TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 486/2024/DS-PT
Ngày 10-12-2024
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Châu Minh Hoàng |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Thành Lập |
| Ông Đỗ Cao Khánh |
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Hữu Duy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 429/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 10 năm 2024, về việc tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 298/2024/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 353/2024/QĐ-PT ngày 18 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hồng N, sinh năm 1977. Địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1982. Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (Theo văn bản ủy quyền ngày 01/10/2024; có mặt).
- - Bị đơn:
- Ông Hồ Chí K, sinh năm 1961. Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bà Cao Ánh H1, sinh năm 1967. Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- - Người kháng cáo: Bà Nguyễn Hồng N là nguyên đơn; ông Hồ Chí K và bà Cao Ánh H1 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Hồng N trình bày:
Khoảng năm 2011-2014 chị có bán thức ăn tôm, thuốc và dụng cụ nuôi tôm cho vợ chồng chị Cao Ánh H1 và anh Hồ Chí K, hình thức thanh toán là tiền mặt hoặc cuối mỗi vụ thu hoạch tôm. Quá trình nuôi vợ chồng anh K có lời nhiều thì trả cho chị nhiều, có lời ít thì trả ít. Khi bán thì chị có sổ tự theo dõi ghi lại số tiền mua, vì có mối quan hệ bà con nên không có làm biên nhận. Đến cuối năm 2014 thì vợ chồng anh K còn nợ lại chị số tiền 101.813.000 đồng. Do vợ chồng anh K không trả nên chị có kiện đến Tổ hòa giải ấp B. Tại phiên hòa giải, vợ chồng anh K có hứa sẽ trả cho chị mỗi tháng 1.000.000 đồng, chị không đồng ý mà yêu cầu trả làm 03, 04 lần. Nay chị yêu cầu anh K, chị H1 trả cho chị số tiền trên, không yêu cầu gì khác.
Bị đơn là chị Cao Ánh H1 và anh Hồ Chí K thống nhất trình bày:
Anh chị thừa nhận có mua thức ăn, thuốc và dụng cụ nuôi tôm của chị Nguyễn Hồng N, hình thức thanh toán là tiền mặt. Tuy nhiên từ năm 2011 đến năm 2014 do nuôi không hiệu quả nên vợ chồng anh, chị không nuôi nữa. Quá trình mua bán, năm 2014 do thua lỗ, chị N lại không cung cấp thức ăn nên anh chị lên tôm, lúc này đang nợ chị N 60.000.000 đồng, anh chị trả 45.000.000 đồng, còn nợ lại 15.000.000 đồng, hàng tháng trả 1.000.000 đồng, đến nay đã thanh toán xong.
Khi hòa giải tại ấp B thì do Tổ hòa giải ấp ghi không đúng trình bày của vợ chồng anh chị nên anh, chị không ký tên. Anh chị trình bày tại phiên hòa giải tại ấp B là: Sau ba năm mua thức ăn, thuốc, dụng cụ nuôi tôm, vợ chồng anh, chị còn thiếu chị N 60.000.000 đồng, lên tôm trả được 45.000.000 đồng, còn thiếu lại 15.000.000 đồng. Sau đó mỗi tháng vợ chồng anh, chị trả 1.000.000 đồng cho chị N và đã trả xong. Anh, chị trình bày như vậy nhưng Tổ hòa giải ấp nói vợ chồng anh chị thừa nhận toàn bộ nợ 101.813.000 đồng, mỗi tháng trả 1.000.000 đồng, vợ chồng anh, chị không đồng ý, nên không ký tên vào biên bản hòa giải.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 298/2024/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi đã quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Hồng N. Buộc anh Hồ Chí K và chị Cao Ánh H1 có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Nguyễn Hồng N số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng).
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Hồng N về việc yêu cầu anh Hồ Chí K và chị Cao Ánh H1 trả cho chị số tiền 41.813.000 đồng (bốn mươi mốt triệu tám trăm mười ba nghìn đồng).
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất do chậm thi hành, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, bị đơn ông Hồ Chí K và bà Cao Ánh H1 kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm về việc buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Hồng N số tiền 60.000.000 đồng và cho rằng bị đơn đã thanh toán xong số tiền trên nên không còn nợ nguyên đơn.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 nguyên đơn là bà Nguyễn Hồng N kháng cáo với nội dung: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 298/2024/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Hồ Chí K và bà Cao Ánh H1 trả thêm số tiền không được chấp nhận là 41.813.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu đồng tám trăm mười ba nghìn đồng).
Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H và bị đơn là ông Hồ Chí K, bà Cao Ánh H1 xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa là đúng theo quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Hồng N và kháng cáo của bị đơn ông Hồ Chí K, bà Cao Ánh H1, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 298/2024/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Xét kháng cáo của nguyên đơn là bà Nguyễn Hồng N và bị đơn là ông Hồ Chí K và bà Cao Ánh H1, Hội đồng xét xử thấy rằng:
- Theo trình bày của nguyên đơn là bà N kiện vợ chồng ông K, bà H1 nợ 101.813.000 đồng tiền mua thức ăn tôm, thuốc thủy sản từ năm 2014, ông K, bà H1 không thừa nhận. Bà N có cung cấp Biên bản hòa giải ngày 01/7/2024 của Tổ hòa giải ấp B thuộc xã T Phía ông K, bà H1 thừa nhận có tham dự buổi hòa giải này nhưng không ký tên với lý do: Tổ hòa giải ghi không đúng ý kiến của ông bà nên ông bà không đồng ý ký tên. Theo ông K và bà H1 chỉ thừa nhận còn nợ bà N 60.000.000 đồng tiền mua thức ăn, thuốc thủy sản nhưng ông bà đã trả 45.000.000 đồng, còn nợ lại 15.000.000 đồng, sau đó hàng tháng có trả dần 1.000.000 đồng nên đến nay đã thanh toán xong, nhưng Tổ hòa giải lại ghi là ông bà thiếu bà N 101.813.000 đồng, mỗi tháng trả 1.000.000 đồng là không đúng.
- Xem xét nội dung biên bản hòa giải ngày 01/7/2024 này thấy rằng: Phần trình bày của ông K, bà H1 được ghi là “chấp nhận trả cho bên chị N là 1.000.000 đồng/tháng”, không ghi rõ là ông K, bà H1 có thừa nhận thiếu 101.813.000 đồng hay 67.000.000 đồng hay không, sau đó ông K, bà H1 trả dần như ông K, bà H1 thừa nhận. Như vậy biên bản hòa giải của Tổ hòa giải chưa thể hiện được rõ ý kiến trình bày hay thừa nhận khoản tiền ông K, bà H1 còn thiếu bà N, trong khi ông K, bà H1 không có ký tên, phía nguyên đơn bà N cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác thể hiện việc ông K, bà H1 còn thiếu nợ bà N số tiền 101.813.000 đồng như bà N yêu cầu.
Do đó không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Hồng N về việc yêu cầu sửa bản án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nguyên đơn buộc ông Hồ Chí K, bà Cao Ánh H1 trả thêm số tiền 41.813.000 đồng.
- Xét kháng cáo của bị đơn ông Hồ Chí K, bà Cao Ánh H1, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại phiên hòa giải ngày 09/8/2024 tại Tòa án cấp sơ thẩm và tại phiên tòa sơ thẩm, ông K, bà H1 thừa nhận trong quá trình nuôi tôm ông bà còn nợ lại bà N số tiền 60.000.000 đồng nhưng đã trả 45.000.000 đồng, sau đó tiếp tục trả mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi trả xong khoản nợ. Như vậy ông K, bà H1 thừa nhận còn thiếu nợ bà N tổng cộng 60.000.000 đồng, nhưng khi ông bà thanh toán nợ 45.000.000 đồng và trả góp 1.000.000 đồng như ông bà trình bày thì lại không cung cấp được tài liệu, chứng cứ cứng minh đã trả số nợ này. Do không có căn cứ xác định ông K, bà H1 đã trả cho bà N số tiền 45.000.000 đồng và trả dần 15.000.000 đồng còn lại như ông bà trình bày nên án sơ thẩm buộc ông K, bà H1 có nghĩa vụ trả cho bà N số tiền 60.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp quy định.
- Quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị đơn là ông Hồ Chí K và bà Cao Ánh H1 có kháng cáo nhưng bị đơn cũng không cung cấp được chứng cứ tài liệu nào chứng minh đã thanh toán xong toàn bộ khoản nợ như kháng cáo của ông, bà. Phía nguyên đơn bà Nguyễn Hồng N cũng không cung cấp thêm được tài liệu chứng cứ nào chứng minh bị đơn ông K, bà H1 còn nợ số tiền như yêu cầu khởi kiện của bà N nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Hồng N và bị đơn là ông Hồ Chí K và bà Cao Ánh H1.
- Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Hồng N và bị đơn ông Hồ Chí K, bà Cao Ánh H1, cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 298/2024/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông K, bà H1 phải chịu án phí đối với số tiền mà nguyên đơn được chấp nhận. Nguyên đơn bà N phải chịu án phí đối với số tiền nguyên đơn không được chấp nhận.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Hồng N và bị đơn bà Cao Ánh H1 phải chịu theo quy định. Bị đơn ông Hồ Chí K không phải chịu, đã được xét miễn nộp tạm ứng án phí, án phí theo quy định.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Hồng N và yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Hồ Chí K, bà Cao Ánh H1.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 298/2024/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hồng N. Buộc ông Hồ Chí K và bà Cao Ánh H1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Hồng N số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Nguyễn Hồng N cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng ông Hồ Chí K và bà Cao Ánh H1 phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hồng N về việc yêu cầu ông Hồ Chí K và bà Cao Ánh H1 trả cho bà số tiền 41.813.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu tám trăm mười ba nghìn đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Hồ Chí K và chị Cao Ánh H1 phải liên đới chịu số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
- - Bà Nguyễn Hồng N phải chịu 2.091.000 đồng (Hai triệu không trăm chín mươi mốt nghìn đồng). Ngày 18/7/2024 bà N đã dự nộp tạm ứng án phí 2.545.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0001600 tại Chi cục Thi hành án huyện Đầm Dơi, bà N được nhận lại 454.000 đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Hồng N và bị đơn bà Cao Ánh H1 mỗi người phải chịu là 300.000 đồng. Ngày 30/9/2024, bà N đã dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001770 tại Chi cục Thi hành án huyện Đầm Dơi được chuyển thu. Ngày 24/9/2024, bà H1 đã dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 001765 tại Chi cục Thi hành án huyện Đầm Dơi được chuyển thu. Ông Hồ Chí K không phải chịu, do là người cao tuổi đã được xét miễn nộp tạm ứng án phí, án phí theo quy định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Châu Minh Hoàng |
Bản án số 486/2024/DS-PT ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Số bản án: 486/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
