Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 4863/2024/DS-ST

Ngày: 30-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Cẩm Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Mai Thanh Giàu
  2. Ông Trần Đăng Vạn

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 234/2024/TLST-DS ngày 30 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7294/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7922/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ
  2. Trụ sở: số A P, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1998 – chức vụ: Nhân viên Quản lý Tín dụng của Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh T3 là đại diện ủy quyền theo Quyết định ủy quyền số 008/QĐ-TĐC ngày 10/01/2024

    Địa chỉ liên hệ: số A L, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bị đơn: Ông Bùi Văn T2, sinh năm 1976
  4. Hộ khẩu thường trú: ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

    Địa chỉ cư trú: số B Đường D, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Thanh T1 trình bày:

Căn cứ Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn ngày 23/8/2019 của ông Bùi Văn T2, ngày 28/8/2019 Ngân hàng TMCP Đ– chi nhánh Q (sau đây gọi chung là Ngân hàng) ký Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số: 00007715-0011479701T19022 để cho ông Bùi vay của số tiền 30.000.000 đồng trong thời hạn 60 tháng (ngày đến hạn: 28/8/2024) với mức lãi suất cố định: 8%/năm, mục đích vay: tiêu dùng; tài sản bảo đảm: tín chấp; phương thức thanh toán: hàng tháng ông Bùi Văn T2 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc, lãi là 700.000 đồng.

Sau khi ký hợp đồng vay, Ngân hàng đã giải ngân số tiền 30.000.000 đồng vào tài khoản thẻ: 0101911436 của ông Bùi Văn T2 mở tại Ngân hàng TMCP Đ– chi nhánh Q. Quá trình thực hiện hợp đồng, từ ngày 28/8/2019 đến ngày 25/01/2022 ông Bùi Văn T2 đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 20.300.000 đồng (gồm: 11.552.460 đồng tiền gốc, 8.747.540 đồng lãi trong hạn). Sau đó, do ông T2 không thanh toán thêm bất cứ khoản tiền nào nên vào ngày 28/02/2022 Ngân hàng đã thông báo chuyển nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn, tương đương 12%/năm. Ngân hàng đã ban hành các thông báo nhắc nợ nhưng ông T2 đều trốn tránh, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Ngày 11/7/2022, Ngân hàng đã ban hành thông báo khởi kiện tại Tòa án gửi đến ông Bùi Văn T2.

Nay Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Bùi Văn T2 trả ngay cho Ngân hàng số tiền nợ tạm tính đến ngày 27/8/2024 là 24.302.048 đồng (gồm: 18.447.540 đồng nợ gốc, 3.252.460 đồng nợ lãi trong hạn và 2.602.048 đồng nợ lãi quá hạn) và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 28/8/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số: 00007715-0011479701T19022 ký ngày 28/8/2019.

Bị đơn – ông Bùi Văn T2: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập cho ông T2 đến Tòa án để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đều vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa:

Bà Nguyễn Thanh T1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; đính kèm đơn là bảng tính lãi chi tiết đối với bị đơn ông Bùi Văn T2 tạm tính đến ngày ngày 30/9/2024.

Bị đơn ông Bùi Văn T2 vắng mặt không có lý do.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh:

Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án đã vi phạm về thời hạn xét xử nhưng một phần do bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng đúng quy định pháp luật, có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự, đơn xin vắng mặt là hợp lệ. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.

Về nội dung: Bị đơn vi phạm nghiêm trọng các nội dung trong Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số: 00007715-0011479701T19022 ngày 28/8/2019 gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện ông Bùi Văn T2 yêu cầu thanh toán nợ vay theo Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số: 00007715-0011479701T19022 ngày 28/8/2019. Ông T2 có thời gian tạm trú tại phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với hồ sơ khởi kiện của nguyên đơn (Theo kết quả trả lời xác minh của Công an phường T, thành phố T) nên xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về việc tham gia tố tụng:

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ ủy quyền cho bà Nguyễn Thanh T1 tham gia tố tụng, bà T1 thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là hợp lệ.

Bị đơn ông Bùi Văn T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Theo kết quả trả lời xác minh của Công an xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang cung cấp thì ông T2 có hộ khẩu tại ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang nhưng đã không còn nhà ở địa phương, bỏ đi đâu không rõ cách đây khoảng 10 năm. Theo kết quả trả lời xác minh của Công an phường T, thành phố T thì ông T2 có tạm trú tại nhà số B đường D, khu phố A (Tổ B, khu phố B cũ), phường T, thành phố T nhưng không còn thực tế cư trú từ năm 2017 đến nay, không rõ đi đâu, làm gì. Ông T2 không thông báo cho Ngân hàng TMCP Đ biết về nơi cư trú, làm việc mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung.

Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

Trong vụ án này, nguyên đơn khởi kiện ông Bùi Văn T2, yêu cầu cá nhân ông T2 thanh toán các khoản nợ do ông T2 vay, nguyên đơn không xác định được vợ của ông T2 là ai và không yêu cầu vợ của ông T2 (nếu có) cùng trả nợ. Do đó, không có cơ sở triệu tập vợ của ông T2 (nếu có) tham gia tố tụng trong vụ án này.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Ngân hàng TMCP Đ có cho ông Bùi Văn T2 vay tiền theo Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số: 00007715-0011479701T19022 ngày 28/8/2019. Xét hợp đồng tín dụng nêu trên giữa các bên có hình thức đúng quy định của pháp luật, nội dung các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng không vi phạm điều cấm của pháp luật, các bên tự nguyện ký kết Hợp đồng tín dụng nên Hợp đồng tín dụng này phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay là 30.000.000 đồng vào tài khoản thẻ của ông T2 mở tại Ngân hàng TMCP Đ – chi nhánh T3. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông T2 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 20.300.000 đồng (gồm: 11.552.460 đồng tiền gốc, 8.747.540 đồng lãi trong hạn tính đến ngày 25/01/2022) sau đó thì không trả nữa. Do ông T2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 28/02/2022 Ngân hàng đã ban hành thông báo chuyển nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn, tương đương 12%/năm. Ngân hàng đã ban hành các thông báo nhắc nợ nhưng ông T2 đều trốn tránh, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 30/9/2024, ông T2 còn nợ Ngân hàng với tổng số tiền 24.508.028 đồng (gồm: 18.447.540 đồng nợ gốc, 3.252.460 đồng nợ lãi trong hạn và 2.808.028 đồng nợ lãi quá hạn).

Xét phía ông T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số: 00007715-0011479701T19022 ngày 28/8/2019. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng nhưng ông T2 đều vắng mặt và không gửi ý kiến, giấy tờ tài liệu liên quan đến tranh chấp nêu trên cho Tòa án. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu ông T2 thanh toán toàn bộ số tiền gốc và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết là phù hợp với thỏa thuận và các quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.

Căn cứ hướng dẫn tại Điều 13 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì việc nguyên đơn yêu cầu phía bị đơn phải trả khoản lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định trong Hợp đồng cho đến khi thi hành án xong là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn ông Bùi Văn T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 24.508.028 đồng x 5% = 1.225.401 đồng.

Ngân hàng TMCP Đ không phải chịu án phí nên được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Điều 4, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2014;
  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ.

Buộc ông Bùi Văn T2 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số: 00007715-0011479701T19022 ngày 28/8/2019 tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 24.508.028 đồng (Hai mươi bốn triệu năm trăm lẻ tám ngàn không trăm hai mươi tám đồng. Trong đó: tiền nợ gốc là: 18.447.540 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 3.252.460 đồng, tiền nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 2.808.028 đồng. Trả ngay một lần khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ 01/10/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Bùi Văn T2 còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP Đ thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.

  1. Về án phí:

Ông Bùi Văn T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.225.401 đồng (Một triệu hai trăm hai mươi lăm ngàn bốn trăm lẻ một đồng), nộp tại C có thẩm quyền.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 577.952 đồng (Năm trăm bảy mươi bảy ngàn chín trăm năm mươi hai đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0025017 ngày 26/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ ĐứC, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.

  1. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Thái Thị Cẩm Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4863/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 4863/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sử dụng thẻ tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger