|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 486/2024/DS-PT Ngày: 06/08/2024 V/v: Tranh chấp về thừa kế tài sản. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.
Các Thẩm phán:
- Trần Thị Thu Nam;
- Ông Trương Chí Anh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Đức - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Sơn Cầm - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 30 tháng 07 và ngày 06 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 84/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 02 năm 2024, về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản".
Do bản án sơ thẩm số 251/2023/DS-ST ngày 22/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 683/QĐ-PT ngày 29/12/2023; Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 285/2024/QĐHPT-PT ngày 03/5/2024; Thông báo mở lại phiên tòa số 226/2024/TB-DS ngày 31/5/2024; Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 395/2024/QĐHPT-PT ngày 28/6/2024; Thông báo mở lại phiên tòa số 292/2024/TB-DS ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Hoàng Văn Đ, sinh năm 1958; địa chỉ: Số G, tổ C, phường P, quận L, Thành phố Hà Nội.
- Bà Lê Thị V, sinh năm 1950; địa chỉ: Số F, tổ C, phường P, quận L, Thành phố Hà Nội.
1
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ và bà V : Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1980; địa chỉ: Tòa nhà N N, phường N, Cầu G, Thành phố Hà Nội.
- Bị đơn:
- Cụ Nguyễn Thị H, sinh năm 1940; địa chỉ: Tổ A, phường L, quận L, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền của cụ Nguyễn Thị H: 1/ Ông Hoàng Đức L, sinh năm 1993; địa chỉ: Số C, tập thể khu N, Công ty T11, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội (theo giấy uỷ quyền ngày 2/5/2024); 2/ Bà Nguyễn Thúy V1, sinh năm 1977; địa chỉ: Số F, ngách B đường N, tổ B, phường P, quận L, thành phố Hà Nội (theo Giấy ủy quyền số 332/GUQ ngày 10/3/2023).
- Cụ Trần Văn K, sinh năm 1936, chết ngày 12/3/2022 (theo Giấy chứng tử số: 57/TLKT-BS ngày 23/3/2022 của UBND phường L, quận L, Thành phố Hà Nội).
- Người (pháp nhân) có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H; địa chỉ: Số A H, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Song H1 - Phó Giám đốc Văn phòng Đ3 - Chi nhánh quận L (theo Giấy ủy quyền số 1990/GUQ-STNMT-VPĐKĐĐ ngày 24/3/2023 của giám đốc Sở T).
- Văn phòng C7; địa chỉ: Số A, đường C, tổ dân phố V, thị trấn T, huyện G, Thành phố Hà Nội.
- Ông Nguyễn Đức H2, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ B, phường P, quận L, Thành phố Hà Nội.
- Bà Nguyễn Thúy V1, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ B, phường P, quận L, Thành phố Hà Nội (theo giấy ủy quyền số: 1214/GUQ, quyển số: 02/2023.TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 09/8/2023 tại Văn phòng C8).
Người đại diện theo ủy quyền của ông H2, bà V1: Ông Hoàng Đức L, sinh năm 1993; địa chỉ: Số C, tập thể khu N, Công ty T11, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội.
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962 (con cụ Nguyễn Văn T1); địa chỉ: Số A ngách B N, phường P, Tổ B, phường P, quận L, Thành phố Hà Nội.
- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1964 (con cụ Nguyễn Văn T1); hiện ở: Số A ngách B đường N, tổ B phường P, quận L, Thành phố Hà Nội.
- Cụ Nguyễn Thị G, sinh năm 1938 (vợ cụ Nguyễn Văn C1); hiện trú tại: Số nhà A ngách B N, tổ B phường P, quận L, Thành phố Hà Nội.
- Bà Lê Thị Q, sinh năm: 1956; địa chỉ: Số A N, phường Đ, L, Thành phố Hà Nội; người đại diện theo uỷ quyền: Bà Mai Thị L1, sinh năm 1959; địa chỉ: Số A nhà C, T, phường Đ, Thành phố Hà Nội.
2
- Bà Lê Thị G1, sinh năm: 1960. Địa chỉ: Số A, ngõ B đường N, tổ C, P, L, Thành phố Hà Nội.
- Ông Lê Hồng P, sinh năm: 1964; địa chỉ: Số A, tổ C, phố M, P, L, Thành phố Hà Nội.
- Bà Lê Thị Tường V2, sinh năm: 1969; người đại điện theo uỷ quyền của bà Lê Thị Tường V2: Bà Lê Thị V, sinh năm 1950; địa chỉ: Số F, tổ C, phường P, quận L, Thành phố Hà Nội.
- Bà Hoàng Thị N, sinh năm: 1952; địa chỉ: L, M, Đ, Thành phố Hà Nội.
- Người kháng cáo:
- Người làm chứng:
Ông Hoàng Văn Đ, bà Lê Thị V, bà Nguyễn Thị T.
Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ B phường P, quận L, Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 23/6/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - ông Hoàng Văn Đ, bà Lê Thị V thống nhất trình bày các vấn đề liên quan như sau:
Về huyết thống: Cố Nguyễn Văn H3, sinh năm 1874, chết 15/02/1947 có 03 người vợ là:
Người vợ thứ nhất: Cố bà Lương Thị C2, sinh năm 1881, chết năm 1950. Cố Hạng và cố C2 có 01 người con chung là cụ Nguyễn Thị V3, chết năm 2019 (cụ Nguyễn Thị V3 có chồng là Lê Văn G2 và có 01 người con gái là bà Lê Thị V).
Người vợ thứ hai: Cố bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1884, chết năm 1952; cố H3 và cố Đựng có 01 người con chung là cụ Nguyễn Thị Đ2 (chết 10/12/2008); cụ Nguyễn Thị Đ2 có chồng là cụ Hoàng Văn D và có 01 người con trai là ông Hoàng Văn Đ).
+ Người vợ thứ ba: Cố bà Lê Thị T3; chết 20/06/2002. Cố Hạng và cố C2 có 02 con đẻ chung là: 1/ Cụ Nguyễn Văn C3 (sinh năm 1937, liệt sỹ hy sinh năm 1974); 2/ Cụ Nguyễn Thị H, sinh năm 1940. Ngoài ra, cố Hạng và cố T3 còn nhận 01 con nuôi từ bé là cụ Nguyễn Văn T1 (sinh khoảng năm 1931 - 1932, chết năm 2015). Ngoài ra, các cụ không có con chung, con riêng hay nuôi ai khác.
Lúc sinh thời, cố Tha đã nuôi các con riêng của cố H3 là các cụ Nguyễn Thị V3 và cụ Nguyễn Thị Đ2.
Về Di sản: Các nguyên đơn yêu cầu chia 46m² đất trong trong số 126m² thuộc khối tài sản thuộc sở hữu của cố Nguyễn Văn H3 để lại là nhà và đất thuộc thửa đất
3
số 21, tờ bản đồ số 11, diện tích 467m² tại địa chỉ: Thôn M, xã G, huyện G nay là tổ B, phường P, quận L, Thành phố Hà Nội (sau đây gọi tắt là thửa đất số 21, tổ B, phường P). Ngoài ra, các di sản là nhà và đất ở vị trí khác nguyên đơn không yêu cầu trong vụ án này vì đã chia theo di chúc.
Căn cứ yêu cầu chia như sau:
Ngày 04/02/1997, gia đình thống nhất để cố bà Lê Thị T3 đứng tên và đã được Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội ghi nhận quyền quản lý, sử dụng theo Quyết định dân sự số: 61/DS ngày 04/02/1997.
Tháng 01/2002, cố Tha đã lập di chúc viết tay thể hiện ý chí nguyện vọng phân chia tài sản nêu trên cho các con là: Để lại cho 3 con gái (cụ Đ2, cụ V3, cụ H) được hưởng diện tích 126 m² trên nền đất có 01 ngôi nhà cấp 4 và cụ Nguyễn Văn T1 diện tích 341 m² đất còn lại cùng thửa đất số 21, tổ B, phường P.
Ngày 26/03/2002, cố bà Lê Thị T3 chết.
Ngày 17/5/2003, các cụ Nguyễn Thị Đ2, cụ Nguyễn Thị V3, cụ Nguyễn Thị H và cụ Nguyễn Văn T1 đã có biên bản họp gia đình phân chia thừa kế trên cơ sở di chúc nêu trên và thỏa thuận: Ông Nguyễn Văn T1 được quyền sử dụng, định đoạt 341m²; ba chị em gái là Nguyễn Thị Đ2, Nguyễn Thị V3 và Nguyễn Thị H được quyền sử dụng định đoạt 126m².
Sau đó, UBND huyện G đã chấp thuận tách thửa đất số 21, tổ B, phường P thành 02 thửa: 21-1 và 21-2. Các cụ Nguyễn Thị Đ2, Nguyễn Thị V3 và Nguyễn Thị H thống nhất: Ủy quyền cho em gái là cụ Nguyễn Thị H đại diện 03 người thay mặt xin cấp đất và đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) đối với 126 m² đất được thừa kế và sử dụng chung nêu trên. Cụ Nguyễn Thị H có lập bản cam kết nội dung: Tôi là Nguyễn Thị H, nay tôi đại diện cho hai chị tôi là bà Nguyễn Thị V3, bà Nguyễn Thị Đ2...khi mẹ chúng tôi mất đi để lại mảnh đất 126 m² để lấy chỗ thờ cúng nếu khi nào muốn chuyển nhượng lại cho ai thì được sự đồng ý cả ba chị em, nếu không được sự đồng ý của ba chị em thì không ai có quyền. Sự việc chuyển nhượng đất đai không hợp pháp. Tôi được ủy quyền đứng tên sổ đỏ và giữ sổ. Ngày 12/8/2003, UBND huyện G nay là UBND quận L đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 0013.QSDĐ/QĐ-UB đứng tên cụ Nguyễn Thị H.
Ngày 07/01/2007, ba cụ Đ2, V3, H cùng thống nhất chuyển nhượng một phần diện tích 80 m² thuộc thửa 21-1, tổ B, phường P với giá trị là: 550.000.000đ (năm trăm năm mươi triệu) đồng và chia nhau số tiền trên để dưỡng già; cùng thống nhất để lại 160.000.000đ để xây dựng nhà thờ trên phần diện tích đất còn lại 46 m².
Khi xây dựng nhà thờ xong, cả ba cụ Đ2, V3, H lập văn bản thống nhất cho cháu Nguyễn Thị T (độc thân) ở đến hết đời trông nom và thờ cúng tổ tiên.
4
Ngày 10/12/2008, cụ Nguyễn Thị Đ2 chết; ngày 03/10/2019, cụ Nguyễn Thị V3 chết.
Ngày 01/7/2020, cụ Nguyễn Thị H đã chuyển nhượng diện tích 46 m² này cho vợ chồng anh Nguyễn Đức H2 và chị Nguyễn Thúy V1. Như vậy, cụ Nguyễn Thị H làm trái thỏa thuận và cam kết của ba cụ Đ2, V3, H và chưa có sự đồng ý của các hàng thừa kế của các cụ Đ2 và V3. Cụ H đuổi cháu T ra khỏi nhà thờ, đây là giao dịch trái pháp luật.
Các đồng nguyên đơn yêu cầu giải quyết đối với 46 m² còn lại mà bà H đã chuyển nhượng cho vợ chồng anh H2 và chị V1; ngoài ra không có yêu cầu và đưa người khác vào tham gia tố tụng.
Các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Yêu cầu hủy GCNQSDĐ số CV 185766 đã cấp cho anh Nguyễn Đức H2 và chị Nguyễn Thúy V1, ngày 30/7/2020 đối với số thửa mới là 449, tờ bản đồ số 33.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất số 2727/2020, lập ngày 01/7/2020 giữa cụ Nguyễn Thị H, sinh năm 1940 và chồng là ông Trần Văn K, sinh năm 1936 với anh Nguyễn Đức H2, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thúy V1, sinh năm 1977.
- Chia tài sản chung phần diện tích nhà đất 46 m² theo quy định của pháp luật, nguyên đơn là bà Lê Thị V và ông Hoàng Văn Đ đề nghị được nhận chung và hưởng bằng hiện vật, đồng ý tiếp tục sử dụng diện tích đất được hưởng để làm nhà thờ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - cụ Nguyễn Thị H và đại diện theo uỷ quyền của cụ H trình bày:
Về huyết thống gia đình đúng như ông Hoàng Văn Đ, bà Lê Thị V trình bày là đúng. Bố mẹ đẻ của cụ Nguyễn Thị H là cố H3 và cố Tha. Các ông bà Đ, V là con của con riêng cố Hạng.
Cố Hạng và cố Lê Thị T3 có 02 người con đẻ là: 1/ Anh trai cụ là Nguyễn Văn C3, sinh năm 1937, liệt sỹ hy sinh tháng 12/1974; 2/ Cụ - Nguyễn Thị H, sinh năm 1940. Ngoài ra, cố Hạng và cố T3 còn nhận nuôi từ nhỏ 01 người con nuôi là cụ Nguyễn Văn T1. Cụ nghe cố T3 nói đã nuôi cụ T1 từ lúc khoảng 03 tuổi. Như vậy, cụ Trụ sinh năm 1936, đã chết năm 2015. Cụ T1 có người vợ đầu đã chết và có các con là: 1/ Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1946; 1/ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962; 3/ Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm khoảng 1967; 4/ Bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1970. Sau đó, cụ T1 lấy vợ hai là Lại Thị C4, không có con chung.
Anh trai cụ là Nguyễn Văn C3 có lấy vợ tên là Nguyễn Thị G và có 01 con chung nhưng cháu bị chết đuối năm lên 3 tuổi; hiện cụ G không tái giá.
5
Đối với việc yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ xin trình bày như sau:
Nguồn gốc tài sản tranh chấp: Thửa đất số B, tổ B, phường P là do cố Hạng được thừa hưởng từ tổ tiên. Ngoài ra, còn 01 ao thửa 1034 diện tích 130 m² cũng tại thôn M, huyện G.
Sau khi cố Hạng, cố C2, cố Đựng chết; cố Tha và con trai nuôi là cụ T1 vẫn sinh sống tại thửa đất trên.
Năm 1992, cụ T1 kê khai làm GCNQSDĐ cả ba thửa đất là: Thửa đất số 21, tổ B, phường P, diện tích 467m² đất ở (là thửa đất đang tranh chấp); thửa số 1034, tờ bản đồ số 11, diện tích 130m² (đất ao) và thửa số 687, tờ bản đồ số 7 diện tích 185m² đất làm KTGĐ.
Ngày 20/11/1992, cụ T1 đã được UBND huyện G cấp GCNQSDĐ số B276746, vào sổ số 01441 QSDĐ với diện tích cả 3 thửa là 782 m².
Năm 1996, cố Lê Thị T3 khởi kiện cụ Nguyễn Văn T1 tranh chấp thửa đất số 21, tổ B, phường P diện tích 467m² đất ở (là thửa đất đang tranh chấp), thửa số 1034, tờ bản đồ số 11, diện tích 130m² đất ao. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm đã ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 20/HGT ngày 16/11/1996 công nhận thỏa thuận của các đương sự với nội dung:
“1)- Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
Xác định thửa đất số 21, diện tích 452 m² và 1 ao thửa 1034 diện tích 130 m² ở M, G thuộc quyền sử dụng của cụ T3.
Cụ T3 cho ông T1 tạm sử dụng phần đất có ranh giới nối thẳng từ nhà ông T1 và nhà con ông T1 hất vào phía trong. Ông T1 có trách nhiệm mở lối đi mới ra đường ngõ xóm”.
Như vậy, tài sản đang tranh chấp là tài sản hợp pháp của cố Tha (mẹ cụ H) theo quyết định của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm. Sau đó, cố T3 đã cho cụ H 126m² đất thuộc một phần thửa đất số 21, tổ B, phường P (đất đang tranh chấp). Ngày 12/8/2003, UBND huyện G cấp GCNQSDĐ số vào sổ 0013 cho cụ Nguyễn Thị H 126m² đất thuộc thửa đất số 21-1 (đất ở), tổ B, phường P.
Ngày 26/3/2002, cố Tha chết. Ngày 07/01/2007, cụ H có bán cho ông Nguyễn Văn T2 80 m² đất thửa đất số 21-1 (đất ở), tổ B, phường P trong phần đất cụ H đã được cấp GCNQSDĐ; giá bán 7 triệu đồng/m²; các bên đã thực hiện xong hợp đồng này; ông T2 đã được cấp GCNQSDĐ. Cụ H đã chia một phần bán đất cho các bà Nguyễn Thị V3, bà Nguyễn Thị Đ2, còn một phần tiền cụ H xây nhà 2 tầng 1 tum như hiện nay.
6
Ngày 01/7/2020, cụ H đã chuyển nhượng diện tích 46m² thuộc thửa đất số 21-1 (đất ở), tổ B, phường P cho ông Nguyễn Đức H2 và vợ là Nguyễn Thị V4. Việc chuyển nhượng có lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 2727/2020/HĐCNQSDĐ ngày 01/7/2020 tại Văn phòng C7.
Ngày 30/7/2020, Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H đã cấp GCNQSDĐ số V185766 cho ông H2 và bà V4.
Sau khi chuyển nhượng xong thửa đất trên, cụ H đã bàn giao nhà đất cho bà V4. Tuy nhiên, lúc đó bà T đang ở nhờ từ trước không chịu dọn đi nên ông H2, bà V4 không vào được nhà.
Năm 2020, ông H2, bà V4 đã xin cấp giấy phép xây dựng để cải tạo nhà, UBND quận L đã cấp Giấy phép xây dựng nhưng ông Đ, bà V4, bà T ngăn cản không cho xây, nên Giấy phép xây dựng hết hạn.
Ngày 28/12/2022, Ủy ban nhân dân quận L cấp Giấy phép xây dựng số 2305/GPXD cho ông Nguyễn Đức H2 và bà Nguyễn Thị V4 nhưng ông Đ, bà V4, bà T tiếp tục ngăn cản nên ông H2, bà V4 vẫn chưa thực hiện được việc xây dựng, cải tạo nhà để ở.
Cụ H không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ H là chủ sử dụng đất hợp pháp của thửa đất số 21-1 (đất ở), tổ B, phường P, đã được cấp GCNQSDĐ, cụ H đã xây dựng nhà trên đất. Việc cụ H chuyển nhượng cho ông H2, bà V4 là hoàn toàn hợp pháp. Việc chuyển nhượng giữa cụ H với ông H2, bà V4 đã thực hiện xong; ông H2, bà V4 cũng đã được cấp GCNQSDĐ nên việc mua bán đã hoàn tất.
Đối với “Giấy di chúc” lập tháng 1/2002 mà ông Đ, bà V4 xuất trình không có giá trị gì vì lúc đó cố Lê Thị T3 hoàn toàn không biết, không ký hay điểm chỉ gì hết. Cụ H cũng không biết gì về di chúc này. Đối với “Biên bản họp gia đình” ngày 17/5/2003, “Bản cam kết” ngày 17/6/2003, “Biên bản cuộc họp” ngày 02/01/2007, “Giấy thỏa thuận” ngày 26/02/2007 do nguyên đơn xuất trình bị đơn hoàn toàn bác bỏ vì không đồng ý, cũng không có giá trị gì.
Đề nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà T rời khỏi nhà đất đang tranh chấp để trả lại cho vợ chồng ông H2, bà V4.
Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thúy V1 và người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Đức H2 trình bày:
Ngày 01/7/2020, vợ chồng ông bà có nhận chuyển nhượng của cụ Nguyễn Thị H và chồng là cụ Trần Văn K diện tích 46 m² thuộc thửa đất số 21-1 (đất ở), tổ B, phường P; thửa đất đã được UBND huyện G cấp GCNQSDĐ số Q897134 ngày 12/8/2003 cho
7
cụ H. Việc chuyển nhượng có lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 2727/2020/HĐCNQSDĐ ngày 01/7/2020 tại Văn phòng C7. Hai bên đã làm thủ tục bên mua giao tiền và bên bán giao nhà; tuy nhiên, do bà T đang ở nhờ từ trước không chịu dọn đi nên vợ chồng bà không vào được nhà.
Ngày 30/7/2020, Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H đã cấp GCNQSDĐ số V185766 vợ chồng bà là Nguyễn Đức H2 và bà Nguyễn Thúy V1.
Năm 2020 và năm 2022, vợ chồng bà đã xin cấp giấy phép xây dựng để cải tạo nhà, UBND quận L đã cấp giấy phép nhưng ông Đ, bà V1, bà T ngăn cản không cho xây, giấy phép hết hạn.
Nay, ông Đ, bà H khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số V185766 do Sở Tài nguyên - Môi trường Thành phố H ngày 30/7/2020 đã cấp vợ chồng bà là Nguyễn Đức H2 và bà Nguyễn Thúy V1, ông bà không đồng ý vì việc mua bán nhà đất trên của ông bà và vợ chồng bà H hoàn toàn ngay tình, thời điểm mua bán nhà đất không có tranh chấp. Đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho vợ chồng tôi. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà ở thửa đất đang tranh chấp thuộc thửa đất số 21, tổ B, phường P từ bé đến giờ. Nhà đất trên bà khẳng định là của các cụ Nguyễn Thị Đ2, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị V3 sử dụng để làm nhà thờ, không phải của riêng cụ H. Từ trước đến năm 2019, bà đóng thuế đất, mang tên người đóng là cụ H. Từ năm 2020 đến nay, cụ H là người đóng thuế đất. Ngoài ra, bà không đóng góp công sức gì vào nhà đất đang tranh chấp. Bà là người trực tiếp quản lý, bảo vệ, tôn tạo, duy trì quyền sử dụng thửa đất 21-1, tờ số 11 theo GCNQSDĐ số: Q897134(cũ) diện tích 46 m² nay là số thửa: 499 tờ bản đồ số 33, theo GCNQSDĐ có số: CV 185766 do Sở T cấp ngày 30/7/2020, thửa đất này thuộc quyền định đoạt của cả 03 cụ: Đựng, V3, H theo Quyết định bản án dân sự số: 61/DS ngày 04/02/1997. Bà thực hiện quyền sử dụng trông coi thờ cúng tổ tiên theo biên bản thỏa thuận của các đồng sở hữu. Năm 2007, bà tu bổ tôn tạo nộp thuế đối với khối tài sản này, bà không có tài sản nào khác ngoài ngôi nhà đang quản lý và trông coi.
Đề nghị Tòa án: 1/ Đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu khôi phục hợp đồng chuyển nhượng giữa cụ Nguyễn Thị H và vợ chồng H2, V1. Trả lại nhà đất cho 03 gia đình. 2/ Tiếp tục công nhận sự thỏa thuận của các đồng sở hữu theo biên bản thỏa thuận giữa ba bà Đ2, V3 và H năm 2007. 3/ Trường hợp nếu chia tài sản chung ước tính là 1,6 tỷ đồng, thì bà yêu cầu hưởng công sức quản lý duy trì tài sản bằng 01 kỳ phần của đồng sở hữu, sử dụng nhà đất tương đương 1/4 giá trị là 400 triệu
8
đồng để thu xếp chỗ ở, thờ tự ông bà tổ tiên. Nguyên đơn là ông Đ, bà V1 khởi kiện đòi lại nhà đất trên để làm nhà thờ thì bà đồng ý. Ngoài ra không có ý kiến, yêu cầu gì khác.
Ngoài các lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trên thì các lời khai của các ông(bà) liên quan phía nguyên đơn Hoàng Văn Đ và Lê Thị V đều xác nhận như nguyên đơn không có yêu cầu gì khác ngoài yêu cầu như nguyên đơn đã trình bày: Công nhận nguồn gốc 46 m² nằm trong 126 m² có nguồn gốc là của các cụ H3 và cụ T3, diện tích 46 m² này mục đích làm nhà thờ và cho bà T được ở tại đây.
Cụ G là con dâu của cố Tha, có 01 con chung với cụ C3 nhưng đã chết năm 1965, cụ G có 02 người con nuôi Sau khi ông C1 chết cụ G không lấy chồng, cụ G có quan điểm tương tự như các nguyên đơn và cũng không đóng góp công sức vào diện tích 46 m² này và xác định có diện tích đất đang ở được cấp GCNQSDĐ mang tên cụ từ năm 1992; diện tích đất này có nguồn gốc đất của cố Tha và cố H3 cho không liên quan gì đến đất của ông Nguyễn Văn T1.
Người (pháp nhân) có quyền và nghĩa vụ liên quan - Sở Tài nguyên Môi trường Thành phố H cung cấp:
Thông tin về GCNQSDĐ và các thủ tục sau khi cấp GCNQSDĐ như sau:
Ngày 12/8/2003, UBND huyện G cấp GCNQSDĐ Q 897134 cho cụ Nguyễn Thị H, thửa đất số 21, tổ B, phường P, diện tích 126 m² đất ở.
Ngày 01/7/2020, cụ Trần Văn K và cụ Nguyễn Thị H chuyển nhượng toàn bộ thửa đất trên cho ông Nguyễn Đức H2 và bà Nguyễn Thúy V1 theo Hợp đồng công chứng số 2727/2020/HĐCNQSDĐ lập ngày 01/7/2020 tại Văn phòng C7.
Về căn cứ giải quyết thủ tục hành chính: Thủ tục đăng ký biến động thửa đất trên giấy chứng nhận đã được cấp UBND Thành phố H quy định thực hiện theo Quyết định số 3542/QĐ-UBND ngày 12/7/2017. Thửa đất số B, tổ B, phường P, diện tích 126 m² đất ở đủ điều kiện đăng ký biến động theo quy định của UBND Thành phố H, đủ điều kiện thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định tại Điều 188 Luật đất đai năm 2013; được thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người (pháp nhân) có quyền và nghĩa vụ liên quan - Văn phòng C7 cung cấp:
Ngày 01/7/2022, Văn phòng C7 nhận được yêu cầu công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Đức H2. Văn phòng kiểm tra tài liệu các bên bao gồm: GCNQSDĐ; Chứng minh thư và hộ khẩu của bên chuyển nhượng, Đăng ký
9
kết hôn của bên chuyển nhượng; Chúng minh thư và hộ khẩu của bên nhận chuyển nhượng.
Cùng ngày Văn phòng C7 lập Hợp đồng công chứng chuyển nhượng toàn bộ phần diện tích còn lại của thửa đất số 21-1; tổ B, phường P từ vợ chồng cụ K, cụ H sang cho anh H2, chị V1; số công chứng 2727/2020/HĐCNQSDĐ ngày 01/7/2020 của Văn phòng C7, chuyển trả hợp đồng cho cá bên làm thủ tục đăng ký sang tên theo quy định.
Trình tự thủ tục công chứng: Công chứng viên Văn phòng C7 đã làm đầy đủ các thủ tục theo quy định pháp luật trong việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 2727/2020/HĐCNQSDĐ ngày 01/7/2020.
Về trình tự ký văn bản công chứng: Văn phòng C9 dự thảo hợp đồng công chứng theo yêu cầu của người yêu cầu, cho người tham gia ký hợp đồng đọc và chỉnh sửa nội dung của hợp đồng. Sau khi người tham gia ký kết hợp đồng không sửa đổi, bổ sung gì nội dung hợp đồng, công chứng viên kiểm tra chứng minh thư nhân dân của những người được ký kết, hướng dẫn các bên ký kết, điểm chỉ vào hợp đồng công chứng. Công chứng viên đã kiểm tra kỹ chứng minh thư và đối chiếu với người được ký để cho ký hợp đồng, các bên khi ký kết đầy đủ năng lực hành vi dân sự, việc ký kết hoàn toàn tự nguyện, đã đọng rõ nội dung hợp đồng.
Trước khi cho các bên ký và điểm chỉ Văn phòng C7 đã tra cứu ngăn chặn trên hệ thống phần mềm UCHI và không thấy có giao dịch nào khác và không có thông tin ngăn chặn. Thời điểm ký kết các bên đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.
Quan điểm của Văn phòng C7 đã thực hiện theo quy định của pháp luật về việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại bản án nhân sự sơ thẩm số 251/2023/DSST ngày 22/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội quyết định:
- Bác yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất 46 m² theo thửa 21-1, tờ bản đồ 11 cũ nay là thửa đất số: 499, tờ bản đồ số 33, tại số A ngách B, tổ B, phường P, quận L, Thành phố Hà Nội của ông, bà nguyên đơn: Hoàng Văn Đ, Lê Thị V.
- Bác yêu cầu của ông Hoàng Văn Đ và bà Lê Thị V đối với yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng giữa bà Nguyễn Thị H và bên nhận chuyển nhượng là anh chị Nguyễn Thị H4, Nguyễn Thúy V1 theo hợp đồng công chứng số công chứng 2727/2020/HĐCNQSDĐ ngày 01/7/2020 của Văn phòng C7.
- Bác yêu cầu của ông Hoàng Văn Đ và bà Lê Thị V đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CV 185766, cấp ngày 30/7/2020 cho ông(bà)
10
Nguyễn Đức H2 và Nguyễn Thúy V1 của Sở TNMT, Ủy ban nhân dân Thành phố H vào sổ cấp GCN: CS - LB 27637 tại địa chỉ: Số A ngách B, tổ B phường P, quận L, Hà Nội.
- Xác nhận cụ Lê Thi T4 chết không để lại di chúc. Di sản của cụ Lê Thị T3 xác định theo quyết định số 20/HGT ngày 16/11/1996 của Tòa án nhân dân huyện Gia lâm, Hà Nội đã có hiệu lực pháp luật và có biên bản thi hành án ngày 27/5/1998 của cơ quan thi hành án huyện G.
- Chấp nhận yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Đức H2, chị Nguyễn Thúy V1 về yêu cầu Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số: 2727/2020/HĐCNQSDĐ ngày 01/7/2020.
- Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị T phải ra khỏi nhà và đất tại địa chỉ: Số A ngách B, tổ B phường P, quận L, Hà Nội. Trả lại toàn bộ nhà và đất cho anh, chị Nguyễn Thúy V1 và Nguyễn Đức H2.
Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau phiên toà sơ thẩm, ông Hoàng Văn Đ, bà Lê Thị V, bà Nguyễn Thị T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Người kháng cáo - ông Hoàng Văn Đ, bà Lê Thị V, bà Nguyễn Thị T thống nhất trình bày:
Cố Hạng có cùng lúc 03 người vợ là cố Chuộng, cố Đ1 và cố Tha. Năm 1947 cố Hạng chết; năm 1950 cố Chuộng chết; năm 1955 cố Đựng chết.
Nguyên diện tích đất 46 m² tranh chấp nằm trong toàn bộ diện tích đất của gia đình có nhà 3 - 4 gian trên diện tích đất khoảng 700 m². Khi các con gái đi lấy chồng; cụ C3 hy sinh thì trên đất chỉ còn cụ T1 (con nuôi) ở với cố Tha; cụ G (vợ cụ C3 ở riêng ở một phần đất). Các ông bà xác định Quyết định công nhận hoà giải thành ngày 16/11/1996 có hiệu lực pháp luật. Nguyên đơn thừa nhận di chúc của cố Tha lập năm 2002 không có giá trị pháp lý.
Ngày 17/05/2003, cụ Đ2, cụ V3, cụ H đã lập biên bản thoả thuận đây là tài sản chung.
Ngày 17/06/2003, cụ H lập cam kết khi nào muốn chuyển nhượng thì phải có ý kiến thống nhất.
Ngày 12/08/2003, UBND huyện G đã cấp GCNQSDĐ cho cụ Nguyễn Thị H đối với diện tích đất 126 m².
Ngày 07/01/2007, cả ba cụ Đ2, V3, H ký văn bản chuyển nhượng 80 m² cho ông Nguyễn Văn T2. Sau khi bán cho ông T2 80 m² thì còn lại 46 m²; các cụ dùng tiền bán đất xây nhà thờ và cho chị T trông nom. Từ trước đến nay dù cụ T1 ở trên đất bên
11
cạnh nhưng đã chia cho con trai một phần và bán đi một phần; gia đình vẫn thờ cúng tại phần đất 46 m² này.
Việc chuyển nhượng của cụ H cho ông H2, bà V là giao dịch giả tạo; ông H5, bà V là người có họ bên ngoại của cụ H.
Bên nguyên đơn đề xuất đưa cho bị đơn số tiền 800 triệu đồng để lấy lại toàn bộ diện tích đất này.
Đại diện theo uỷ quyền của cụ Nguyễn Thị H trình bày:
Quyết định công nhận hoà giải thành ngày 16/11/1996 có hiệu lực pháp luật; do vậy cố Nguyễn Thị T5 có quyền sử dụng đối với toàn bộ diện tích đất liên quan đến quyết định này trong đó có 46 m² đất tranh chấp trong vụ án này. Bị đơn bác bỏ di chúc của cố Tha vì cố T5 không biết chữ, không điểm chỉ; và tại phiên toà hôm nay bên nguyên đơn cũng thừa nhận di chúc này không có giá trị pháp lý. Đối với Giấy thoả thuận ngày 26/02/2002; Biên bản họp gia đình ngày 17/05/2003; Bản cam kết ngày 17/06/2003; Biên bản họp gia đình ngày 02/01/2007 đều không có giá trị vì quyền sử dụng đất lúc đó thuộc của cố Tha, những người tham gia họp không phải là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cố Tha và thời điểm đó cụ H không biết đến Quyết định công nhận hoà giải thành ngày 16/11/1996 nên việc cụ H có ký các văn bản thoả thuận do không hiểu biết.
Cụ H đã bán cho ông H2 và bà V diện tích đất còn lại, giá trị chuyển nhượng theo hợp đồng là 200 triệu đồng.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác có mặt đồng ý với ý kiến của nguyên đơn trình bày.
Người làm chứng - ông Nguyễn Văn T2 trình bày: Việc ông mua diện tích đất 80 m² tuy văn bản chuyển nhượng công chứng chỉ có cụ H ký bên bán nhưng quá trình giao dịch ông có làm việc với ông P, bà V và cụ H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý vụ án đến phiên toà xét xử vụ án.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, hủy án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án về cho TAND quận Long Biên để giải quyết lại theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
12
[1.1]. Về thủ tục kháng cáo:
Ông Hoàng Văn Đ, bà Lê Thị V, bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định; các đương sự là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Do đó kháng cáo đảm bảo về chủ thể, hình thức, nội dung và trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2]. Về có mặt, sự vắng mặt của các đương sự tại phiên toà phúc thẩm:
Các đương sự đều đã được tống đạt hợp lệ đến tham gia phiên tòa. Tại phiên toà phúc thẩm, có mặt ông Hoàng Văn Đ, bà Nguyễn Thị V4, ông Nguyễn Văn C, ông Hoàng Đức L, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn M, ông Lê Hồng P, bà Lê Thị G1, bà Mai Thị L1; vắng mặt các đương sự khác; các đương sự có mặt không đương sự nào đề nghị hoãn phiên toà. Hội đồng xét xử thấy cần xét xử vắng mặt các đương sự khác theo quy định tại khoản 2 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Xét kháng cáo của ông Hoàng Văn Đ, bà Lê Thị V, bà Nguyễn Thị T:
[2.1]. Về huyết thống gia đình:
Cố Nguyễn Văn H3 (chết năm 1947) có 3 người vợ:
Bà vợ thứ nhất: Cố Lương Thị C2 (chết năm 1950). Cố Hạng và cố C2 có 01 người con chung là cụ Nguyễn Thị V3 (chết năm 2019). Cụ V3 có chồng là Lê Văn G2 (chết năm 1997) và có 5 người con: Bà Lê Thị V, bà Lê Thị Q, bà Lê Thị G1, bà Lê Hồng P, bà Lê Thị Tường V5.
Bà vợ thứ hai: Cố Nguyễn Thị Đ1 (chết năm 1952). Cố Hạng và cố Đ1 có 01 người con là cụ Nguyễn Thị Đ2 (chết năm 2008). Cụ Đ2 có chồng là Hoàng Văn D (chết 1961) và 02 người con: Ông Hoàng Văn Đ, bà Hoàng Thị N.
Bà vợ thứ ba: Cố Lê Thị T3 (chết năm 2002). Cố Hạng và cố T3 có 02 người con đẻ là: Cụ Nguyễn Văn C3 (liệt sỹ); Nguyễn Thị H; ngoài ra, có một người con trai nuôi là cụ Nguyễn Văn T1. Cụ H có chồng là ông Trần Văn K (chết năm 2022) và 05 người con: Bà Trần Thị C5, ông Trần Văn T6, bà Trần Thị T7, bà Trần Thị T8, ông Trần Văn C6. Ông C3 hy sinh năm 1974, có vợ là cụ Nguyễn Thị G, có 01 người con chung chết từ nhỏ năm 1965; cụ G có 02 người con nuôi là Nguyễn Thị T9, sinh năm 1966 và Nguyễn Văn T10, sinh năm 1976. Ông T1 chết năm 2015, có vợ là bà Hoàng Thị D1 (chết năm 1975) và 04 người con: Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn K1, Nguyễn Thị Ú.
[2.2]. Về nguồn gốc đất tranh chấp:
Các đương sự trong vụ án tranh chấp 46m² thuộc thửa đất có nguồn gốc của vợ chồng cố Hạng để lại là thửa đất số 21, tổ B, phường P, diện tích 467m² đất ở. Ngoài ra, sinh thời cố Hạng, cố Chuộng, cố Đựng, cố Tha còn có thửa đất số 1034, tờ bản đồ 11, diện tích 130m² và thửa đất số 687, tờ bản đồ 11, diện tích 185m² đều
13
tại thôn M, xã G, huyện G, Thành phố Hà Nội.
[2.3]. Quá trình sử dụng, kê khai cấp GCNQSDĐ:
Năm 1992, cụ Nguyễn Văn T1 kê khai GCNQSDĐ cả 03 thửa đất là: thửa đất số 21, tờ bản đồ 11; thửa số 1034, tờ bản đồ số 11 và thửa số 687, tờ bản đồ số 7. Ngày 20/11/1992, cụ Nguyễn Văn T1 đã được UBND huyện G cấp GCNQSDĐ số B276746, vào sổ số 01441 QSDĐ với diện tích cả 03 thửa là 782 m².
Năm 1996, cố Lê Thị T3 khởi kiện cụ Nguyễn Văn T1 tranh chấp thửa đất số 21, tờ bản đồ 11; thửa số 1034, tờ bản đồ số 11 và thửa số 687, tờ bản đồ số 7. Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm đã ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 20/HGT ngày 16/11/1996 (sau đây viết tắt là Quyết định số 20/HGT ngày 16/11/1996) công nhận thỏa thuận của các đương sự với nội dung: “Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau: Xác định thửa đất số 21 diện tích 452 m² và ao thửa 1034 diện tích 130 m² ở M, G thuộc quyền sử dụng của cụ T3”.
Cụ T3 cho ông T1 tạm sử dụng phần đất có ranh giới nối thẳng từ nhà ông T1 và nhà con ông T1 hất vào phía trong. Ông T1 có trách nhiệm mở lối đi mới ra đường ngõ xóm”.
[2.4]. Xét về quyền sử dụng đất Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 20/HGT ngày 16/11/1996:
Hội đồng xét xử nhận thấy,
Tuy rằng, thửa đất số 21, tờ bản đồ 11 có nguồn gốc là của tổ tiên để lại cho cố H3 (03 người vợ là cố Chuộng, cố Đựng và cố Tha). Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 thì thửa đất nêu trên là tài sản chung của cố H3 cùng 03 người vợ là cố Chuộng, cố Đ1 và cố Tha. Khi cố H3, cố Chuộng, cố Đựng chết thì di sản của các cố trong khối tài sản chung thì những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của các cố được hưởng. Trong quá trình giải quyết vụ án, các nguyên đơn và các đương sự khác đều biết quá trình giải quyết tranh chấp giữa cố Tha và cụ T1 tại Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm năm 1996 và có biết Quyết định số 20/HGT ngày 16/11/1996. Cho đến nay Quyết định số 20/HGT ngày 16/11/1996 đang có hiệu lực pháp luật, không có quyết định Giám đốc thẩm, quyết định Tái thẩm và hiện nay đã hết thời hạn kháng nghị theo trình tự Giám đốc thẩm, Tái thẩm. Hơn nữa, các đương sự trong vụ án bao gồm cả các nguyên đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phía nguyên đơn từ trước đến nay không có ý kiến phản đối với Quyết định số 20/HGT ngày 16/11/1996 và quyết định này đã được Cơ quan thi hành án dân sự huyện G thi hành án xong ngày 27/5/1998. Do vậy, cần xác định toàn bộ thửa đất số 21, tờ bản đồ 11 là tài sản riêng của cố Lê Thị T3 theo Quyết định số 20/HGT ngày 16/11/1996.
Do quyền sử dụng đất của cố Lê Thị T3 từ ngày 16/11/1996, nên khi cố Lê Thị
14
T3 chết vào năm 2002 thì ông Hoàng Văn Đ (là cháu ngoại của cố H3 và cố Đ1) và bà Lê Thị V (là cháu ngoại của cố H3 và cố Chuộng) không thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật của cố Nguyễn Thị T5 theo quy định tại Điều 677, Điều 679 Bộ luật dân sự 1995.
[2.5]. Xét các thoả thuận liên quan:
[2.5.1]. Xét Di chúc năm 2002 ghi tên cố Lê Thị T3:
Trong quá trình giải quyết vụ án, bên nguyên đơn xuất trình “Di chúc ghi năm 2002 ghi tên cố Lê Thị T3”, bị đơn không thừa nhận tính hợp pháp của di chúc. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần xét tính có hiệu lực của di chúc về nội dung và hình thức.
Tại “Di chúc năm 2002 ghi tên cố Lê Thị T3” là di chúc viết tay, các nguyên đơn trình bày không biết ai là người viết di chúc. Các đương sự trong vụ án đều xác nhận cố Lê Thị T3 là người không biết chữ. Tại Điều 659 Bộ luật Dân sự 1995 quy định: “Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết di chúc thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng, người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng...”. Tuy nhiên, tại văn bản này không có chữ ký hoặc điểm chỉ của cố Lê Thị T3; chỉ có 01 người ký với tư cách làm chứng là cụ Trần Văn S, nội dung xác nhận không ghi rõ thời điểm cụ S có mặt và thời điểm cụ S có mặt có chứng kiến cố Tha lập di chúc hay không, hiện nay cụ S đã chết nên không xác định được ý chí của cố T3 và cụ S tại thời điểm lập văn bản này. Tại khoản 3 Điều 655 Bộ luật Dân sự 1995 quy định “Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có chứng nhận của Công chứng Nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn”.
Vì vậy, “Di chúc ghi năm 2002 ghi tên cố Lê Thị T3” không phù hợp về hình thức, không có căn cứ xác định đây là ý chí của cố Lê Thị T3; không thuộc trường hợp là di chúc hợp pháp theo quy định tại Điều Điều 655, Điều 659 Bộ luật Dân sự 1995.
[2.5.2]. Xét “Biên bản họp gia đình ngày 17/05/2003”, “Bản cam kết ngày 17/06/2003":
Các nguyên đơn xuất trình “Biên bản họp gia đình ngày 17/05/2003” có sự tham gia của cụ Đ2 (mẹ ông Đ do ông Đ ký thay), cụ V3 (mẹ bà V), cụ T1, cụ H có nội dung: Cùng xác định chia đất trên cơ sở GCNQSDĐ đã cấp cho ông Trụ ngày 20/11/1992, thỏa thuận giao cho ông T1 sử dụng 341 m², 03 cụ Đ2, cụ V3, cụ H sử dụng 126 m². Ngoài ra, các đồng nguyên đơn xuất trình “Bản cam kết ngày 17/06/2003” do người viết và ký là cụ Nguyễn Thị H có nội dung: Khi mẹ chúng tôi
15
mất đi, để lại mảnh đất 126 m² để lấy chỗ thờ cúng, nếu khi nào muốn chuyển nhượng lại cho ai, thì được sự đồng ý cả 03 chị em, nếu không được sự đồng ý của cả ba chị em, thì (không ai có quyền) sự việc chuyển nhượng đất đai không hợp pháp. Tôi được sự ủy quyền đứng tên sổ đỏ và giữ sổ.
Mặc dù, cụ Nguyễn Thị H không thừa nhận chữ ký và ý chí trong “Biên bản họp gia đình ngày 17/05/2003” và “Bản cam kết ngày 17/06/2003”; tuy nhiên, Kết luận giám định của V6- Bộ C10 cho kết quả chữ ký trong “Bản cam kết ngày 17/06/2003” đúng là của cụ H; cụ H không có tài liệu chứng cứ chứng minh việc ký văn bản này là do bị ép buộc hoặc bị lừa dối.
Xét tính có hiệu lực của “Biên bản họp gia đình ngày 17/05/2003” và “Bản cam kết ngày 17/06/2003”, Hội đồng xét xử nhận thấy,
Ngày 16/11/1996, toàn bộ thửa đất số 21, tờ bản đồ 11 là tài sản riêng của cố Lê Thị T3 theo Quyết định số 20/HGT ngày 16/11/1996 (như nhận định ở trên); đã được thi hành án xong theo Biên bản thi hành án ngày 27/5/1998.
Ngày 20/06/2002, cố Lê Thị T3 chết không để lại di chúc (như nhận định ở trên); hàng thừa kế thứ nhất của cố Lê Thị T3 theo Điều 638, Điều 639, Điều 677, điểm a khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự năm 1995 gồm cụ Nguyễn Thị H, cụ Nguyễn Văn T1.
Ngày 15/5/2003, cụ Nguyễn Văn T1 có đơn xin tách 315 m² và 126 m² từ nằm trong thửa 21, tờ bản đồ số 11 theo GCNQSDĐ mà cụ Nguyễn Văn T1 được cấp 1992 (theo cung cấp của Văn phòng đăng ký đất đai).
Sau khi cố Tha chết, đáng lẽ ra cụ Nguyễn Văn T1 và cụ Nguyễn Thị H là người thừa kế hợp pháp của cố Lê Thị T3 phải làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế của cố Tha theo quy định tại Điều 691,738 Bộ luật dân sự 1995 trên cơ sở quyền sử dụng đất của cố Tha đã được phán quyết tại Quyết định số 20/HGT ngày 16/11/1996. Tuy nhiên, giữa cụ T1, cụ H, cụ V3, ông Đ lại “Biên bản họp gia đình ngày 17/05/2003” và “Bản cam kết ngày 17/06/2003” để tách diện tích đất cụ Nguyễn Văn T1 được cấp theo GCNQSDĐ năm 1992 (đã không còn giá trị sau khi có Quyết định số 20/HGT ngày 16/11/1996) để phân chia đất là không phù hợp.
Do chỉ có cụ T1 và cụ H là người thừa kế hợp pháp của cố Tha. Việc cụ V3 và ông Đ tham gia ký thoả thuận không phải là thoả thuận của những người đồng thừa kế. Việc cụ T1 và cụ H tự nguyện phân chia trong đó cụ T1 được chia thửa 21-2 diện tích 341m²; cụ H được chia thửa đất số 21-1 diện tích 126 m² là sự thống nhất giữa những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cố Lê Thị T3. UBND huyện G đã tách thửa đất số 21 thành thửa 21-1 diện tích 126 m² và thửa 21-2 diện tích 341 m² theo sự thống nhất của cụ T1 và cụ H là phù hợp với pháp luật về thừa kế và không xâm
16
phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Ngày 12/08/2003, cụ Nguyễn Thị H đã được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 21-1 diện tích 126 m².
Trên cơ sở kết luận giám định của V6- Bộ C10, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Ngày 2/1/2007, cụ H, cụ V3, cụ Đ2 lập biên bản thoả thuận việc sẽ bán diện tích đất 80 m² cho ông Nguyễn Văn T2 và phương án sẽ phân chia chia số tiền bán đất. Ngày 07/1/2007, cụ H, cụ V3, cụ Đ2 lập Giấy viết tay chuyển nhượng 80 m² đất thuộc thửa đất 21-1 với giá 550.000.000 đồng cho ông Nguyễn Văn T2. Ngày 26/02/2007, lập văn bản thỏa thuận cho bà Nguyễn Thị T, con gái ông Nguyễn Văn T1 ở tầng 1, còn tầng 2 để thờ cúng; bà T được sử dụng nhà cho đến khi chết.
Thời điểm năm 2007, Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực. Tại thời điểm này, cụ Nguyễn Thị H là người sử dụng đất hợp pháp đối với thửa đất số 21-1 diện tích 126m². Do vậy, cho dù cụ H đã ký các biên bản đồng thuận việc sử dụng tiền chuyển nhượng và sử dụng nhà đất còn lại với cụ V3, cụ Đ2 cũng không phải xác lập hợp đồng chuyển nhượng hay hợp đồng tặng cho trong đó có nội dung cụ H chuyển nhượng, tặng cho cụ V3, cụ Đ2 mỗi người 1/3 số tiền bán đất và diện tích còn lại của thửa đất số 21-1. Nội dung thoả thuận này không đảm bảo về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005; không phải là hợp đồng chuyển nhượng theo quy định tại Điều 388, Điều 428, Điều 450 Bộ luật dân sự năm 2005; không phải là hợp đồng tặng cho bất động sản theo quy định tại Điều 465, Điều 467 Bộ luật dân sự năm 2005.
Do vậy, cụ Nguyễn Thị H vẫn là người có toàn quyền sử dụng đối với diện tích đất tranh chấp; có đầy đủ quyền của người sử dụng đất theo quy định tại Điều 166 Luật đất đai năm 2013.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Đ, bà V, bà T; tuy nhiên sửa về cách tuyên, không dùng từ bác mà dùng từ không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do sửa về cách tuyên nên những người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội về nội dung không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử; về tố tụng những thiếu sót về tố tụng như đại diện Viện kiểm sát nhận định không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; không phải là vi phạm nghiêm trọng tố tụng và không thuộc trường hợp huỷ bản án sơ thẩm nên không được chấp nhận.
17
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điều 638, Điều 639, Điều 655, Điều 659, Điều 677, Điều 679, Điều 691, Điều 738 Bộ luật dân sự năm 1995 ;
- - Điều 122, Điều 388, Điều 428, Điều 450, 465, Điều 467 Bộ luật dân sự năm 2005;
- - Điều 271, Điều 272, Điều 273, Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 166 Luật đất đai năm 2013;
- - Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH-K14 ngày 30/6/2016 quy định về án lệ phí Tòa án và Pháp lệnh án phí và lệ phí Tòa án năm 2009.
Xử:
Không chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Văn Đ, bà Lê Thị V, bà Nguyễn Thị T; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 251/2023/DSST ngày 22/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội về nội dung, sửa về cách tuyên cụ thể như sau:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Hoàng Văn Đ, bà Lê Thị V về việc chia tài sản chung là quyền sử dụng đất 46 m² theo thửa 21-1, tờ bản đồ 11 (nay là thửa đất số 499, tờ bản đồ số 33) tại địa chỉ số A ngách 229b/30, tổ B phường P, quận L, Thành phố Hà Nội.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Hoàng Văn Đ và bà Lê Thị V về việc yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng giữa bên chuyển nhượng - cụ Nguyễn Thị H và bên nhận chuyển nhượng - ông Nguyễn Đức H2, bà Nguyễn Thúy V1 theo hợp đồng công chứng số công chứng 2727/2020/HĐCNQSDĐ ngày 01/7/2020 của Văn phòng C7.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Hoàng Văn Đ và bà Lê Thị V về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CV 185766, cấp ngày 30/7/2020 cho ông (bà) Nguyễn Đức H2 và Nguyễn Thúy V1 của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H ; số vào sổ cấp GCN: CS - LB 27637 tại địa chỉ số A nghách 229b/30, tổ B phường P, quận L, Thành phố Hà Nội.
- Xác định cố Lê Thi T4 chết không để lại di chúc. Di sản của cố Lê Thị T3 xác định theo quyết định số: 20/HGT ngày 16/11/1996 của Tòa án nhân dân huyện Gia lâm, Hà Nội đã có hiệu lực pháp luật và có biên bản thi hành án ngày 27/5/1998 của cơ quan thi hành án huyện G.
- Chấp nhận yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đức H2, bà Nguyễn Thúy V1 về yêu cầu Công nhận hợp đồng chuyển nhượng
18
quyền sử dụng đất công chứng số: 2727/2020/HĐCNQSDĐ ngày 01/7/2020. Công nhận nhà đất tại địa chỉ số A nghách 229b/30, tổ B phường P, quận L, Hà Nội thuộc quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Đức H2, bà Nguyễn Thúy V1.
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T ; buộc bà Nguyễn Thị T bàn giao toàn bộ nhà và đất tại địa chỉ: số A nghách 229b/30, tổ B phường P, quận L, Hà Nội cho ông Nguyễn Đức H2, bà Nguyễn Thúy V1.
- Về án phí:
Các ông Hoàng Văn Đ, bà Lê Thị V, bà Nguyễn Thị T được miễn án phí dân sự sơ thẩm; không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Ông Nguyễn Đức H2, bà Nguyễn Thúy V1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; được trả lại số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 065888 ngày 23/5/2023 Chi cục Thi hành án Dân sự quận Long Biên
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hồng |
19
20
Bản án số 486/2024/DS-PT ngày 06/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 486/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản
