|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 4866/2024/DS-ST
Ngày: 30-9-2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Cẩm Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Mai Thanh Giàu
- 2. Bà Phan Thị Bé
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 851/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6871/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7685/2024/QÐST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
Trụ sở: số B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đơn vị đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S1)
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm: 1973 (Theo văn bản ủy quyền số 1176/2024/UQ-TGĐ ngày 23/02/2024).
Địa chỉ liên hệ: số B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Bà Lê Thị P, sinh năm 1991
Địa chỉ: số D đường số B, khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Minh T1 trình bày:
Ngày 03/5/2018, bà Lê Thị P có ký với Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập, ngày 08/5/2018, Ngân hàng cấp cho bà P thẻ tín dụng loại Visa Pay Wave Cre Classic, số thẻ: 472074-7842; Hạn mức tín dụng khi cấp thẻ là 20.000.000 đồng; Mục đích: Tiêu dùng cá nhân; Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng 2,6% vào từng thời điểm khác nhau và thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Các khoản phí cũng được thể hiện theo quy định trong Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt.
Sau khi được kích hoạt Thẻ tín dụng, bà P đã thực hiện các giao dịch với và làm phát sinh các khoản phí, lãi suất theo thỏa thuận với tổng số tiền là 114.619.961 đồng (Trong đó gồm có số tiền 19.611.626 đồng là tiền phí và tiền lãi tính trên các giao dịch). Bà P đã thanh toán cho Ngân hàng được tổng số tiền 102.879.873 đồng (Thứ tự thanh toán được áp dụng theo Điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) sau đó không tiếp tục thanh toán. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà phương vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà P vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 01/10/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ số tiền dư nợ còn lại là 11.740.088 đồng sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng đồng thời thông báo việc khởi kiện vụ án. Ngân hàng xác định đây là khoản vay cá nhân với mục đích tiêu dùng nên chỉ khởi kiện yêu cầu cá nhân bà Lê Thị P phải trả nợ, ngân hàng không có thông tin cá nhân chồng bà P và không yêu cầu chồng bà P (nếu có) liên đới trách nhiệm trả nợ.
Bị đơn – bà Lê Thị P: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập cho bà P đến Tòa án để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa:
Ông Nguyễn Minh T1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện theo bảng tính lãi chi tiết đối với bà Lê Thị P tạm tính đến ngày Tòa án xét xử vụ án. Cụ thể: Buộc bà Phương T2 tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 34.679.940 đồng. Trong đó, dư nợ gốc là 11.740.088 đồng, tiền lãi quá hạn tính từ ngày 01/10/2021 đến 30/9/2024 là 22.939.852 đồng (Lãi suất áp dụng là 2,6%/tháng, lãi quá hạn là 2,6% x 150% = 3,9%/tháng).
Bị đơn bà Lê Thị P vắng mặt không có lý do.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án đã vi phạm về thời hạn xét xử nhưng một phần do bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự, đơn xin vắng mặt là hợp lệ. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.
Về nội dung: Bị đơn vi phạm nghiêm trọng các nội dung trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 03/5/2018 gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ngân hàng TMCP S khởi kiện bà Lê Thị P yêu cầu thanh toán nợ vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã ký kết ngày 03/5/2018. Bà Lê Thị P có nơi cư trú tại phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về việc tham gia tố tụng của các đương sự:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Minh T1 tham gia tố tụng, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hợp lệ.
Bị đơn bà Lê Thị P vắng mặt không có lý do. Theo kết quả trả lời xác minh của Công an phường H, thành phố T thì bà P có đăng ký hộ khẩu thường trú tại nhà số D đường số B, khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đã bán nhà đi đâu không rõ. Bà P không thông báo cho Ngân hàng TMCP S biết về nơi cư trú, làm việc mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung. Tòa án đã triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
Trong vụ án này, nguyên đơn khởi kiện bà Lê Thị P, yêu cầu cá nhân bà P thanh toán các khoản nợ do cá nhân bà P vay và xác định chỉ yêu cầu cá nhân bà P trả nợ, nguyên đơn không xác định được chồng của bà P là ai và không yêu cầu chồng của bà P (nếu có) cùng trả nợ. Do đó, không có cơ sở triệu tập chồng của bà P (nếu có) tham gia tố tụng trong vụ án này.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Ngân hàng TMCP S có cho bà Lê Thị P vay tiền theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 03/5/2018. Xét hợp đồng tín dụng nêu trên giữa các bên có hình thức đúng quy định của pháp luật, nội dung các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng không vi phạm điều cấm của pháp luật, các bên tự nguyện ký kết Hợp đồng tín dụng nên Hợp đồng tín dụng này phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà P đã thực hiện các giao dịch với và làm phát sinh các khoản phí, lãi suất theo thỏa thuận với tổng số tiền là 114.619.961 đồng (Trong đó gồm có số tiền 19.611.626 đồng là tiền phí và tiền lãi tính trên các giao dịch). Bà P đã thanh toán cho Ngân hàng được tổng số tiền 102.879.873 đồng (Thứ tự thanh toán được áp dụng theo Điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) sau đó không tiếp tục thanh toán. Do bà P vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 01/10/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ số tiền dư nợ còn lại là 11.740.088 đồng sang nợ quá hạn với mức lãi suất áp dụng 2,6%/tháng, lãi quá hạn là 2,6% x 150% = 3,9%/tháng là phù hợp. Tính đến ngày Tòa án xét xử vụ án (ngày 30/9/2024), bà P còn nợ Ngân hàng với tổng số tiền 34.679.940 đồng. Trong đó, dư nợ gốc là 11.740.088 đồng, tiền lãi quá hạn tính từ ngày 01/10/2021 đến 30/9/2024 là 22.939.852 đồng. Bà P đã được tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì, cũng không gửi cho Tòa án tài liệu gì về việc khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Theo Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì việc nguyên đơn yêu cầu phía bị đơn phải trả khoản lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 trên số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định trong Hợp đồng cho đến khi thi hành án xong là phù hợp quy định tại Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có cơ sở để chấp nhận.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn bà Lê Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 34.679.940 đồng x 5% = 1.733.997 đồng.
Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí nên được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 4, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2014;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S.
Buộc bà Lê Thị P có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền còn nợ theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) ngày 03/5/2018 là 34.679.940 đồng (Ba mươi bốn triệu sáu trăm bảy mươi chín ngàn chín trăm bốn mươi đồng). Trong đó, tiền nợ gốc là 11.740.088 đồng (Mười một triệu bảy trăm bốn mươi ngàn không trăm tám mươi tám đồng), tiền lãi là 22.939.852 đồng (Hai mươi hai triệu chín trăm ba mươi chín ngàn tám trăm năm mươi hai đồng). Bà P phải trả ngay một lần toàn bộ số tiền nợ nêu trên khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ 01/10/2024 cho đến khi thi hành án xong, bà Lê Thị P còn phải chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP S thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Lê Thị P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 1.733.997 đồng (Một triệu bảy trăm ba mươi ba ngàn chín trăm chín mươi bảy đồng) tại C có thẩm quyền.
- Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 781.913 đồng (Bảy trăm tám mươi mốt ngàn chín trăm mười ba đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0026341 ngày 16/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ ĐứC, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Thái Thị Cẩm Hiền |
Bản án số 4866/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 4866/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sử dụng thẻ tín dụng
