|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 486/2024/HNGĐ-ST
Ngày 06 – 8 – 2024
V/v ly hôn Nhị – Chính
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Rỡ
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Anh Đoan
Ông Võ Thái Quân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2024/TLST- HNGĐ, ngày 01 tháng 3 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 334/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
· Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1985, vắng mặt.
Nơi cư trú: Tổ A, ấp L, xã L, huyện P, tỉnh An Giang.
Địa chỉ liên hệ: Đường B, ấp T, xã K, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Ông Trương Văn C, sinh năm 1981, vắng mặt.
Nơi cư trú: Tổ A, ấp L, xã L, huyện P, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/02/2024 và lời khai của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày: Thông qua mai mối, tôi và ông C thành vợ chồng có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn và được UBND xã L, huyện P, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 18/10/2003. Sau khi cưới nhau vợ chồng đã bất đồng quan điểm sống, anh C thường xuyên uống rượu, không lo làm ăn từ đó thường xuyên cự cãi. Do vợ chồng đi làm ở tỉnh Bình Dương nên mâu thuẫn của vợ chồng cha mẹ không biết để hàn gắn. Mâu thuẫn kéo dài đến năm 2020 thì ông C có người phụ nữ khác, mặc cho tôi khuyên nhưng không được. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, anh em bên chồng biết được nên nhiều lần khuyên nhưng ông C cũng không sửa đổi, mỗi lần cãi nhau ông C lại bỏ đi. Tôi và ông C ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay tôi không còn tình cảm, không thể chung sống với ông C nên yêu cầu ly hôn với ông Trương Văn C
Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Trương Linh T, sinh ngày 25/02/2004 hiện đã trưởng thành không yêu cầu Toà án giải quyết và Trương Văn T1, sinh ngày 02/9/2008 hiện do tôi nuôi dưỡng. Khi ly hôn tôi yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con tên Trương Văn T1 và không yêu cầu ông C cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ phải thu, phải trả: Không
Bị đơn ông Trương Văn C vắng mặt, không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do là vi phạm Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị N được ly hôn ông Trương Văn C. Bà N và ông C có 02 con chung tên Trương Linh T, sinh ngày 25/02/2004 hiện đã trưởng thành không yêu cầu Toà án giải quyết và Trương Văn T1, sinh ngày 02/9/2008 hiện do bà N nuôi dưỡng, đề nghị giao cháu T1 cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng. Ông C không cấp dưỡng. Về tài sản và nợ không yêu cầu giải quyết. Bà N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Bà N và ông C tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 0009/2012 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện P cấp ngày 18/10/2003, hôn nhân là hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Quá trình chung sống bà N và ông C nhiều mâu thuẫn, anh C không tôn trọng, chăm lo cho gia đình, không chung thủy với bà N và ly thân từ năm 2022 đến nay. Xét thấy, bà N và ông C vi phạm nghĩa vụ chung sống, yêu thương, chăm sóc, chung thủy của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu ly hôn là có căn cứ.
[2.2] Về nuôi con chung: Bà N và ông C có hai con chung tên Trương Linh T, sinh ngày 25/02/2004 hiện đã trưởng thành không yêu cầu nên Toà án không giải quyết. Trương Văn T1, sinh ngày 02/9/2008 từ khi vợ chồng ly thân đến nay bà N là người trực tiếp nuôi con, để ổn định cuộc sống của cháu nên Hội đồng xét xử giao con chung cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng. Bà N không yêu cầu nên không buộc ông C phải cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà N trình bày không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Bà N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 91, Điều 147, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326//2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N.
1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn ông Trương Văn C.
2. Về con chung: Bà N và ông C có hai con chung tên Trương Linh T, sinh ngày 25/02/2004 và Trương Văn T1, sinh ngày 02/9/2008. T đã trưởng thành không yêu cầu nên Toà án không giải quyết. Giao con chung Trương Văn T1, sinh ngày 02/9/2008 cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng. Bà N không yêu cầu nên không buộc ông C phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà N và các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tạo điều kiện cho ông C đến thăm nom, chăm sóc con chung; không ai được cản trở ông C thực hiện quyền này.
Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về nợ: Ghi nhận bà N trình bày không có nợ chung, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006624 ngày 16 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Ông C không phải chịu án phí.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thị Rỡ |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TÒA |
THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN |
4
5
Bản án số 486/2024/HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 486/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
