|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 486/2023/DS-PT Ngày: 25-12-2023 V/v “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
|
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: |
Ông Phan Thanh Tòng |
|
Các Thẩm phán: |
Ông Lê Văn Phận Bà Nguyễn Thị Rẻn |
|
- Thư ký phiên tòa: |
Bà Nguyễn Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre. |
|
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: |
Bà Nguyễn Thị Xa Riêng - Kiểm sát viên. |
Ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 329/2023/TLPT-DS ngày 16 tháng 10 năm 2023 về “Kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 117/2023/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 3661/2023/QĐ-PT ngày 01 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Văn H – Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Số nhà I, Ấp C, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
-
Bị đơn: Ông Trịnh Văn T, sinh năm 1953.
Địa chỉ: Số nhà H, ấp B, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
-
Ông Trịnh Văn N, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Số nhà H, ấp B, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre.
-
Ông Cao Vĩnh P, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Số nhà E, ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân tỉnh B.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc T1 – Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Phan Hùng C – Phó Trưởng phòng Quản lý Đất đai - Đo đạc bản đồ và Viễn thám thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Trịnh Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung của nguyên đơn Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre và trong quá trình tố tụng người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hồng L trình bày:
Bộ (CHQS) tỉnh Bến Tre được Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số 06/QSDĐ/2462/QĐ-UBND ngày 30 tháng 5 năm 2001 với tổng diện tích được quyền sử dụng là 8.237.507 m² tại ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay ấp G, xã A, huyện T). Vào ngày 01 tháng 11 năm 2018 Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh có Hợp đồng số 84/HĐ-BCH, ngày 01 tháng 11 năm 2018, về việc hợp tác sản xuất nông nghiệp diện tích 7,8 ha, 01 phần thửa số 01, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre với ông Trịnh Văn T, địa chỉ ấp B, xã V, huyện B mục đích: sản xuất nông nghiệp; hợp đồng thời vụ 12 tháng (từ ngày 01/11/2018 đến ngày 01/11/2019). Thực hiện chủ trương của Bộ Q, Bộ tiến hành thanh lý hợp đồng sản xuất nông nghiệp trên khu đất quốc phòng tại ấp G, xã A, huyện T (trong đó có khu đất do ông Trịnh Văn T đang hợp tác với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh) để quản lý, sử dụng đúng theo qui định của Luật Đất đai.
Căn cứ Hợp đồng số 84/HĐ-BCH, ngày 01 tháng 11 năm 2018, về việc hợp tác sản xuất nông nghiệp giữa ông Trịnh Văn T với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B, thì Hợp đồng số 84/HĐ-BCH có thời hạn 12 tháng, từ ngày 01 tháng 11 năm 2018 đến ngày 01 tháng 11 năm 2019. Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho các hộ dân có thời gian di dời Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh có Công văn số 1119/BCH-HC ngày 26 tháng 9 năm 2019 về việc thông báo chấm dứt hợp đồng hợp tác sản xuất trên đất quốc phòng với các hộ dân ở khu vực xã A gửi các hộ dân và Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, Công văn có nội dung “Không thu tiền hợp đồng 6 tháng cuối năm 2019”. Ngày 10 tháng 7 năm 2019, Bộ tỉnh có mời 38 hộ dân đến gửi Thông báo số 714/TB-BCH ngày 26 tháng 6 năm 2019 của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh về việc thanh lý kết thúc hợp đồng với các tổ chức, cá nhân hợp tác sản xuất trên khu đất quốc phòng ở xã A, huyện T, ông Trịnh Văn T có nhận thông báo thanh lý hợp đồng của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh. Ngày 20 tháng 8 năm 2019, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh có Công văn số 957/BCH-HC về việc trả lời ý kiến của các hộ dân trong cuộc hợp thông báo thanh lý hợp đồng ngày 10 tháng 7 năm 2019
Ngày 01 tháng 11 năm 2019, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh có mời ông Trịnh Văn T đến thanh lý hợp đồng hợp tác sản xuất nông nghiệp, tại buổi làm việc ông Trịnh Văn T không đồng ý ký thanh lý hợp đồng. Ngày 22 tháng 11 năm 2019, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh có Thông báo số 1365/TB-BCH về việc trả lời đơn yêu cầu của các hộ dân hợp tác sản xuất nông nghiệp trên khu đất quốc phòng do Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh quản lý tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre, trong đó có ông Trịnh Văn T. Ngày 07 tháng 02 năm 2020, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh có Thông báo lần 2 số 165/TB- BCH về việc trả lời đơn yêu cầu của các hộ dân hợp tác sản xuất nông nghiệp trên khu đất quốc phòng do Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh quản lý tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre, trong đó có ông Trịnh Văn T. Ngày 25 tháng 5 năm 2020, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh có mời ông Trịnh Văn T đến tiến hành thanh lý Hợp đồng số 84/HĐ- BCH, nhưng ông Trịnh Văn T không đến, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh có lập biên bản vắng mặt. Ngày 28 tháng 7 năm 2020, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh có Thông báo số 1046/TB-BCH về việc hợp đồng hết hiệu lực đối với ông Trịnh Văn T. Ngày 04 tháng 9 năm 2020, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh có Thông báo số 1305/TB-BCH về việc trả lời đơn phản ánh, kiến nghị của 29 hộ dân hợp đồng sản xuất nông nghiệp trên đất quốc phòng do Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh quản lý tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre; Trong đó có ông Trịnh Văn T. Ngày 20 tháng 4 năm 2021, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh có mời ông Trịnh Văn T đến thanh lý Hợp đồng số 84/HĐ-BCH, nhưng ông Trịnh Văn T không đến, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh có lập biên bản vắng mặt. Ngày 22 tháng 4 năm 2022, Tổ công tác số 01 và 02 của Ban Chỉ đạo vận động thu hồi, quản lý sử dụng đất quốc phòng – an ninh có mời các hộ dân hợp đồng, hợp tác sản xuất nông nghiệp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh tại ấp G, xã A, huyện T đến tuyên truyền, vận động, thu hồi, quản lý đất quốc phòng trong đó có ông Trịnh Văn T. Ông Trịnh Văn T có đến buổi làm việc nhưng không đồng ý thanh lý hợp đồng và không ký tên vào biên bản. Ngày 24 tháng 5 năm 2022, Bộ C2 tỉnh có mời các hộ dân hợp đồng, hợp tác sản xuất nông nghiệp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh tại ấp G, xã A, huyện T đến thanh lý hợp đồng trong đó có ông Trịnh Văn T. Ông Trịnh Văn T có đến buổi làm việc, sau khi nghe Thủ trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh triển khai nội dung buổi làm việc ông Trịnh Văn T và một số hộ dân khác tự ý bỏ về, không ký tên vào biên bản.
Theo quy định của Hợp đồng số 84/HĐ-BCH thì hợp đồng đã hết thời hạn vào ngày 01 tháng 11 năm 2019. Do đó, từ tháng 01 năm 2020 đến tháng 7 năm 2022, ông Trịnh Văn T đang canh tác, sử dụng và cư trú trái phép trên khu đất quốc phòng tại ấp G, xã A, huyện T. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh đã mời ông Trịnh Văn T đến thanh lý hợp đồng hết thời hạn nhiều lần nhưng ông Trịnh Văn T không đồng ý, gây khó khăn trong quá trình giải quyết. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh B khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Trịnh Văn T tự tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của ông Trịnh Văn T đã xây dựng trên diện tích 7,8 ha thuộc một phần thửa số 01, tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre theo hợp đồng số 84/HĐ-BCH ngày 01/11/2018 về hợp tác sản xuất nông nghiệp để trả lại phần đất nêu trên cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B. Qua đo đạc thực tế có diện tích 88.088,2 m² (thửa 3-13, tờ bản đồ số 18, có diện tích 88.015,6 m²; thửa 3-13a, tờ bản đồ số 18, có diện tích 72,6 m²) thuộc một phần thửa 3, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B không bồi thường tài sản có trên đất do ông Trịnh Văn T tự xây dựng, cải tạo làm thay đổi hiện trạng trên đất mà không được sự đồng ý của BCH quân sự tỉnh Bến Tre.
Trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Trịnh Văn T và người đại diện theo ủy quyền của ông T trình bày:
Vào năm 1989 ông Trịnh Văn T cùng các hộ dân (Trần Văn C1, Trần Văn T2, Nguyễn Văn Đ, Chế Chí H1, Đặng Văn H2, Nguyễn Văn S, Chế Văn T3) cùng khai phá phần đất này, đến năm 1991 thì tập thể đứng ra ký kết hợp đồng với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B thỏa thuận ăn chia lợi tức 07-03 (các hộ dân 07 phần, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B 03 phần) do ông Trần Văn C1 đứng ra ký hợp đồng (có 01 bản duy nhất do ông C1 đang giữ), T4 đội chỉ giao cho các hộ trên khoảng 20 ha nhưng hiện nay đã khai phá trên khoảng hơn 70 ha.
Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh B có ký Hợp đồng số 84/HĐ-BCH ngày 01 tháng 11 năm 2018 về việc hợp tác sản xuất nông nghiệp diện tích 7,8 ha tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre với ông Trịnh Văn T, do ông T không biết nội dung chỉ ký kết để được canh tác đất. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B khởi kiện yêu cầu ông Trịnh Văn T giao trả lại phần đất qua đo đạc thực tế có diện tích 88.088,2 m² (thửa 3-13, tờ bản đồ số 18, có diện tích 88.015,6 m²; thửa 3-13a, tờ bản đồ số 18, có diện tích 72,6 m²) thuộc một phần thửa 3, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre. Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh B không bồi thường tài sản có trên đất thì ông Trịnh Văn T không đồng ý trả đất.
Ông Trịnh Văn T không đồng ý họa đồ có diện tích 88.088,2 m² thuộc một phần thửa 3, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre. Không đồng ý biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/01/2023, không đồng ý biên bản định giá tài sản ngày 10/01/2023 của Hội đồng định giá huyện T, tỉnh Bến Tre. Ông Trịnh Văn T đề nghị Tòa án giải quyết đất này theo Luật Đất đai hiện hành, vì đất này ông Trịnh Văn T đã khai phá từ năm 1989 cho đến nay. Đất ông Trịnh Văn T khai phá Tỉnh đội không có nộp thuế cho địa phương.
Người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân tỉnh B là ông Trần Ngọc T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại văn bản số 4803/UBND-NC ngày 09/8/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh B có nội dung:
Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp Giấy chứng nhận cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh thửa đất số 235, 236 và 237, cùng tờ bản đồ số 2; thửa đất số 1, tờ bản đồ số 3 và thửa đất số 519, 520, 521 và 522, cùng tờ bản đồ số 4, có số phát hành S 390612, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 6 QSDĐ/2462/QĐUB tại xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre, ký ngày 30 tháng 5 năm 2001 dựa trên cơ sở:
- Về quy định: Căn cứ Luật Đất đai 1993 của Quốc hội; Nghị định số 09/CP ngày 12 tháng 02 năm 1996 của Chính phủ về chế độ quản lý, sử dụng đất Quốc phòng, an ninh; Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16 tháng 3 năm 1998 của Tổng Cục địa chính về việc hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày 11 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai.
- Về giấy tờ hợp pháp: Căn cứ Quyết định số 872/TTg ngày 20 tháng 11 năm 1996 của Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch đất quốc phòng do Quân đội quản lý trên địa bàn Quân khu I; Quyết định số 73/QĐ-TM ngày 10 tháng 02 năm 2000 của Bộ T5 về vị trí đóng quân của các đơn vị thuộc Quân khu I trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Quyết định số 2462/QĐ-UB ngày 30 tháng 5 năm 2001 của Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Việc Ủy ban nhân dân tỉnh C3 Giấy chứng nhận cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh đối với thửa đất số 235, 236 và 237, tờ bản đồ số 2; thửa đất số 1, tờ bản đồ số 3; thửa đất số 519, 520, 521 và 522, tờ bản đồ số 4, có số phát hành S 390612, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 6 QSDĐ/2462/QĐUB tại xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre là đúng theo quy định.
Nếu yêu cầu “thu hồi” Giấy chứng nhận đã cấp cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh có số phát hành S 390612, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 6 QSDĐ/2462/QĐUB phải đảm bảo theo quy định tại khoản 6 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ "Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân đã được thi hành".
Việc yêu cầu “hủy” Giấy chứng nhận đã cấp cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh có số phát hành S 390612, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 6 QSDĐ/2462/QĐUB phải đảm bảo theo quy định tại khoản 7 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ “Trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều này mà người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không giao nộp Giấy chứng nhận thì Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm báo cáo cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quyết định hủy Giấy chứng nhận đã cấp; chỉnh lý hồ sơ địa chính theo quy định; lập danh sách Giấy chứng nhận đã bị hủy gửi Sở T. T6 để thông báo công khai trên trang thông tin điện tử”.
Từ những cơ sở trên, việc yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh B hủy Giấy chứng nhận đã cấp cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh đối với các thửa đất nêu trên là không có cơ sở xem xét, giải quyết.
Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú đưa vụ án ra xét xử. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 117/2023/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2023 đã tuyên:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Trịnh Văn T có nghĩa vụ giao trả cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B phần đất có diện tích 88.088,2 m² (thửa 3-13, tờ bản đồ số 18, có diện tích 88.015,6 m²; thửa 3-13a, tờ bản đồ số 18, có diện tích 72,6 m²) thuộc một phần thửa 3, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre (có họa đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo).
Buộc ông Trịnh Văn T có nghĩa vụ tự tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của ông T trên đất có diện tích 88.088,2 m² trả lại đất cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B.
Ông Trịnh Văn T được lưu cư trên đất. Thời hạn lưu cư là 03 tháng kể từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 19/9/2023, bị đơn ông Trịnh Văn T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, ông T đề nghị xem xét đến công sức của ông trong việc khai phá rừng hoang hóa, cải tạo đất, gìn giữ đất từ năm 1989 cho đến nay; đồng thời yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp ngày 30/5/2001.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trịnh Văn T thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm với lý do Tòa án cấp sơ thẩm không đo đạc phần mương để xác định khối lượng đất ông T đã bồi lấp là bao nhiêu để tính công sức cho ông T. Hơn nữa, phần đất tranh chấp là đất quốc phòng nên đề nghị giao cho Tòa án quân sự xét xử, không phải do Tòa án nhân dân xét xử.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không chấp nhận kháng cáo của ông Đặng Văn H2.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng, những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trịnh Văn T, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 117/2023/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, xét kháng cáo của bị đơn ông Trịnh Văn T; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị hủy bản án sơ thẩm, do Tòa án cấp sơ thẩm không đo đạc phần mương theo yêu cầu của ông T nên không thể xác định khối lượng đất ông T đã bồi lấp là bao nhiêu để giải quyết công sức cải tạo, bồi lấp đất của ông T. Xét thấy, việc thay đổi nội dung kháng cáo của bị đơn là vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu, do đó căn cứ khoản 2 Điều 284, khoản 3 Điều 298 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cho rằng phần đất tranh chấp là đất quốc phòng nên đề nghị chuyển cho Tòa án quân sự xét xử. Xét thấy, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B khởi kiện yêu cầu ông Trịnh Văn T trả lại phần đất ông T đang canh tác quản lý, Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú thụ lý vụ án đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất là đúng quy định. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Do đó, người đại diện theo ủy quyền của ông T yêu cầu chuyển vụ án cho Tòa án quân sự giải quyết là không được chấp nhận.
[2] Về nội dung:
[2.1] Phần đất tranh chấp qua đo đạc thực tế có tổng diện tích là 88.088,2m² gồm phần đất diện tích 88.015,6m² (ký hiệu 3-13) và phần đất diện tích 72,6m² (ký hiệu 3-13a) thuộc một phần thửa đất số 3, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre. Phần đất trên được Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B. Tuy nhiên, hiện tại do ông Trịnh Văn T quản lý, sử dụng.
[2.2] Nguyên đơn Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B căn cứ vào Hợp đồng số 84/HĐ- BCH ngày 01 tháng 11 năm 2018 về việc hợp tác sản xuất nông nghiệp với ông Trịnh Văn T đã hết thời hạn hợp đồng để yêu cầu bị đơn ông Trịnh Văn T tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của ông Trịnh Văn T trên phần đất tranh chấp, trả lại phần đất nêu trên cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B không bồi thường tài sản có trên đất do ông T tự xây dựng cải tạo làm thay đổi hiện trạng trên đất mà không được sự đồng ý của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B.
Bị đơn ông Trịnh Văn T thừa nhận có ký tên vào Hợp đồng số 84/HĐ-BCH ngày 01 tháng 11 năm 2018. Tuy nhiên, ông T cho rằng việc ông ký tên vào hợp đồng là để được canh tác đất chứ ông không biết nội dung. Ông T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B do phần đất này vào năm 1989 ông cùng các hộ dân khác khai hoang phục hóa đất rừng và canh tác cho đến nay.
[2.3] Xét Hợp đồng số 84/HĐ-BCH ngày 01 tháng 11 năm 2018:
Hợp đồng được ký kết giữa Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B với ông Trịnh Văn T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật nên được xem là hợp pháp. Về nội dung hợp đồng, các bên đồng ý hợp tác 7,8ha đất tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre thuộc quyền quản lý, sử dụng của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B với mục đích là để sản xuất nông nghiệp. Thời hạn của hợp đồng là hợp đồng theo thời vụ 12 tháng kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2018 đến ngày 01 tháng 11 năm 2019. Như vậy, hợp đồng hợp tác sản xuất nông nghiệp giữa Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre với ông Trịnh Văn Trước h hạn vào ngày 01 tháng 11 năm 2019.
Trước khi hết hạn hợp đồng, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre có mời các hộ dân trong đó có ông T đến để thông báo về việc thanh lý kết thúc hợp đồng, thông báo thời gian hết hạn hợp đồng hợp tác sản xuất nông nghiệp vào ngày 01 tháng 11 năm 2019 để các hộ dân trong đó có ông T có công tác chuẩn bị thu dọn chòi, trại giao lại phần đất cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B, thể hiện tại Biên bản làm việc ngày 10 tháng 7 năm 2019. Ngày 26 tháng 9 năm 2023, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B ban hành Công văn số 1119/BCH-HC gửi các hộ dân hợp tác sản xuất trong đó có ông T, nội dung Công văn thể hiện “Nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện cho bà con di dời đúng như thông báo, Bộ không thu tiền hợp đồng 6 tháng cuối năm 2019”. Tuy nhiên, trong các buổi làm việc ông Trịnh Văn T không đồng ý ký thanh lý hợp đồng.
Từ thời điểm hết hạn hợp đồng vào ngày 01 tháng 11 năm 2019 đến nay, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre đã nhiều lần thông báo và tạo điều kiện để ông T di dời tài sản giao lại phần đất theo hợp đồng nhưng ông T vẫn không thực hiện. Căn cứ vào hợp đồng đã được thỏa thuận giữa các bên thì thời hạn hợp đồng đã kết thúc, ông T không thực hiện theo đúng nội dung của hợp đồng là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Do đó, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B khởi kiện yêu cầu ông T trả lại quyền sử dụng đất là có cơ sở chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp.
[3] Xét kháng cáo của ông Trịnh Văn T:
[3.1] Ông T kháng cáo đề nghị xem xét đến công sức trong việc khai phá rừng hoang hóa, cải tạo đất, gìn giữ đất từ năm 1989 cho đến nay. Tuy nhiên, ông T không có chứng cứ chứng minh về việc khai phá rừng hoang hóa. Mặt khác, khi ông T ký kết hợp đồng hợp tác sản xuất với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B, nội dung hợp đồng có thể hiện phần đất hợp tác thuộc quyền quản lý, sử dụng của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh.
Đồng thời, tại đơn xin hợp đồng hợp tác sản xuất nông nghiệp của ông T gửi Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B ngày 01 tháng 11 năm 2018 có nội dung ông T cam kết “Khi hết hạn hợp đồng tôi sẽ bàn giao nguyên hiện trạng đất lại cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, mà không đòi hỏi bất cứ điều gì.”.
Hợp đồng số 84/HĐ-BCH ngày 01 tháng 11 năm 2018 có các nội dung như sau:
Tại khoản 2 Điều 3: “Không được xây dựng các công trình kiên cố hay cải tạo làm thay đổi hiện trạng phần đất trong hợp đồng sản xuất khi chưa có sự đồng ý của Bên A bằng văn bản của bên A.”.
Tại khoản 3 Điều 4: “Khi hết hạn hợp đồng mà hai bên không ký hợp đồng mới, thì bên B phải thu dọn, giao trả nguyên trạng ban đầu (như biên bản bàn giao) phần đất được hợp đồng cho bên A sau 30 ngày kể từ ngày hợp đồng được thanh lý".
Tại khoản 4 Điều 5: “Trong thời hạn báo trước, bên B phải thu dọn láng trại, trang thiết bị trả lại nguyên hiện trạng phần đất theo hợp đồng như ban đầu cho bên A".
Tại Điều 6: “Khi có nhu cầu bên A có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trước hạn, nhưng phải báo cáo cho bên B biết trước 03 tháng để tự thu dọn bàn giao đất sản xuất lại cho bên A (hoặc để bên B thu hoạch xong mùa vụ đang sản xuất) mà không đặt điều kiện bồi hoàn bất cứ khoản chi phí hoặc thiệt hại nào khác”.
Như vậy, theo thỏa thuận của các bên thì khi kết thúc hợp đồng ông T phải thu dọn tài sản, trả lại nguyên hiện trạng đất cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B. Việc ông T cải tạo đất là vi phạm khoản 2 Điều 3 của hợp đồng. Do đó, việc ông Trịnh Văn T yêu cầu Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B phải bồi thường, hỗ trợ đối với các tài sản mà ông đã đầu tư, xây cất trên đất, cùng công sức cải tạo đất là không có cơ sở chấp nhận.
[3.2] Ngoài ra, ông T kháng cáo yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B. Xét thấy, Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 06/QSDĐ/2462/QĐUBND ngày 30 tháng 5 năm 2001 cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B với tổng diện tích là 8.237.507m² tại ấp A (nay là ấp G), xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật gồm: Luật Đất đai năm 1993; Nghị định số 09/CP ngày 12 tháng 02 năm 1996 của Chính phủ về chế độ quản lý, sử dụng đất Quốc phòng, an ninh; Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16 tháng 3 năm 1998 của Tổng Cục địa chính về việc hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày 11 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai. Về giấy tờ hợp pháp để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Căn cứ Quyết định số 872/TTg ngày 20 tháng 11 năm 1996 của Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch đất quốc phòng do quân đội quản lý trên địa bàn Quân khu I; Quyết định số 73/QĐ-TM ngày 10 tháng 02 năm 2000 của Bộ T5 về vị trí đóng quân của các đơn vị thuộc Quân khu I trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
Như vậy, Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B là đúng trình tự và thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Từ khi Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 đến khi phát sinh tranh chấp không có ai khiếu nại. Ông T cho rằng phần đất tranh chấp do ông tự khai phá nhưng ông không có kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, ông T yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B là không có cơ sở để chấp nhận.
Từ những nhận định trên, xét thấy kháng cáo của ông Trịnh Văn T là không có cơ sở nên không được chấp nhận, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 117/2023/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú.
[4] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Trịnh Văn T phải chịu án phí, tuy nhiên ông T là người cao tuổi nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trịnh Văn T.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 117/2023/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú.
Căn cứ các Điều 147, 148, 157, 158, 165, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 158, khoản 2 Điều 165, 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 26, 166, 203 của Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Trịnh Văn T có nghĩa vụ giao trả cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B phần đất có diện tích 88.088,2 m² (thửa 3-13, tờ bản đồ số 18, diện tích 88.015,6 m²; thửa 3-13a, tờ bản đồ số 18, diện tích 72,6 m²) thuộc một phần thửa đất số 3, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre (có họa đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo).
Buộc ông Trịnh Văn T có nghĩa vụ tự tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Trịnh Văn T trên phần đất có diện tích 88.088,2 m² để trả lại đất cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B.
Ông Trịnh Văn T được lưu cư trên đất. Thời hạn lưu cư là 03 tháng kể từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
-
Về chi phí tố tụng:
Ông Trịnh Văn T phải chịu chi phí tố tụng là 4.214.000 đồng (Bốn triệu hai trăm mười bốn nghìn đồng). Do Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B đã nộp xong nên ông Trịnh Văn T phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B số tiền 4.214.000 đồng (Bốn triệu hai trăm mười bốn nghìn đồng).
-
Về án phí:
3.1. Án phí sơ thẩm:
Ông Trịnh Văn T phải chịu án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng do ông Trịnh Văn T là người cao tuổi nên được miễn án phí.
Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) do Nguyễn Thị Hồng L và Nguyễn Thị Kim H3 nộp thay theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000859 ngày 18/11/2022 và 0005614 ngày 18/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
3.2. Án phí phúc thẩm:
Ông Trịnh Văn T phải chịu án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng do ông Trịnh Văn T là người cao tuổi nên được miễn án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phan Thanh Tòng |
Bản án số 486/2023/DS-PT ngày 25/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 486/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B - Trịnh Văn T - Kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất
