|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ——————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ——————— |
Bản án số: 4864/2024/DS-ST
Ngày: 30-9-2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
———————
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Cẩm Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Mai Thanh Giàu
- Bà Phan Thị Bé
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1067/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6874/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7753/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7686/2024/QĐST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V
Địa chỉ: Số H L, phường L, Quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông(bà) Nguyễn Thị Thanh N, Hồ Thanh D, Nguyễn Khánh D1. Theo văn bản ủy quyền số 706/8/2024/UQ-VPBank ngày 10/8/2024.
-
Bị đơn: Ông Trần Văn S, sinh năm 2000
Địa chỉ: Số H đường B, khu phố I (khu phố G cũ), phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Hồ Thanh D trình bày:
Ngày 13/3/2023, ông Trần Văn S ký với Ngân hàng TMCP V (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay theo hạn mức thấu chi không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng diện tử số CCA/VN0010325/202303. Căn cứ theo hồ sơ cá nhân, ngày 15/3/2023, Ngân hàng đã giải ngân cho ông S vay số tiền 300.000.000 đồng; Mục đích: sửa nhà; Thời hạn vay: 12 tháng (từ 15/3/2023 đến 15/3/2024); Lãi suất trong hạn 19.00%/năm. Việc điều chỉnh lãi suất và các khoản phí cũng được thể hiện theo Hợp đồng đã ký kết.
Trong quá trình sử dụng vốn vay, ông S đã vi phạm các thỏa thuận về việc sử dụng vốn vay và thanh toán, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nợ nhưng ông S vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thông báo nên ngày 05/7/2023 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn và thông báo việc khởi kiện. Ngân hàng xác định đây là khoản vay cá nhân với mục đích tiêu dùng nên chỉ khởi kiện yêu cầu cá nhân ông Trần Văn S phải trả nợ, Ngân hàng không có thông tin cá nhân vợ ông S và không yêu cầu vợ ông S (nếu có) liên đới trách nhiệm trả nợ.
Bị đơn – ông Trần Văn S: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập cho ông S đến Tòa án để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện theo bảng tính lãi chi tiết đối với ông Trần Văn S tạm tính đến ngày Tòa án xét xử vụ án. Cụ thể: Buộc ông S thanh tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 171.639.727 đồng. Trong đó, dư nợ gốc là 89.991.429 đồng, tiền lãi quá hạn tạm tính đến 30/9/2024 là 81.648.298 đồng.
Bị đơn ông Trần Văn S vắng mặt không có lý do.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án đã vi phạm về thời hạn xét xử nhưng một phần do bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự, đơn xin vắng mặt là hợp lệ. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.
Về nội dung: Bị đơn vi phạm nghiêm trọng các nội dung trong Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay theo hạn mức thấu chi không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng diện tử số CCA/VN0010325/202303 gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ngân hàng TMCP V khởi kiện ông Trần Văn S yêu cầu thanh toán nợ vay theo Giấy đăng ký
kiêm Hợp đồng cho vay theo hạn mức thấu chi không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng diện tử số CCA/VN0010325/202303. Ông Trần Văn S có nơi cư trú tại phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về việc tham gia tố tụng của các đương sự:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn tham gia tố tụng, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hợp lệ.
Bị đơn ông Trần Văn S vắng mặt không có lý do. Theo kết quả trả lời xác minh của Công an phường L, thành phố T thì ông S có hộ khẩu thường trú tại nhà số H đường B, khu phố I (khu phố G cũ), phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đã bán nhà đi đâu không rõ, ông S không thông báo cho Ngân hàng biết về nơi cư trú, làm việc mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung, ông S đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
Trong vụ án này, nguyên đơn khởi kiện ông Trần Văn S, chỉ yêu cầu cá nhân ông S thanh toán nợ do cá nhân ông S vay, nguyên đơn không xác định được vợ của ông S là ai và không yêu cầu vợ của ông S (nếu có) cùng trả nợ. Do đó, không có cơ sở triệu tập vợ của ông S (nếu có) tham gia tố tụng trong vụ án này.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Ngân hàng TMCP V có cho ông Trần Văn S vay tiền theo Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay theo hạn mức thấu chi không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng diện tử số CCA/VN0010325/202303. Xét Hợp đồng nêu trên giữa các bên có hình thức đúng quy định của pháp luật, nội dung các bên thỏa thuận trong Hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, các bên tự nguyện ký kết Hợp đồng nên Hợp đồng này phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Trong quá trình sử dụng vốn vay, ông S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã thỏa thuận theo Hợp đồng đã ký kết. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số tiền dư nợ sang nợ quá hạn là phù hợp. Tính đến ngày Tòa án xét xử vụ án (ngày 30/9/2024), ông S còn nợ Ngân hàng với tổng số tiền là 171.639.727 đồng. Trong đó, dư nợ gốc là 89.991.429 đồng, tiền lãi quá hạn tạm tính đến 30/9/2024 là 81.648.298 đồng. Ông S đã được tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì, cũng không gửi cho Tòa án tài liệu gì về việc khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Theo Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì việc nguyên đơn yêu cầu phía bị đơn phải trả khoản lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 trên số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất nợ
quá hạn quy định trong Hợp đồng cho đến khi thi hành án xong là phù hợp quy định tại Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có cơ sở để chấp nhận.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn ông Trần Văn S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 171.639.727 đồng x 5% = 8.581.986 đồng.
Ngân hàng TMCP V không phải chịu án phí nên được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 4, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2014;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V.
Buộc ông Trần Văn S có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền còn nợ theo Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay theo hạn mức thấu chi không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng diện tử số CCA/VN0010325/202303 là 171.639.727 đồng (Một trăm bảy mươi mốt triệu sáu trăm ba mươi chín ngàn bảy trăm hai mươi bảy đồng). Trong đó, dư nợ gốc là 89.991.429 đồng (T1 mươi chín triệu chín trăm chín mươi mốt ngàn bốn trăm hai mươi chín đồng), tiền lãi quá hạn tạm tính đến 30/9/2024 là 81.648.298 đồng (T1 mươi mốt triệu sáu trăm bốn mươi tám ngàn hai trăm chín mươi tám đồng). Ông S phải trả ngay một lần toàn bộ số tiền nợ nêu trên khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ 01/10/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Trần Văn S còn phải chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP V thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.
-
Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Trần Văn S phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 8.581.986 đồng (Tám triệu năm trăm tám mươi mốt ngàn chín trăm tám mươi sáu đồng) tại C có thẩm quyền.
- Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.319.766 đồng (Chín triệu ba trăm mười chín ngàn bảy trăm sáu mươi sáu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0026919 ngày 17/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người
phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Thái Thị Cẩm Hiền |
Bản án số 4864/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 4864/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sử dụng thẻ tín dụng
