Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 487/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10/3/2025

V/v Ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Nguyệt

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Tiến Dũng
  2. Bà Nguyễn Thị Lượng

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Bình Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1930/2024/HNST ngày 01 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 888/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trương Thị Mỹ L, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Số C đường B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: Ông Lê Huy V, sinh năm: 1995.

Địa chỉ: Số C đường V, khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ L trình bày: bà Trương Thị Mỹ L và ông Lê Huy V đã kết hôn vào năm 2019 có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh. Cuộc sống chung hạnh phúc được thời gian đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc. Hai bên đã ly thân từ tháng 01/2024 cho đến nay. Bà và ông V đã ngồi lại nói chuyện nhưng tình hình vẫn không thay đổi. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà xin Tòa xem xét cho bà được ly hôn với ông Lê Huy V.

Về con chung: Có 01 người con chung tên Lê Huy Â, sinh ngày 04/05/2019. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng người con chung và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Tại bản tự khai và tại các buổi hòa giải ông Lê Huy V trình bày: Ông xác nhận giai đoạn đi đến hôn nhân đúng như bà L trình bày. Theo ông thời gian đầu cuộc sống chung hạnh phúc bình thường, tuy nhiên sau đó thì mâu thuẫn nguyên nhân là không tin tưởng nhau trong lĩnh vực kính tế. Ông bà đã ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay, ông cũng xác định tình cảm không còn ông đồng ý ly hôn với bà Trương Thị Mỹ L.

Về con chung: Có 01 người con chung tên Lê Huy Â, sinh ngày 04/05/2019. Sau khi ly hôn ông yêu cầu được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng người con chung và không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ L có đơn xin vắng mặt xét xử vụ án. Bị đơn ông Lê Huy V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về nội dung: Bà Trương Thị Mỹ L và ông Lê Huy V tự nguyện kết hôn và chung sống với nhau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 25/05/2019 do Ủy ban nhân dân phường L, quận T, (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp, do đó hôn nhân của ông bà là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Về yêu cầu xin ly hôn của bà L, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại tòa, cả bà L và ông V thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, bà L cho rằng nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, kinh tế khó khăn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, từ đó cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc. Ông V xác định tình cảm không còn, ông đồng ý ly hôn. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng là có và hiện nay các bên vẫn còn mâu thuẫn, chứng tỏ ông bà không có khả năng giải quyết những mâu thuẫn phát sinh trong thực tế cuộc sống vợ chồng, vợ chồng không còn gắn bó tình cảm, không còn trách nhiệm chăm sóc lẫn nhau. Do mục đích hôn nhân không đạt được, bà L cương quyết ly hôn, ông V đồng ý ly hôn nhưng vắng mặt không có lý do, vì vậy căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của bà L về việc xin ly hôn với ông V.

Về con chung: Bà Trương Thị Mỹ L và ông Lê Huy V xác định có 01 người con chung tên Lê Huy Â, sinh ngày 04/05/2019. Cả bà L và ông V đều có yêu cầu xin nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nhưng việc quyết định giao con cho ai nuôi Hội đồng xét xử phải xem xét bảo đảm quyền lợi mọi mặt của con. Xét hiện tại người con chung đang ở với bà L, được chăm sóc tốt và được đi học tốt, bà L có đủ khả năng và điều kiện chăm sóc con. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của con cũng như sự ổn định về tinh thần, tâm lý của con nên giao con cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà L không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, đúng quy định.

Về án phí: Căn cứ vào Luật phí và lệ phí năm 2015. Bà L phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 244, Khoản 2 Điều 269, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ L.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Mỹ L được ly hôn với ông Lê Huy V.
    2. Về con chung: Có 01 người con chung tên Lê Huy Â, sinh ngày 04/05/2019.

Giao người con chung tên Lê Huy Â, sinh ngày 04/05/2019 cho bà Trương Thị Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trương Thị Mỹ L không yêu cầu ông Lê Huy V phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.

    1. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    2. Về nợ chung: Đương sự xác định không có.
  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trương Thị Mỹ L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà L đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0043227 ngày 23/9/2024. Bà L đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: Án sơ thẩm xét xử công khai các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND TP.HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP.Thủ Đức;
  • - Cơ quan đăng ký kết hôn;
  • - Các bên đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Ánh Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 487/2025/HNGĐ-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 487/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger