, tại tỉnh Nam Định; thường trú: 7 T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Thế V, sinh năm: 1960 và bà Nguyễn Thị V1, sinh năm: 1972; gia đình bị cáo có 03 anh, chị em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo đã ly hôn với vợ là Võ Hoàng Cẩm V2, sinh năm 1991 và có 01 con sinh năm: 2015; tiền sự: không.
Tiền án: Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2017/HSST ngày 14/02/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã xử phạt Nguyễn Thế T 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/5/2018.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2021. (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thế T: Bà Đoàn Thị Bích N1, Luật sư thuộc Văn phòng L4, Đoàn luật sư Thành phố H. (Có mặt)
- Chế Quang K; giới tính: Nam; sinh ngày 23 tháng 10 năm 2001, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố A, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Chế Quang Ú, sinh năm: 1977 (đã chết) và bà Trương Thị Thanh N2, sinh năm: 1979; gia đình bị cáo có 02 anh, em, bị cáo là con thứ nhất và chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2021. (Có mặt)
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Chế Quang K: Ông Đoàn Trọng N3, Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Đoàn Trọng N3, Đoàn Luật sư Thành phố H. (Có mặt)
- Nguyễn Văn T1; giới tính: Nam; sinh ngày 05 tháng 10 năm 1990, tại tỉnh Nghệ An; thường trú: Khối A, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn L1, sinh năm: 1965 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1969; gia đình bị cáo có 04 anh, chị em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị D, sinh năm: 1996 và có 02 con (con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 09/8/2013 bị Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An xử phạt vị phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2021. (Có mặt)
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Văn T1: Ông Trịnh Bá T2, Luật sư thuộc Văn phòng L5, Đoàn Luật sư Thành phố H. (Có mặt)
- Trần Quang T3; giới tính: Nam; sinh ngày 26 tháng 4 năm 1991, tại tỉnh Nghệ An; hộ khẩu thường trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Quang T4, sinh năm: 1957 (đã chết) và bà
Lê Thị Đ, sinh năm: 1960; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T5, sinh năm: 1993, và có 01 con sinh năm 2021; tiền sự: không.
Tiền án: Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2013/HSST ngày 04/02/2013 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, xử phạt Trần Quang T3 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 138 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 12 tháng tù của bản án số 55/2012/HSST ngày 27/6/2012 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An và hình phạt 18 tháng tù của bản án số 150/2021/HSST của Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, để buộc Trần Quang T3 phải chấp hành hình phạt chung cho cả ba bản án là 6 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2012, được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/4/2012 đến 02/5/2012 của bản án số 55/2012/HSST ngày 27/6/2012 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2019.
Nhân thân: ngày 17/3/2020 bị Công an thị xã H quyết định xử phạt hành chính 2.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2021. (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Quang T3: Bà Trịnh Thị T6, Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Lê Quốc H1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 07 giờ 00 ngày 15/6/2021, tại trước số nhà C quốc lộ A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, tổ công tác do Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Bộ C3 chủ trì phối hợp các lực lượng chức năng bắt người phạm tội quả tang đối với Chế Quang K và Nguyễn Văn T1 đang vận chuyển chất ma túy từ Nghệ An vào giao cho đối tượng tên N4 để tiêu thụ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thu giữ của K và T1: 30 (ba mươi) khối hình hộp có kích thước khoảng 15x15x7cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng có tổng khối lượng 29.863,2 gam (hai mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba phẩy hai gam) Methamphetamine (Kết luận giám định số 3261/C09B ngày 24/6/2021 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C3 tại Thành phố Hồ Chí Minh); 01 (một) khẩu súng bằng kim loại màu đen, ký hiệu CZ75B số AG479 là súng ngắn quân dụng bán tự động CZ75B kèm 01 hộp tiếp đạn có 09 viên đạn gồm 05 viên ký hiệu 18-118 và 04 viên ký hiệu 9MM LUGER-PMC là đạn quân dụng (Kết luận giám định số 3262/C09B ngày 02/7/2021 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C3 tại Thành phố Hồ Chí Minh).
Mở rộng điều tra, Cơ quan điều tra Bộ C3 đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp; Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với: Võ Thị Tuyết H2 (tên gọi khác: N4), Nguyễn Thế T, Nguyễn Thế L, Trần Quang T3, Phan Đức H3. Thu giữ 02 (hai) gói chứa chất tinh thể màu trắng do Phan Đức
H3 tự nguyện giao nộp là chất ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1995,63 gam (một nghìn chín trăm chín mươi năm phẩy sáu mươi ba gam)(Kết luận giám định số 5264/C09-TT2 ngày 30/6/2021 của V7 Bộ C3). Kết quả điều tra xác định số ma túy mà Phan Đức H3 giao nộp là của Nguyễn Văn T1 và Trần Quang T3 gửi, H3 không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy nêu trên. Ngày 24/6/2021, theo đề nghị của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ra Quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và Quyết định trả tự do đối với Phan Đức H3.
Diễn biến hành vi phạm tội cụ thể của các bị can như sau:
- Hành vi mua bán trái phép 31.858,83 gam (ba mươi mốt nghìn tám trăm năm mươi tám phẩy tám mươi ba gam) Methamphetamine của các bị can Nguyễn Thế T, Võ Thị Tuyết H2 (N8), Chế Quang K, Nguyễn Văn T1, Trần Quang T3, Nguyễn Thế L và hành vi Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng của các bị can Nguyễn Thế T, Chế Quang K và Nguyễn Văn T1.
Khoảng tháng 11/2018, Nguyễn Thế T thông qua các mối quan hệ xã hội đã quen biết với Hạ Bá V3, sinh năm 1982 trú tại thị trấn L-xao, huyện K-cợt, tỉnh Bo-ly-khăm-xay, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Sau đó, T đã nhiều lần mua ma túy của Vừ để tiêu thụ ở Việt Nam.
Khoảng tháng 01/2021, Nguyễn Thế T quen biết Võ Thị Tuyết H2 (N4) ở huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh thông qua bạn bè xã hội. Cuối tháng 5/2021, H2 đi máy bay ra thành phố H, T chỉ đạo em trai của mình là Nguyễn Thế L ra sân bay H đón H2 về nhà của T tại số G T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế với mục đích để bàn bạc về việc mua bán ma túy. Tại đây, cả hai thống nhất với nhau về việc mua bán ma túy, H2 đồng ý mua ma túy "đá" của T với giá 180.000.000 đồng (một trăm tám mươi triệu đồng)/01 kg ma túy đá. T nhờ L gọi điện cho em trai của Hạ Bá V3 nhờ kết nối liên lạc với Hạ Bá V3 là người bán ma túy cho T, để bàn bạc, thống nhất việc mua bán ma túy. Vừ đồng ý bán ma túy "đá" cho T với giá 130.000.000 đồng (một trăm ba mươi triệu đồng)/01 kg. Sau khi T, H2 và V3 thống nhất về giá mua bán ma túy, V3 yêu cầu người mua ma túy phải chuyển khoản trước 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) là tiền đặt cọc mua ma túy, H2 đồng ý đặt cọc và nói khi nào về Thành phố Hồ Chí Minh sẽ chuyển khoản cho V3, sau đó V3 gửi cho T số tài khoản 105000106689 ngân hàng V8 mang tên Nguyễn Thị V4 thuộc chi nhánh L6, Quảng Trị qua ứng dụng Telegram được cài đặt ở điện thoại của L, để T chuyển thông tin tài khoản này cho H2. H2 ở lại nhà T ăn cơm sau đó quay về Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng một tuần sau (vào khoảng đầu tháng 6/2021), H2 đã chuyển 480.000.000 đồng (bốn trăm tám mươi triệu đồng) tiền đặt cọc mua ma túy vào số tài khoản mang tên Nguyễn Thị V4 mà V3 cung cấp, chuyển tiền xong H2 thông báo lại cho T để T biết, cùng thời gian này V3 thông báo đã nhận được tiền đặt cọc mua ma túy từ H2. Sau khi đã nhận tiền đặt cọc mua ma túy, V3 gọi điện cho T nói chuyến này có 32 (ba mươi hai) kg ma túy "đá", T thông báo lại cho H2 thì được H2 đồng ý mua 32 (ba mươi hai) kg ma túy "đá", giá là 180.000.000 đồng (một trăm tám mươi triệu đồng)/01 kg ma túy đá như đã thỏa thuận từ trước.
Ngày 13/6/2021, V3 gọi điện thoại cho T hẹn địa điểm giao, nhận ma túy tại khu vực đường M, số ma túy này V3 sẽ cho người giao và để sẵn ở chân biển quảng cáo hoặc cột mốc nơi giáp ranh giữa 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Cùng ngày, T gọi điện thoại cho Chế Quang K, và Nguyễn Văn T1 là các đối tượng đã tham gia vận chuyển ma túy cho T trước đó. K và T1 đồng ý đi nhận ma túy cho T. T bảo Nguyễn Thế L chuẩn bị tiền đi đường để đưa cho K, theo sự chỉ đạo của T, L đưa cho K khoảng 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) để đi nhận ma túy. T cũng nhờ L gọi điện thoại bảo T1 chủ động thuê xe ô tô và báo sẽ có K để cùng nhau đi nhận ma túy. T1 đồng ý và nói việc này T1 sẽ lo liệu được và sẽ có một người bạn của T1 đi cùng. Khoảng 13 giờ ngày 13/6/2021, K bắt xe khách từ khu vực đường tránh thành phố H (vòng xuyến thị trấn T) ra đến thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh gọi điện báo cho T1 hẹn địa điểm gặp nhau. Khoảng 18 giờ ngày 13/6/2021, T1 lái xe ô tô bán tải màu trắng, nhãn hiệu FORD, biển kiểm soát 37C - 358.52 do T1 thuê trước đó đến đón bạn là Trần Quang T3 ở phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. T1 rủ T3 đi cùng mình, mục đích là để lái xe cho T1 thì T3 đồng ý. Sau đó, T1 cùng T3 đến đón K tại khu vực huyện C, tỉnh Hà Tĩnh rồi cả ba cùng nhau đi nhận ma túy, trên đường đi đến địa phận huyện D, tỉnh Nghệ An, T1 dừng xe ven đường mua 02 va li và 02 ba lô để cất giấu ma túy sau khi nhận được theo sự chỉ đạo của T. Sau khi đón được K, K là người lái xe. Khoảng 22 giờ cùng ngày, cả ba đến khu vực giáp ranh giữa Hà Tĩnh và Nghệ An trên đường M, gần địa điểm nhận ma túy thì T gửi cho L số điện thoại của Hạ Bá V3 (Điện thoại số +8562055700150) để Lập hỏi V3 địa điểm nhận ma túy. Sau khi liên lạc với V3, L gọi điện báo cho K số cột mốc nơi giao ma túy. K, T1, T3 đến địa điểm nhận ma túy gặp người của V3 đã đợi sẵn ở đó và ra tín hiệu bằng đèn pin chỉ chỗ để ma túy. Sau khi nhận được tín hiệu, K xuống xe nhận từ người của Vừ 02 (hai) ba lô vải màu xanh bên trong có ma túy "đá" rồi bỏ lên ghế sau của xe ô tô và ngồi cùng ma túy. Lúc này T3 là người lái xe, T1 ngồi ghế phụ phía trên. Trên xe K gọi điện thoại cho L báo là đã nhận được ma túy, L gọi điện báo cho T biết. Trước thời điểm giao nhận ma túy V3 có nói với T ngoài 32 (ba mươi hai) kg ma túy "đá", V3 còn tặng cho T 01 (một) khẩu súng ngắn được để trong ba lô cùng với số ma túy trên, T đồng ý nhận khẩu súng mà Vừ tặng cho mình. Trên đường về theo sự chỉ đạo của T, K lấy ma túy trong 02 (hai) ba lô vải màu xanh bỏ vào 02 (hai) va li và 02 (hai) ba lô đã được T1 chuẩn bị sẵn thì K thấy trong ba lô ma túy có 01 (một) khẩu súng ngắn màu đen bên trong có hộp tiếp đạn. Khi cầm khẩu súng, K muốn tháo hộp tiếp đạn ra nhưng không biết cách tháo, nên K gọi điện cho T thông báo ngoài ma túy ra còn có 01 (một) khẩu súng. Vì T không biết gì về súng nên T chỉ đạo K gọi điện thoại cho L để hướng dẫn cách tháo hộp tiếp đạn, K gọi điện thoại cho L thì được L hướng dẫn cách tháo hộp tiếp đạn ra. Sau khi được Lập hướng dẫn tháo hộp tiếp đạn ra, T1 bảo K cho mượn khẩu súng để xem, sau khi xem xong T1 trả lại K để bỏ khẩu súng và hộp tiếp đạn vào trong ba lô cùng với số ma túy. Cùng thời điểm này T1 có xin T 03 (ba) kg ma túy "đá" để làm ăn riêng với mục đích mang về khi có khách thì bán, ban đầu T không đồng ý, vì T1 xin nhiều lần nên T đã trao đổi việc này với Võ Thị Tuyết H2 thì được H2 đồng ý để lại 02 (hai) kg ma túy "đá". T thông báo lại cho T1 là chỉ để lại cho T1
02 (hai) kg ma túy "đá" coi như là tiền công lần này T1 đi vận chuyển ma túy giúp T, T1 đồng ý. Khoảng 00 giờ ngày 14/6/2021, khi đi đến địa phận đường tránh thành phố V, Nghệ An, thì T3 dừng xe để cùng K, T1 vào quán ăn đêm trước khi T1 và K đón xe khách vào Thành phố Hồ Chí Minh. T1 ăn xong trước và xin chủ quán ăn một hộp cát tông và băng dính rồi ra xe ô tô bán tải, T1 lấy 02 (hai) kg ma túy "đá" cho vào hộp cát tông rồi dán kín bằng băng dính, lúc này K và T3 đang trong quán ăn. Thăng bỏ 02 (hai) va li và 02 (hai) ba lô có chứa ma túy xuống khỏi xe. Trước khi đi Thăng dặn T3 lái xe ô tô bán tải trắng cùng hộp cát tông bên trong có 02 (hai) kg ma túy đá mang về nhà cất giữ hộ T1, khi nào T1 từ Thành phố Hồ Chí Minh về thì T1 sẽ qua lấy lại, T3 đồng ý. K và T1 mỗi người mang 01 (một) va li và 01 (một) ba lô chứa ma túy đón xe khách giường nằm vào Thành phố Hồ Chí Minh, trên xe Thăng nằm phía đầu xe, còn K nằm ở giữa xe, mỗi người mang 01 (một) ba lô có chứa ma túy, còn 02 (hai) va li có chứa ma túy được để phía đầu xe khách. Trên xe, T1 có nói với K là đã lấy 02 (hai) kg ma túy rồi, ngoài ra K còn gọi điện báo cho T biết là đã bắt được xe khách. Trên đường đi T đã nhiều lần bảo L gọi điện cho K để hỏi thăm tình hình. Khi xe khách đến gần N thì K, T1 buộc phải đổi xe, do xe khách này không đi Thành phố Hồ Chí Minh mà đi Bà Rịa – Vũng Tàu. Sau khi đổi được xe và gần đến Thành phố Hồ Chí Minh, K gọi điện báo cho T biết, T bảo K, T1 mang ma túy vào Thành phố Hồ Chí Minh giao Võ Thị Tuyết H2 (N). Sau đó, T bảo L gọi cho H2 hỏi địa điểm giao ma túy, H2 nhắn tin cho L địa chỉ giao ma túy tại chung cư L, số C N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, L nhắn tin cho K số điện thoại của H2 (Điện thoại số 0973.464.xxx) và địa chỉ nhận ma túy trên. Đến sáng ngày 15/6/2021 khi xe khách đến gần khu đô thị V thì K và T1 xuống xe, mỗi người mang theo 01 (một) va li và 01 (một) ba lô chờ bắt taxi thì bị lực lượng chức năng kiểm tra bắt quả tang, thu giữ 30 (ba mươi) khối hình hộp có kích thước khoảng 15x15x7cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng có tổng khối lượng 29.863,2 gam (hai mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba phẩy hai gam) Methamphetamine; 01 (một) khẩu súng bằng kim loại màu đen, ký hiệu CZ75B số AG479 là vũ khí quân dụng bán tự động CZ75B kèm 01 hộp tiếp đạn có 09 viên đạn gồm 05 viên ký hiệu 18-118 và 04 viên ký hiệu 9MM LUGER-PMC là đạn quân dụng.
* Về 02 (hai) kg ma túy "đá" đựng trong hộp cát tông dán kín bằng băng dính T trả công cho T1, T1 nhờ T3 mang về, khi về đến thị xã H, tỉnh Nghệ An, vì T3 phải đi chữa bệnh nên đã nhờ Phan Đức H3 cất giữ. Sau đó, khi cơ quan chức năng tiến hành khám xét, H3 đã tự nguyện giao nộp hộp cát tông dán kín bằng băng dính do T3 gửi, kiểm tra bên trong hộp có chứa Methamphetamine khối lượng là 1995,63 gam (một nghìn chín trăm chín mươi năm phẩy sáu mươi ba gam). T3 không nói và H3 không biết bên trong hộp cát tông dán kín có chứa ma túy.
Căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được và vật chứng thu giữ có đủ căn cứ kết luận: các bị can Nguyễn Thế T, Chế Quang K, Nguyễn Văn T1 phạm tội mua bán trái phép 31.858,83 gam (ba mươi mốt nghìn tám trăm năm mươi tám phẩy tám mươi ba gam) Methamphetamine và tàng trữ trái phép: 01 (một) khẩu súng ngắn và 09 viên đạn là vũ khí quân dụng; bị can Nguyễn Thế L, Trần Quang T3 phạm
tội mua bán trái phép 31.858,83 gam (ba mươi mốt nghìn tám trăm năm mươi tám phẩy tám mươi ba gam) Methamphetamine; bị can Võ Thị Tuyết H2 phạm tội mua bán trái phép 29.863,2 gam (hai mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba phẩy hai gam) Methamphetamine.
Đối với đối tượng Hạ Bá V3 (người Lào), Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C3 đã tiến hành xác minh tại xã N, huyện K, tỉnh Nghệ An. Theo thông tin Công an xã N cung cấp Hạ Bá V3 đã không sinh sống trên địa bàn từ lâu. Theo thông tin trả lời của T9 Bộ C3 nước CHDCND Lào qua Cơ quan đại diện Cảnh sát Bộ C3 tại Lào (C5) cung cấp: trên địa bàn huyện K-cợt, tỉnh Bo-ly-khăm-xay, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào không có người tên Hạ Bá V3 như các bị can mô tả. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C3 không có điều kiện xác minh làm rõ.
- Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của bị can Võ Thị Tuyết H2.
Khi khám xét nơi ở của Võ Thị Tuyết H2 tại phòng 505 chung cư L số C N, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C3 thu giữ: 13,35 gam (mười ba phẩy ba mươi năm gam) Ketamine; 16,08 gam (mười sáu phẩy không tám gam) Methamphetamine; 4,76 gam (bốn phẩy bảy mươi sáu gam) ma túy tổng hợp loại MDMA, Methamphetamine; 3,6 gam (ba phẩy sáu gam) ma túy tổng hợp loại MDMA, Methamphetamine, Nimetazepam; 101,48 gam (một trăm linh một phẩy bốn mươi tám gam) lá, hoa cần sa.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Võ Thị Tuyết H2 khai nhận: khối lượng ma túy là Methamphetamine là của đối tượng tên N5 (là bạn bè ngoài xã hội) cho H2 để sử dụng; khối lượng ma túy tổng hợp gồm: MDMA, Methamphetamine, Nimettazepam là của người bạn tên T7 ở Campuchia tặng H2 để sử dụng; số ma túy là lá, hoa cần sa, H2 nhờ đối tượng N5 mua để sử dụng; còn khối lượng ma túy là Ketamine, H2 không nhớ do đâu mà có.
Các đối tượng N5 và T7 theo lời khai của H2 do không biết rõ nhân thân, lai lịch cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C3 không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
Căn cứ Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự 2015 thì khối lượng chất ma túy thu giữ khi khám xét nơi ở của Võ Thị Tuyết H2 được tính toán, quy đổi như sau: do M và MDMA là các chất ma túy được quy định trong cùng một điểm của khoản 1, 2, 3, 4 Điều 249 Bộ luật hình sự, nên 16,08 gam Methamphetamine + 4,76 gam MDMA, Methamphetamine = 20,84 gam quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự nhưng chỉ bằng 68,27% (1) so với mức tổi thiểu quy định tại khoản 3 Điều 249 BLHS; do Ketamine và hỗn hợp N6, MDMA và Methamphetamine (không tách riêng khối lượng từng loại được) là chất ma túy ở thể rắn, nên 13,35 gam Ketamine + 3,6 gam ma túy tổng hợp loại MDMA, Methamphetamine, Nimetazepam = 16,95 gam ma túy ở thể rắn quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự nhưng chỉ tương đương 16,95% (2) so với mức tối thiểu quy định tại khoản 3 Điều 249
Bộ luật hình sự; 101,48 gam lá, hoa cần sa quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS nhưng chỉ tương đương 0,41% (3) so với mức tối thiểu quy định tại khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy, tổng khối lượng ma túy Võ Thị Tuyết H2 tàng trữ tương đương 68,27% (1)+16,95% (2)+0,41% (3)= 85,63% so với mức tổi thiểu khối lượng chất ma túy quy định ở khoản 3 Điều 249 BLHS. Như vậy, Võ Thị Tuyết H2 phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vật chứng thu giữ khi khám xét, kết luận giám định chất ma túy của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C3 tại Thành phố Hồ Chí Minh và lời khai nhận của bị can có đủ căn cứ kết luận hành vi tàng trữ trái phép các chất ma túy nêu trên của Võ Thị Tuyết H2 phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Trên cơ sở kết quả điều tra đủ cơ sở kết luận Võ Thị Tuyết H2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm n, khoản 2 Điều 249 và điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 2179/CT-VKSTC-V4 ngày 24/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã truy tố. Tuy nhiên Võ Thị Tuyết H2 không chấp hành việc triệu tập của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả xác minh Võ Thị Tuyết H2 không có mặt tại địa phương, Tòa án đã trả hồ sơ điều tra bổ sung để truy nã. Đến nay Cơ quan điều tra đã có quyết định truy nã, hết thời hạn điều tra bổ sung nhưng chưa bắt được H2, Cơ quan điều tra Bộ C3 đã tách vụ án, tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Võ Thị Tuyết H2, chờ khi bắt được bị can sẽ phục hồi xử lý bằng vụ án độc lập.
* Ngoài các hành vi phạm tội nêu trên, các bị can Nguyễn Thế T, Nguyễn Thế L, Chế Quang K, Nguyễn Văn T1 còn thực hiện nhiều hành vi mua bán trái phép chất ma túy từ Lào qua các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, sau đó tiêu thụ trên địa bàn Thành phố Hà Nội với các bị can Chế Quang Đ1, Nguyễn Văn L2, Trương Hồng T8, Nguyễn Thị Kim H4, Trương Tuấn D1, Nguyễn Thành Đ2, Nguyễn Văn H5, Hà Minh Đ3 và Nguyễn Mạnh C. Trong quá trình điều tra mở rộng, đến thời điểm sắp hết thời hạn điều tra đối với vụ án mới đủ căn cứ khởi tố và bắt tạm giam thêm một số bị can, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C3 không thể hoàn thành việc điều tra làm rõ nên chưa thể kết luận được trong cùng một vụ án. Do vậy ngày 31/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C3 đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 03/QĐ-CSMT, tách hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các bị can nêu trên xảy ra vào năm 2019, 2020 và tháng 01/2021 tại các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thành phố Hà Nội để tiếp tục điều tra về tội mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự và xử lý sau theo quy định của pháp luật.
* Một số người có liên quan đến vụ án, cụ thể:
- Đối với Hạ Bá V3: Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C3 đã có có Văn bản số 4025/C04-P8 ngày 12/6/2023 và điện mật kèm theo gửi Cơ quan đại diện Bộ C3 tại Lào (C5) về việc đề nghị Cơ quan đại diện Bộ C3 tại Lào (C5) phối hợp với cơ
quan chức năng nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào xác minh, làm rõ nhân thân lý lịch, địa chỉ cư trú, hoạt động của Hạ Bá V3. Tuy nhiên, đến nay Cơ quan điều tra Bộ C3 chưa nhận được kết quả trả lời. Cơ quan điều tra Bộ C3 đang tiếp tục điều tra, làm rõ đối với Hạ Bá V3 trong vụ án Nguyễn Thế T, Nguyễn Thị Kim H4 cùng đồng phạm mua bán trái phép chất ma túy xảy ra tại Hà Tĩnh, Nghệ An và thành phố Hà Nội, theo Quyết định tách vụ án hình sự số 03/QĐ-CSMT ngày 31/01/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C3 (phần II của vụ án).
- Đối với Nguyễn Thị V4 (sinh năm 1972. Nơi cư trú: Khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị): Võ Thị Tuyết H2 đặt cọc mua ma túy của Hạ Bá V3 số tiền 480.000.000 đồng (bốn trăm tám mươi triệu đồng) qua tài khoản của Nguyễn Thị V4, sinh năm 1972, nơi cư trú: Khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Căn cứ nội dung yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C3 đã tiến hành các biện pháp điều tra theo luật định nhằm thu thập tài liệu, chứng cứ đáp ứng các yêu cầu điều tra bổ sung, đến nay xác định: Nguyễn Thị V4 không đứng tên người đại diện pháp luật, chủ sở hữu hoặc tham gia góp vốn vào công ty, doanh nghiệp nào trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. Về cách thức nhận và chuyển tiền, cũng như mối quan hệ với Hạ Bá V3, Nguyễn Thị V4 khai nhận: Tại nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, V4 sử dụng hộ chiếu số B5760755 mang tên Nguyễn Thị V4 để mở 02 tài khoản ngân hàng và tại Việt Nam, V4 sử dụng chứng minh nhân dân số [...] để mở 01 tài khoản ngân hàng để phục vụ việc công việc làm ăn và dịch vụ chuyển, đổi tiền giữa tiền Đồng Việt Nam và tiền Kíp L3, cụ thể: vào khoảng năm 2011, tại Ngân hàng P2, V4 có mở tài khoản ngân hàng số 036140041000296; vào khoảng năm 2013, tại Ngân hàng N9, V4 có mở tài khoản ngân hàng số 037120001148158001. Đối với 02 tài khoản ngân hàng nêu trên, V4 sử dụng số điện thoại 02099748xxx của nhà mạng Unitel để đăng ký dịch vụ Smartbanking; vào khoảng năm 2017, tại Ngân hàng V8, V4 có mở tài khoản ngân hàng số [...] và sử dụng số điện thoại 0914.026.xxx để đăng ký dịch vụ Smartbanking.
Nguyễn Thị V4 khai: do trước đây V4 thường xuyên qua lại biên giới để làm ăn, buôn bán. Vì vậy, V4 có nguồn tiền L3 và gửi tại 02 tài khoản ngân hàng LDB và BCEL nêu trên. Ai có nhu cầu chuyển, đổi tiền giữa tiền Việt Nam và tiền Lào hoặc ngược lại thì sẽ gọi điện thoại báo cho V4 trước. Sau khi V4 kiểm tra tiền trong các tài khoản ngân hàng của mình và cân đối được số tiền phù hợp với yêu cầu của khách về loại tiền cần chuyển, đổi thì V4 sẽ gửi cho khách số tài khoản ngân hàng để khách chuyển tiền qua ứng dụng Smartbanking, sau khi nhận được tiền, V4 dùng các tài khoản ngân hàng của mình để chuyển tiền cho khách, riêng tại Lào thì có thể đưa tiền mặt nếu khách có yêu cầu. Nếu số tiền cần chuyển, đổi của khách vượt quá khả năng cân đối chi trả một trong hai loại tiền Việt Nam và tiền Lào thì V4 sẽ không nhận giao dịch đó. V4 được hưởng phí chuyển, đổi tiền theo tỷ giá giữa tiền V5 và tiền Lào, cứ khoảng 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) tiền Việt Nam, V4 được hưởng lợi khoảng 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) và ngược lại. Do V4 làm việc chuyển, đổi tiền từ lâu nên có nhiều người biết đến, thông thường V4 không biết khách chuyển tiền là ai, chuyển cho ai, với mục đích gì. Trong các khách đã từng nhờ V4 chuyển, đổi tiền không có
người nào tên Hạ Bá V3, sinh ngày 22/02/1982 tại Nghệ An và V4 cũng không quen, biết người nào tên Hạ Bá V3 có thông tin nêu trên. Đến khoảng cuối năm 2021, do dịch C1 bùng phát, biên giới hai nước đóng cửa nên V4 không làm dịch vụ chuyển, đổi tiền này nữa. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ đề nghị xử lý là có cơ sở.
- Đối với Võ Hoàng Cẩm V2 (sinh năm 1991. Nơi cư trú: 17 V, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế): Võ Thị Tuyết H2 đặt cọc mua ma túy của Hạ Bá V3 số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) nhưng đã chuyển nhầm vào tài khoản của Võ Hoàng Cẩm V2, sinh năm 1991. Nơi cư trú: 17 V, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Theo lời khai của Võ Hoàng Cẩm V2: V2 có tài khoản ngân hàng V8 104869158203 mang tên Võ Hoàng Cẩm V2, tài khoản trên được mở vào khoảng năm 2019 để sử dụng giao dịch hàng ngày, và đôi khi là cho chồng của chị V2 là bị can Nguyễn Thế T mượn, nhưng không biết T sử dụng vào việc gì. V2 không biết T mua bán trái phép chất ma túy và không biết đây là tiền mua bán ma túy. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ đề nghị xử lý là có cơ sở.
- Đối với Bạch Bích P (sinh năm 1970. Nơi cư trú: Ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp): Võ Thị Tuyết H2 đặt cọc mua ma túy của Hạ Bá V3 số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) do Bạch Bích P, sinh năm 1970. Nơi cư trú: Ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp chuyển 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) vào tài khoản của Nguyễn Thị V4. Theo lời khai của Bạch Bích P: Vào khoảng đầu tháng 6/2021, Võ Thị Tuyết H2 là con gái của P có hỏi vay 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng), tuy nhiên P chỉ có 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) cho H2 vay. H2 đã gửi số tài khoản để P chuyển đến bằng dịch vụ chuyển tiền V9. P không biết mục đích H2 vay tiền và chuyển tiền đến tài khoản đó để làm gì. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ đề nghị xử lý là có cơ sở.
Ngoài ra, trong vụ án còn một số người đứng tên chủ thuê bao các số điện thoại di động mà các bị can trong vụ án đang sử dụng và bị thu giữ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C3 đã tiến hành xác minh, ghi lời khai và xác định những người này không liên quan đến vụ án, cụ thể:
- Đối với các số điện thoại di động của bị can Nguyễn Thế T, kết quả điều tra thể hiện tại các bút lục: 000349 – 00350;
- Đối với các số điện thoại di động của bị can Võ Thị Tuyết H2, kết quả điều tra thể hiện tại các bút lục: 000986 – 000993, 001018 – 001021, 001026 – 001029;
- Đối với các số điện thoại di động của bị can Nguyễn Thế L, kết quả điều tra thể hiện tại các bút lục: 000554 – 000555;
- Đối với các số điện thoại di động của bị can Chế Quang K, kết quả điều tra thể hiện tại các bút lục: 000632 – 000635, 000722 – 000732;
- Đối với các số điện thoại di động của bị can Nguyễn Văn T1, kết quả điều tra thể hiện tại các bút lục: 000828 – 000833;
- Đối với các số điện thoại di động của bị can Trần Quang T3, kết quả điều tra thể hiện tại các bút lục: 001180 – 001184.
Do Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C3 đã thực hiện đầy đủ việc điều tra, xác minh, làm rõ đối với chủ thuê bao các số điện thoại di động mà các bị can trong vụ án sử dụng và bị thu giữ nên Cơ quan điều tra Bộ C3 không tiến hành điều tra, xác minh lại đối với nội dung yêu cầu này.
* Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:
- Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang đối với Chế Quang K và Nguyễn Văn T1 và ma túy thu giữ khi khám xét chỗ ở của Võ Thị Tuyết H2:
- 01 hộp được niêm phong ký hiệu vụ số 3261 là ma túy còn lại sau giám định. Có chữ ký Điều tra viên và Giám định viên, người chứng kiến, bị can; 02 ba lô vải màu xanh; 01 ba lô vải màu đen - đỏ; 01 ba lô vải màu đen – xanh; 01 valy màu đỏ kích thước khoảng 60x36x24cm; 01 valy màu đồng kích thước khoảng 65x42x24cm;
- 01 thùng cát tông được niêm phong ghi vụ số 3261/5/C09B ngày 08/7/2021 là ma túy còn lại sau giám định. Có chữ ký Điều tra viên và Giám định viên, người chứng kiến, bị cáo;
- 01 thùng các tông được niêm phong ghi vụ số 3261-1/C09B ngày 13/12/2021 sau giám định (đường vân). Có chữ ký của Điều tra viên và Giám định viên, người chứng kiến;
- 01 (một) khẩu súng bằng kim loại màu đen, báng súng có ốp màu đỏ, trên thân súng có ghi CZ75B, số AG479 kèm 01 (một) hộp tiếp đạn bên trong có chứa 09 (chín) viên đạn gồm 05 (năm) viên đạn dưới đáy ghi 18-118 và 04 (bốn) viên đạn dưới đáy ghi 9MM LUGER-PMC.
- Vật chứng thu giữ của Chế Quang K:
- 01 Hộ chiếu số C9320521 tên Chế Quang K; Đề nghị trả lại cho bị cáo K.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, Model TA-1192, Imei: 357755103887087 + 02 sim: 0797972001 và 0348556594 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, Model TA-1174, Imei: 356819634520053 + 02 sim: 0352161580 và 0348890924 đã qua sử dụng;
- 01 điện thoại di động màu trắng, Imei: 867600048659071 + 01 sim số 0934978449 đã qua sử dụng. Kết quả điều tra xác minh thấy chiếc điện thoại nêu trên không liên quan đến vụ án, chủ sở hữu là ông Võ Hồng P1, sinh năm 1959, nơi cư trú: A V, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế;
- Vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn T1:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, mặt sau bị vỡ + 02 sim số: 0565751174 và 0859138999 đã qua sử dụng; 01 sim Viettel số 8984048000068793212;
- 01 thẻ ATM ngân hàng B số 9704180056166176 tên NGUYEN VAN THANG; 01 giấy chứng minh nhân dân số [...] tên Nguyễn Văn T1;
- Vật chứng thu giữ của Võ Thị Tuyết H2:
- 01 cân điện tử màu đen có chữ Zero; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, có 02 sim số 0978979899 và 0829989522 đã qua sử dụng;
- 01 điện thoại di động hiệu BIRD màu đen, có sim số 0984392541 và 0973464458, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu N10 màu đen, có sim số 0936071811 đã qua sử dụng; 01 điện thoại Samsung, mặt trước màu bạc, không có mặt lưng, kèm 01 sim. Kết quả điều tra xác minh thấy 03 chiếc điện thoại nêu trên không liên quan đến vụ án, chủ sở hữu là bà Lưu Thị Hồng C2 (sinh năm 1992, nơi cư trú: Kim Quy A, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang);
- 01 điện thoại di động hiệu NUOIO bên trong có 02 sim viettel, đã qua sử dụng và 01 máy tính bảng Huawei, màu bạc, máy đã qua sử dụng. Võ Thị Tuyết H2 khai nhận điện thoại di động NUOIO và máy tính bàn Huawei nêu trên là của Vũ Duy V6, sinh năm 1983. Nơi cư trú: 14 T, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C3 đã tiến hành xác minh, triệu tập ghi lời khai, tuy nhiên không xác định được hiện V6 đang làm gì ở đâu, do vậy không có điều kiện xác minh làm rõ.
- 01 thẻ ATM ngân hàng V10 số 5138 9200 0042 4187 mang tên BACH BICH PHUONG. Thẻ ATM này là của Bạch Bích P là mẹ đẻ của Võ Thị Tuyết H2 đưa cho H2 sử dụng, quá trình mua bán trái phép chất ma túy H2 sử dụng tài khoản ngân hàng của thẻ này chuyển tiền đặt cọc mua ma túy; Đề nghị trả lại cho bà P.
- 01 thẻ ATM ngân hàng T10 số 4220 7688 0038 2267 mang tên VO THANH DUONG + 01 (một) thẻ ATM ngân hàng T10 số 4221 4986 6820 5181 tên VO THANH DUONG. Các thẻ ATM này là của Võ Thanh D2 (sinh năm 1992, nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp) là em ruột của Võ Thị Tuyết H2. Tại thời điểm cơ quan điều tra xác minh tài khoản không còn tiền. Qua xác minh các thẻ này không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy của Võ Thị Tuyết H2;
- 01 thẻ ATM ngân hàng T10 số 4220 7688 0160 4198 tên VO THI TUYET HONG + 01 thẻ ATM ngân hàng V10 số 5130940000136845 tên VO THI TUYET HONG; 01 thẻ ATM ngân hàng S1 số 5174160009605008 mang tên TRAN QUOC TUAN. Tại thời đểm cơ quan điều tra xác minh tài khoản không còn tiền và không xác định được chủ sở hữu đang ở đâu; 01 thẻ ATM ngân hàng A1 số 4221 0930 1001 1377 tên N11 Tại thời đểm cơ quan điều tra xác minh tài khoản không còn tiền và không xác định được chủ sở hữu đang ở đâu; 01 thẻ ATM ngân hàng T11 số 4665 8421 6059 8341 tên NGUYEN THI NGOC TRINH + 01 thẻ ATM A2 số 9704 0507 5173 7698 tên NGUYEN THI NGOC TRINH + 01 thẻ ATM V11 số 4524 0418 6147 2861 mang tên NGUYEN THI NGOC TRINH. Tại thời đểm cơ quan điều tra xác minh tài khoản không còn tiền và xác định được chủ sở hữu đang ở đâu; 01 quyển sổ màu đỏ có chữ HENKEL bên trong có chữ viết, trên
từng trang có chữ ký của Võ Thị Tuyết H2, H2 dùng để ghi chép tiền sinh hoạt hàng ngày.
- Vật chứng thu giữ của Trần Quang T3:
- 02 gói chứa Methamphetamine có tổng khối lượng: 1995,63 gam (một nghìn chín trăm chín mươi năm phẩy sáu mươi ba gam) sau khi trích mẫu gửi giám định được niêm phong trong 01 (một) hộp cát tông kích thước khoảng 40x20x20cm, bên ngoài được dán kín bằng giấy màu trắng, tại mép dán có chữ ký của Điều tra viên, Giám định viên, Kiểm sát viên, người chứng kiến, người bị khám xét Phan Đức H3, hình dấu tròn đỏ của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Bộ C3 và ghi chữ “Vật chứng thu giữ Khám xét nơi ở của Phan Đức H3 ngày 17/6/2021";
- Toàn bộ đối tượng hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì niêm phong số 5264/C09(TT2) của V7, Bộ C3 kính gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra (C04) Bộ C3, mặt sau có các chữ ký ghi họ, tên: Lưu Mạnh H6, Nguyễn Ngọc S, và các hình dấu đỏ của V7, Bộ C3;
- 01 điện thoại di động, mang nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng có Model: TA-1034; có 02 sim trong đó sim 1 có số seri sim: 8984048000075053840; sim 2 có số seri sim: 8984048000059891566;
- 01 Giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Trần Quang T3, cấp ngày 21/5/2019; 01 Giấy phép lái xe số: ĐK 725151 mang tên Trần Quang T3, cấp ngày 30/7/2009;
- 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO có số IMEI 1: 860202042339292; IMEI 2: 860202042339284; kèm sim Viettel số 0382.271.xxx. Kết quả điều tra xác minh chiếc điện thoại và sim V9 nêu trên là của bà Nguyễn Thị T5 (sinh năm 1993, nơi cư trú: Phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An và không liên quan đến vụ án);
- 01 Thẻ ngân hàng M1 có số 4089 0410 3966 0196 mang tên Nguyễn Thị T5; 01 Thẻ ngân hàng T10 có số 4220 7575 0119 7231 mang tên Nguyễn Thị T5; 01 Thẻ ngân hàng T10 có số 4221 4986 6127 1750 mang tên Nguyễn Thị T5. Kết quả điều tra xác minh thấy các thẻ ngân hàng nêu trên là của bà Nguyễn Thị T5 (sinh năm 1993, nơi cư trú: Phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An và không liên quan đến vụ án);
- Vật chứng thu giữ của Nguyễn Thế T: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng, số IMEI 1: 353112110957376, số IMEI 2: 353112115957371 kèm 01 sim thuê bao số 0365487187; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng, số IMEI 1: 357685103672587, số IMEI 2: 357685104672586 kèm 02 sim thuê bao số 0865383622 và 0796780357.
- Vật chứng thu giữ của Nguyễn Thế L:
- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 màu đen đã qua sử dụng, có các số IMEI là: 356544102320717, 356544102326466 kèm 01 sim vật lý và các số thuê bao 0899973636 và 0828273636; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA
- màu xám-đen đã qua sử dụng, số IMEI 1: 357730104843587, số IMEI 2: 357730105843586 kèm 01 sim thuê bao số 0332002518;
- 01 giấy chứng thực bản sao chứng nhận đăng ký xe ô tô số 024105; 01 Giấy biên nhận thế chấp số 099/07/VIB ngày 24/3/2021 của Ngân hàng Q1 (V10), bên thế chấp: Nguyễn Thế L, địa chỉ: 7 T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế;
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 561/2023/HS –ST ngày 30/11/2023 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
1/ Xử:
1.1/ Căn cứ điểm b khoản 4 và khoản 5 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 40 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế T: Tử hình, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Buộc bị cáo Nguyễn Thế T phải nộp phạt bổ sung số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng để sung quỹ nhà nước.
- Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế T: 03 (ba) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
- Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Thế T phải chịu hình phạt chung là Tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho công tác thi hành án.
1.2/ Căn cứ điểm b khoản 4 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 40 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Chế Quang K: Tử hình, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Buộc bị cáo Chế Quang K phải nộp phạt bổ sung số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng để sung quỹ nhà nước.
- Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Chế Quang K: 02 (hai) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
- Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo Chế Quang K phải chịu hình phạt chung là Tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho công tác thi hành án.
1.3/ Căn cứ điểm b khoản 4 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 40 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1: Tử hình, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T1 phải nộp phạt bổ sung số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng để sung quỹ nhà nước.
- Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1: 02 (hai) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
- Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Văn T1 phải chịu hình phạt chung là Tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho công tác thi hành án.
1.4/ Căn cứ điểm b khoản 4 và khoản 5 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 40 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Trần Quang T3: Tử hình, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho công tác thi hành án.
Buộc bị cáo Trần Quang T3 phải nộp phạt bổ sung số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng để sung quỹ nhà nước.
1.5/ Căn cứ điểm b khoản 4 và khoản 5 Điều 251; điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 40 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế L: Tử hình, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thế L phải nộp phạt bổ sung số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng để sung quỹ nhà nước.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và căn cứ Điều 22 và 23 Nghị quyết quyết định về mức thu, miễn giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, cùng danh mục án phí, lệ phí toà án,
Các bị cáo Nguyễn Thế T, Chế Quang K, Nguyễn Văn T1, Trần Quang T3 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo Nguyễn Thế T, Chế Quang K, Nguyễn Văn T1, Trần Quang T3, Nguyễn Thế L có quyền làm đơn xin Chủ tịch nước ân giảm hình phạt Tử hình.
[6] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A, 7B và 9 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Phạm Trí Tuấn |
Bản án số 488/2024/HS - PT ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự: mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
- Số bản án: 488/2024/HS - PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thế L và đồng phạm phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuyên xử Chấp nhận kháng nghị số 03/KNPT – VKS-P1 ngày 13/12/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thế L. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Thế T, Chế Quang K, Nguyễn Văn T và Trần Quang T; Sửa Bản án sơ thẩm về mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thế L và giữ nguyên mức hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thế T, Chế Quang K, Nguyễn Văn T và Trần Quang T
