TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 486/2024/HS-ST
Ngày: 20/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Gái
- Ông Võ Văn Lợi
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Huệ – Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 335/2024/HSST ngày 25 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 548/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Nguyễn Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh năm 1964; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ĐKHKTT: 82 đường F, khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú hiện tại: 82 đường F, khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Chăn nuôi; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Nguyễn Văn S; Sinh năm 1941; Họ và tên mẹ: Huỳnh Thị A; Sinh năm 1943; Vợ: Trần Thị D; Sinh năm 1967; Con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1988; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/01/2024, đến ngày 29/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn, Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/Họ và tên: Nguyễn Văn D1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh năm 1964; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ĐKHKTT: 11 đường C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú hiện tại: 30 đường E, khu phố P, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Hưu trí; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; H và tên cha: Nguyễn Văn C (chết); Họ và tên mẹ: Lê Thị H1; Sinh năm: 1930; Vợ: Lê Thị Ú; Sinh năm: 1987; Có 03 con, lớn sinh năm 1990, giữa sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/01/2024, đến ngày 29/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn, Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3/ Họ và tên: K Vì N; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh năm 1963; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ĐKHKTT: 17/11/1 đường A, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú hiện tại: 17/11/1 đường A, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; H và tên cha: Kiên Út Đ; Sinh năm: 1940; Họ và tên mẹ: Trần Thị T1; Sinh năm: 1942; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/01/2024, đến ngày 27/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn, Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4/ Họ và tên: Huỳnh Tấn T2; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh năm 1974; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ĐKHKTT: 189/10 đường T, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú hiện tại: 189/10 đường T, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; H và tên cha: Huỳnh Văn G (chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị E; Sinh năm: 1937; Vợ: Nguyễn Thị Ngọc N1, Sinh năm: 1984; Có 01 con, sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/01/2024, đến ngày 27/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn, Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 27/01/2024, Nguyễn Văn T (SN 1964), Nguyễn Văn D1 (SN 1964), K Vì N (SN 1963) sau khi đi ăn sáng và uống coffee xong thì cả 03 người rủ nhau về hồ cá của Nguyễn Văn T tại địa chỉ không số, hẻm B, đường D, tổ F, khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để chơi đánh bài binh xập xám thắng thua bằng tiền. Nguyễn Văn D1 đi mua 01 lốc bài tây 52 lá, gồm 10 bộ bài để cả nhóm cùng chơi. Hình thức đánh bài binh xập xám bằng bài tây 52 lá chia mỗi tụ 13 lá bài, xếp bài như sau: 03 lá đầu, 05 lá tiếp theo và 05 lá cuối cùng tính từ thấp xuống cao. Cách thức tính như sau: mậu thầu (không có lá bài liên kết được với nhau), đôi (hai lá bài cùng số và cùng một chi), thú (hai đôi), sám (ba lá bài cùng số), sảnh (năm lá bài liên tiếp với nhau), thùng (năm lá bài cùng chất), cù lũ (một đôi và một sám), tứ quý (bốn lá bài cùng số), thùng phá sảnh (năm lá bài liên tiếp với nhau đồng chất), thùng phá sảnh lớn hơn (năm lá bài liên tiếp với nhau đồng chất có lá bài Át). Cách thức chơi như sau: mỗi người làm cái 02 ván bài, mỗi ván cược số tiền 100.000 đồng và cá cược lá bài Át số tiền 50.000 đồng, cả ba cùng so bài với nhau bài ai lớn hơn xem như người đó thắng, nếu hai bài bằng nhau thì người nào làm cái người đó thắng. Khi cả 03 đang chơi bài thì khoảng 10 giờ 10 phút cùng ngày, Huỳnh Tấn T2 (SN 1974) đến và xin vào chơi cùng. Đến 12 giờ 00 phút cùng ngày, khi cả 04 người đang chơi bài do Nguyễn Văn T làm cái chia bài thì Đ1 Công an thành phố T cùng với Công an phường T B đến kiểm tra và bắt quả tang, mời những người liên quan về trụ sở để làm việc.
Khi chơi đánh bài Nguyễn Văn T mang theo số tiền 9.000.000 đồng, sử dụng số tiền 5.500.000 đồng để đánh bạc còn lại số tiền 3.500.000 đồng cất trong ví không sử dụng. T chơi nhiều ván và thua số tiền 400.000 đồng, Nguyễn Văn T đang làm cái chia bài thì Đ1 Công an thành phố T cùng với Công an phường T B vào bắt quả tang thu giữ 5.100.000 đồng trên chiếu bạc và 3.500.000 đồng trong ví.
Nguyễn Văn D1 khi đánh bài mang theo trong ví số tiền 2.300.000 đồng, sử dụng số tiền 300.000 đồng để đánh bạc còn lại số tiền 2.000.000 đồng cất trong ví không sử dụng để đánh bạc. D1 chơi nhiều ván bài và thắng 400.000 đồng, Nguyễn Văn T đang làm cái chia bài thì Công an vào bắt quả tang và thu giữ 700.000 đồng dưới chiếu bạc và 2.000.000 đồng trong ví.
Khi K Vì N đánh bài mang theo trong ví số tiền 3.200.000 đồng, sử dụng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc còn lại số tiền 3.000.000 đồng cất trong ví không sử dụng để đánh bạc. N chơi bài không thua không thắng. Khi Công an vào bắt quả tang thu giữ số tiền 200.000 đồng dưới chiếu bạc và 3.000.000 đồng trong ví.
Khi Huỳnh Tấn T2 đến chơi đánh bài T2 mang theo trong ví số tiền 700.000 đồng, sử dụng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc còn lại số tiền 500.000 đồng cất trong ví không sử dụng để đánh bạc, T2 chơi bài không thua không thắng. Khi Công an vào bắt quả tang thu giữ 200.000 đồng dưới chiếu bạc và 500.000 đồng trong ví.
Vật chứng vụ án:
- Số tiền: 6.200.000 đồng dùng để đánh bạc (trong đó Nguyễn Văn T số tiền 5.100.000 đồng, Huỳnh Tấn T2 số tiền 200.000 đồng, Nguyễn Văn D1 số tiền 700.000 đồng, K Vì N số tiền 200.000 đồng).
- 01 cái bàn bằng nhựa màu nâu đất (đã qua sử dụng).
- 04 cái ghế bằng nhựa màu xanh (đã qua sử dụng),
- 10 bộ bài tây loại 52 lá, trong đó có 02 bộ bài đã qua sử dụng.
Số tiền không dùng đánh bạc:
- Số tiền 3.500.000 đồng của Nguyễn Văn T.
- Số tiền 2.000.000 đồng của Nguyễn Văn D1.
- Số tiền 3.000.000 đồng của K Vì N.
- Số tiền 500.000 đồng của Huỳnh Tấn T2.
Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả số tiền 3.500.000 đồng cho Nguyễn Văn T; 2.000.000 đồng cho Nguyễn Văn D1; 3.000.000 đồng cho K Vì N; 500.000 đồng cho Huỳnh Tấn T2 không sử dụng vào đánh bạc.
Cáo trạng số: 316/CT-VKSTPTĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố: Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn D1, Kiên Vì N, Huỳnh Tấn T2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn D1, Kiên Vì N, Huỳnh Tấn T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn D1, Kiên Vì N và Huỳnh Tấn T2 mỗi bị cáo từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn D1, Kiên Vì N, Huỳnh Tấn T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo là khách quan, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ, tang vật khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng lúc 12 giờ 00 phút ngày 27/01/2024, Đ1 Công an thành phố T cùng với Công an phường T phát hiện bắt quả tang 04 người gồm: Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn D1, Kiên Vì N, Huỳnh Tấn T2 đang đánh bạc dưới hình thức chơi bài binh xập xám thắng thua bằng tiền tại chòi lá địa chỉ hẻm B, đường D, tổ F, khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tổng số tiền mà các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn D1, Kiên Vì N, Huỳnh Tấn T2 sử dụng vào việc đánh bạc là 6.200.000 đồng. Hành vi đánh bạc trái phép do Nguyễn Văn T,Nguyễn Văn D1, Kiên Vì N,Huỳnh Tấn T2 thực hiệnđã phạm vào tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Lời khai của các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn D1, Kiên Vì N, Huỳnh Tấn T2 đã thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với các bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, không có sự phân công, cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, đánh bạc trái phép là tệ nạn xã hội, cũng là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác nên cần có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Tuy nhiên, cũng xét, bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn D1, Kiên Vì N, Huỳnh Tấn T2 có thái độ ăn năn hối cải thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, ngoài ra bị cáo Huỳnh Tấn T2 trong quá trình công tác đã có thành tích xuất sắc nên được khen thưởng; bị cáo Nguyễn Văn D1 trong quá trình công tác đã có thành tích xuất sắc nên được tặng huy chương chiến sĩ vẻ vang, có mẹ ruột là bà Lê Thị H1 là người có công với cách mạng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình cho các bị cáo.
[6] Căn cứ vào tính chất mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo.
Xét bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn D1, Kiên Vì N, Huỳnh Tấn T2 có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn D1, Kiên Vì N, Huỳnh Tấn T2 hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cũng đủ để tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Xử lý vật chứng vụ án:
Đối với 01 cái bàn bằng nhựa màu nâu đất (đã qua sử dụng); 04 cái ghế bằng nhựa màu xanh (đã qua sử dụng); 10 bộ bài tây loại 52 lá, trong đó có 02 bộ bài đã qua sử dụng là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 6.200.000 đồng nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn D1 và K Vì N thuộc trường hợp là người cao tuổi, tuy nhiên các bị cáo không làm đơn xin miễn án phí và đề nghị được nộp án phí nên buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn D1 và K Vì N và bị cáo Huỳnh Tấn T2 chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn D1, Kiên Vì N, Huỳnh Tấn T2 phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- - Xử phạt bị cáo K Vì N 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng nhưng cho hưởng án treo, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo K Vì N cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D1 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo Nguyễn Văn D1 cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- - Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn T2 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo Huỳnh Tấn T2 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 6.200.000 đồng (Sáu triệu hai trăm ngàn đồng) theo Quyết định chuyển vật chứng số 230 ngày 12/6/2024 và Phiếu hạch toán giao dịch khách hàng số 6100/314153 ngày 03/7/2024 của Ngân hàng TMCP Đ2 – Chi nhánh Đ3 – Phòng giao dịch Quận I.
Tịch thu tiêu hủy: 10 bộ bài tây loại 52 lá; 01 cái bàn bằng nhựa; 04 cái ghế nhựa màu xanh.
Theo Phiếu nhập kho số NK24/351C ngày 03/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
- Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn D1, Kiên Vì N, Huỳnh Tấn T2 mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo)
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Hương |
Bản án số 486/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 486/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn D1, Kiên Vì N, Huỳnh Tấn T2 phạm tội “Đánh bạc”
