Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 4867/2024/DS-ST

Ngày: 30/9/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Tiến Dũng
  2. Ông Dương Hoàng Chinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh P - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1205/2023/TLST- DS ngày 03 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7834/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S

    Trụ sở: Số B đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T

    Địa chỉ liên lạc: Số B đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn yêu cầu vắng mặt)

    (Văn bản ủy quyền số 1562/2023/UQ-TGĐ ngày 29/5/2023 của Công ty TNHH một thành viên Q và Khai thác tài sản Ngân hàng S và giấy ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022 của Ngân hàng Thương mại cổ phần S)

  2. Bị đơn: Bà Trần Bích T1 - sinh năm 1993

    Địa chỉ: Số C Đường A, Khu phố B, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/6/2023 và lời trình bày của đại diện nguyên đơn trong quá trình tham gia tố tụng:

Ngày 04/4/2018, bà Trần Bích T1 có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà T1, ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng JCB Jspeendy Cre Gold, số thẻ 356481-0363 với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, mức lãi suất áp dụng là 2,6%/tháng. Lãi quá hạn là 150% lãi suất trong hạn

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 347.700.000 đồng và đã thanh toán cho ngân hàng số tiền là 330.560.000 đồng (bao gồm cả vốn gốc, lãi, phí ...). Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng bà T1 không trả nợ. Do bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 01/01/2021 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến thời điểm ngày 30/9/2024 thì bà T1 còn nợ số tiền gốc là 23.291.989 đồng, lãi quá hạn là 41.453.320 đồng.

Nay Ngân hàng thương mại cổ phần S yêu cầu bà T1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 30/9/2024 là 64.745.309 đồng, trong đó số tiền gốc là 23.291.989 đồng, lãi quá hạn là 41.453.320 đồng. Bà T1 còn có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 01/10/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Số tiền Ngân hàng cho vay là chỉ cho cá nhân bà T1 vay nên nay ngân hàng chỉ yêu cầu cá nhân bà T1 trả nợ.

Ngày 24/9/2024, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần S có đơn yêu cầu vắng mặt trong quá trình tố tụng.

Bà Trần Bích T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và giấy triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản nên căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[2] Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tại đơn đề nghị cấp thẻ tín dụng, bà T1 xác định nơi đăng ký thường trú: xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang, chỗ ở hiện tại: số C Đường A, khu phố B, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, kết quả xác minh tại Công an xã N thì bà T1 có đăng ký thường trú tại địa phương nhưng hiện không cư trú tại địa phương. Kết quả xác minh tại Công an phường H thì bà T1 không cư trú tại địa phương. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và sự lựa chọn của nguyên đơn chọn Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức là cơ quan giải quyết nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[3] Ngân hàng thương mại cổ phần S có đơn yêu cầu vắng mặt, bà Trần Bích T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Bị đơn bà Trần Bích T1 đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa, không có lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ để xác nhận hoặc phản bác yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp có cơ sở xác định ngày 04/4/2018 bà T1 đã ký giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với Ngân hàng (bao gồm bản điều khoản và điều kiện cấp thẻ) và Ngân hàng đã cấp cho bà T1 thẻ tín dụng JCB Jspeendy Cre Gold, số thẻ 356481-0363 với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, lãi suất 2,6%/tháng.

Xét thấy hình thức và nội dung thỏa thuận của các bên tại hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 330.560.000 đồng. Số tiền còn nợ tính đến hết ngày 30/9/2024 là 64.745.309 đồng, trong đó nợ gốc là 23.291.989 đồng và lãi quá hạn là 41.453.320 đồng. Do bà T1 đã vi phạm thỏa thuận với Ngân hàng, không trả nợ đúng hạn nên nay Ngân hàng yêu cầu bà T1 thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ tính đến hết ngày 30/9/2024 là 64.745.309 đồng là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ngoài ra, bà T1 còn phải trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cấp thẻ tín dụng đã ký.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên bị đơn bà T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.237.265 đồng. Hoàn tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng.

Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S:

    Buộc bà Trần Bích T1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền còn nợ tính đến hết ngày 30/9/2024 của hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 04/4/2018, loại thẻ JCB Jspeendy Cre G, số thẻ 356481-0363 với số tiền nợ gốc là 23.291.989 (hai mươi ba triệu hai trăm chín mươi mốt ngàn chín trăm tám mươi chín) đồng và lãi quá hạn là 41.453.320 (bốn mươi mốt triệu bốn trăm năm mươi ba ngàn ba trăm hai mươi) đồng. Tổng số tiền bà Trần Bích T1 phải trả là 64.745.309 (sáu mươi bốn triệu bảy trăm bốn mươi lăm ngàn ba trăm lẻ chín) đồng.

    Kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thi hành án xong, bà Trần Bích T1 còn phải chịu tiền lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cấp thẻ tín dụng đã ký nêu trên.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Bích T1 phải nộp 3.237.265 (ba triệu hai trăm ba mươi bảy ngàn hai trăm sáu mươi lăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    H lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí 1.244.675 (một triệu hai trăm bốn mươi bốn ngàn sáu trăm bảy mươi lăm) đồng Ngân hàng thương mại cổ phần S đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0005092 ngày 27/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lệ Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4867/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 4867/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh châp hợp đồng vay tài sản giữa Ngân hàng S và bà Trần Bích T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger