Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 485/2024/DS-PT

Ngày 02 – 7 – 2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tuấn.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú.

Ông Lê Hoàng Tấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hừng – Kiểm sát viên.

Vào các ngày 25 tháng 6 và 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 57/2024/TLPT-DS ngày 19/01/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 595/2024/QĐ-PT ngày 04/3/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  1. Bà Lê Thị Thu A, sinh năm 1966;
  2. Anh Trần Công L, sinh năm 1988;
  3. Chị Trần Kim C, sinh năm 1991;
  4. Anh Trần Công L1, sinh năm 1993;
  5. Anh Trần Công C1, sinh năm 1995;

Cùng địa chỉ: Khu phố D, phường A, Tp ., Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn:

- Ông Dương Hoàng H, sinh năm 1977; địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

- Ông Phạm Hùng Đ, sinh năm 1954; địa chỉ: I đường Đ, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn: Ông Đặng Quang H1, Luật sư thuộc Công ty L3, Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

2. Bị đơn:

  1. Ông Huỳnh Ngọc Q, sinh năm 1954; địa chỉ: B S Heights Blvd A 1993, H, TX G, USA.

Người đại diện ủy quyền của ông Q:

- Ông Đào Quốc V, sinh năm 1978; địa chỉ: Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

- Bà Huỳnh Thị Bích T, sinh năm 1997; địa chỉ: Tổ A, khóm H, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).

  1. Công ty TNHH T3 (tên viết tắt: NEW WIND CO.LTD); địa chỉ trụ sở: 93 đường L, phường B, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Bích L2 – Giám đốc; địa chỉ: Cliffview Mansion Flat A, 19 Conduit R, HongKong.

Người đại diện theo ủy quyền của NEW WIND CO.LTD:

- Ông Đào Quốc V, sinh năm 1978; địa chỉ: Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

- Bà Huỳnh Thị Bích T, sinh năm 1997; địa chỉ: Tổ A, khóm H, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Văn H2, sinh năm 1962; địa chỉ: Khu phố D, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
  2. Bà Nguyễn Trần Tuyết N, sinh năm 1953; địa chỉ: 2 N, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Đào Quốc V, sinh năm 1978; địa chỉ: Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

  1. Công ty TNHH N1; địa chỉ: Tổ H, khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh T1 – Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ Thành H3, sinh năm 1981; địa chỉ: Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

4. Người kháng cáo:

Bà Lê Thị Thu A, anh Trần Công L, chị Trần Kim C, anh Trần Công L1 và anh Trần Công C1, là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn (bà Lê Thị Thu A, anh Trần Công L, chị Trần Kim C, anh Trần Công L1, anh Trần Công C1) và người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Quyền sử dụng đất diện tích 7.395m² (thửa số 52, tờ bản đồ số 01, xã A), chồng bà A là ông Trần Công K được cha nuôi là cụ Trần Ký T2 cho khoảng năm 1987. Gia đình bà A làm nhà ở trên thửa đất này được 7, 8 năm thì chuyển đi ở nơi khác. Năm 2004, hộ ông K (gồm 06 người: ông Trần Công K, bà Lê Thị Thu A, anh Trần Công L, chị Trần Kim C, anh Trần Công L1 và anh Trần Công C1) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất đối với thửa đất số 52, tờ bản đồ 01, thị trấn A, huyện P, tỉnh Kiên Giang. Quá trình sử dụng đất, ông K có cho em của ông là Trần Văn H2 mượn GCNQSD đất.

Năm 2009, ông K chết, gia đình phát hiện thửa đất trên đã được chuyển nhượng cho ông Huỳnh Ngọc Q, đại diện cho Công ty TNHH T3 (gọi tắt là Công ty T3) theo hợp đồng chuyển nhượng có xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn A vào ngày 20/12/2004. Nội dung hợp đồng này ghi ông K chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Q với giá 887.400.000 đồng, nhưng thật sự ông K không ký tên trong hợp đồng này mà do ông Trần Văn H2 (con của cụ T2, em của ông K) giả mạo chữ ký của ông K để bán đất.

Năm 2020, gia đình bà A yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh K tiến hành trưng cầu giám định chữ ký của ông K trên hợp đồng chuyển nhượng ngày 20/12/2004 và đã có kết quả xác định không phải chữ ký của ông K. Hiện nay, Công ty T3 đang bao chiếm, làm tường rào, không cho gia đình bà A sử dụng thửa đất trên. Vì vậy, Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 20/12/2004 giữa ông Trần Công K với ông Huỳnh Ngọc Q;
  2. Buộc Công ty T3 tháo dỡ toàn bộ hàng rào và chấm dứt việc bao chiếm đất trái phép, trả lại thửa đất số 52, tờ bản đồ 01, diện tích 7.395m² cho Nguyên đơn.

Bị đơn Công ty T3 có yêu cầu phản tố và bị đơn ông Huỳnh Ngọc Q do người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Nguyễn Phú H4 trình bày:

Ngày 20/12/2004, ông Huỳnh Ngọc Q là đại diện của Công ty T3 có ký hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Trần Công K, diện tích 7.395m², thửa số 52, tờ bản đồ số 01, thị trấn A, huyện P (nay là phường A, thành phố P), tỉnh Kiên Giang theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

đã được Ủy ban nhân dân thị trấn A chứng thực ngày 20/12/2004. Công ty T3 đã thanh toán đủ tiền cho gia đình ông K và đã được bàn giao đất cùng bản chính GCNQSD đất. Công ty đã quản lý, sử dụng đất tranh chấp cho đến nay. Do đó, Bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, đồng thời có yêu cầu phản tố: Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn thì yêu cầu bà Lê Thị Thu A, anh Trần Công L, chị Trần Kim C, anh Trần Công L1 và anh Trần Công C1 phải hoàn trả cho Công ty số tiền nhận chuyển nhượng là 887.400.000 đồng và bồi thường cho Công ty số tiền chênh lệch giá đất là 50.877.600.000 đồng.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/6/2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn H2 trình bày:

Nguồn gốc diện tích đất đang tranh chấp giữa các bên đương sự do cha của ông là cụ Trần Ký T2 khai hoang từ năm 1975. Năm 1986, cụ T2 cho ông sử dụng, đến khoảng năm 1995 thì ông cho lại ông K để xây dựng nhà tạm. Vợ chồng ông K ở được khoảng 02 năm thì dỡ nhà đi nơi khác. Từ năm 1997 đến khi chuyển nhượng cho Công ty T3 vào năm 2004 thì diện tích đất tranh chấp bỏ trống, không ai sử dụng. Có sự việc ông K nợ của ông số tiền ông bỏ ra để mua ghe cho ông K là 08 chỉ vàng (chỉ nói miệng, không làm giấy tờ) nhưng ông K không bán diện tích đất tranh chấp cho ông để trừ nợ, mà ông K chuyển nhượng trực tiếp cho Công ty T3 hoặc Công ty N1 thì ông không nhớ rõ. Tại Biên bản hòa giải ngày 12/01/2012 của Ủy ban nhân dân thị trấn A ông có tham gia và ký tên. Việc tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn thì ông không liên quan gì, cũng không có ý kiến hay yêu cầu giải quyết vấn đề gì trong vụ án này.

Tại văn bản trình bày ý kiến và đơn đề ngày 30/8/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Trần Tuyết N trình bày:

Bà là vợ ông Huỳnh Ngọc Q, thống nhất với ý kiến của ông Q, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2023/DS-ST ngày 29/9/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã quyết định (tóm tắt):

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lê Thị Thu A, anh Trần Công L, chị Trần Kim C, anh Trần Công L1 và anh Trần Công C1 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đòi tài sản là quyền sử dụng đất” đối với bị đơn là ông Huỳnh Ngọc Q, Công ty TNHH T3 (yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi bên chuyển nhượng đất ông Trần Công K và bên nhận chuyển nhượng đất ông Huỳnh Ngọc Q, được UBND thị trấn A công chứng ngày 20/12/2004; buộc Công ty TNHH T3 tháo dỡ toàn bộ hàng rào và chấm dứt việc bao chiếm đất trái phép, trả lại toàn bộ diện tích thửa đất số 52, tờ bản đồ 01, thị trấn A, huyện P, tỉnh Kiên Giang cho Nguyên đơn).
  1. Chấp nhận ý kiến phản bác của bị đơn ông Huỳnh Ngọc Q và Công ty TNHH T3 về việc không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
  2. Ghi nhận ý kiến của bị đơn ông Huỳnh Ngọc Q và Công ty TNHH T3 về việc trong trường hợp không tuyên hợp đồng vô hiệu thì cũng không yêu cầu công nhận hợp đồng này vì hiện nay đất tranh chấp do bị đơn quản lý, sử dụng, nằm trong dự án của Công ty TNHH T3.
  3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty TNHH T3.
  1. Không buộc bà Lê Thị Thu A, anh Trần Công L, chị Trần Kim C, anh Trần Công L1 và anh Trần Công C1 phải hoàn trả cho Công ty T3 số tiền nhận chuyển nhượng là 887.400.000 đồng và bồi thường số tiền chênh lệch trị giá đất là 50.877.600.000 đồng.
  2. Bị đơn Công ty TNHH T3 được tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích đất 7.395m² (đo dạc thực tế 6.888,8m²) nằm trong GCN QSDĐ số AA 017503, thửa đất số 52, tờ bản đồ số 01, diện tích 7.395m², do UBND huyện P cấp ngày 27/9/2004 cho hộ ông (bà) Trần Công K đứng tên, đất tọa lạc tại ấp D, thị trấn A, huyện P (nay là phường A, thành phố P), tỉnh Kiên Giang (theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/4/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang; Tờ trích đo số: 148 – 2021 ngày 18/6/2021 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P, tỉnh Kiên Giang).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng khác, án phí, quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo.

Ngày 13/10/2023, nguyên đơn là bà Lê Thị Thu A, anh Trần Công L, chị Trần Kim C, anh Trần Công L1 và anh Trần Công C1 làm đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/12/2004 giữa ông Trần Công K với ông Huỳnh Ngọc Q, buộc Công ty T3 tháo dỡ toàn bộ hàng rào, trả lại cho Nguyên đơn thửa đất số 52, tờ bản đồ số 01, phường A, diện tích 7.395m².

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm không triệu tập UBND xã A tham gia tố tụng là vi phạm thủ tục tố tụng; thu thập chứng cứ không đầy đủ nên giải quyết vụ án không đúng, đề nghị hủy bản án sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Biên bản hòa giải năm 2007 là tài liệu phô tô để giải quyết vụ án là không đúng; đất tranh chấp cấp cho

hộ gia đình ông Trần Công K nhưng chưa xem xét đến quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong hộ; những mâu thuẫn trong lời khai của đương sự chưa được đối chất làm rõ nên đề nghị hủy Bản án sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn Kháng cáo của nguyên đơn là bà Lê Thị Thu A, anh Trần Công L, chị Trần Kim C, anh Trần Công L1 và anh Trần Công C1 làm trong hạn luật định và hợp lệ nên chấp nhận.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, thấy rằng: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/12/2004 đối với thửa đất số 52, tờ bản đồ số 01, thị trấn A, diện tích 7.395m² thể hiện bên chuyển nhượng là ông Trần Công K, bên nhận chuyển nhượng là ông Huỳnh Ngọc Q. Tuy nhiên, sau khi ông K chết, phía nguyên đơn là vợ và các con ông K không thừa nhận ông K có ký hợp đồng trên và có yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết họ và tên của ông K. Kết luận giám định thể hiện chữ ký và chữ viết họ tên Trần Công K trong bản hợp đồng không phải do ông K ký và viết ra. Quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, ông Q khai, ông không chứng kiến việc ông K ký hợp đồng mà chỉ biết hợp đồng này đã được chứng thực theo quy định của pháp luật.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của ông Q khai, ông H2 là người đứng ra ký hợp đồng với ông Q, nhưng thửa đất do ông K đứng tên GCNQSD đất nên ghi tên ông K vào bản hợp đồng; ông H2 nói nhờ ông K hỗ trợ ký hợp đồng cho ông Q nên sau khi ông Q ký tên vào bản hợp đồng tại UBND xã A rồi ra về, ông Q không biết ông K hay người khác ký thay tên ông K vào bản hợp đồng. Như vậy, không có cơ sở xác định ông K có ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Q thửa đất nêu trên nên cũng không cần thiết đưa UBND phường A vào tham gia tố tụng để làm rõ việc chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông K với ông Q (đại diện cho Công ty T3) theo đề nghị của phía nguyên đơn. Quá trình giải quyết vụ án, ông H2 thừa nhận ông có ký chuyển nhượng phần đất của ông cho ông Q, nhưng không thừa nhận có chuyển nhượng thửa đất tranh chấp cho ông Q.

[4] Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, thì ông Trần Công K là con nuôi của cụ Trần Ký T2. Nguồn gốc thửa đất tranh chấp do cụ T2 khai hoang trước năm 1975, rồi giao cho con ruột là ông Trần Văn H2 quản lý sử dụng từ năm 1986. Khoảng từ năm 1987 đến năm 1990, theo yêu cầu của cụ T2, ông H2 cho ông K phần đất tranh chấp để làm ăn và ông K được cấp GCNQSD đất (Giấy xanh) vào ngày 29/12/1994. Cũng trong năm này, ông K vay tiền của ông H2 để mua ghe và ngư lưới cụ làm nghề biển (số tiền quy ra vàng khoảng 07 chỉ loại 24k). Tại Biên bản hòa giải ngày 14/6/2007 của Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn A – bút lục số 249, 250 (mặc dù không còn bản gốc

nhưng trong Biên bản hòa giải số 01/BB-HGTCĐĐ ngày 12/01/2012 của UBND thị trấn A có nhắc lại biên bản này, và tại Biên bản đối chất ngày 15/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang – Bút lục số 360, 361, ông H2 và bà A – vợ ông K, cũng thừa nhận có sự việc hòa giải tranh chấp đất giữa ông H2 với ông K vào năm 2007), thể hiện lời trình bày của ông K: “Tôi thừa nhận nguyên trước đây tôi có thiếu nợ vợ chồng anh H2 và tôi giao đất để mua ghe làm biển. Tôi thưa anh H2 vì anh H2 không thực hiện lời hứa trước đây là mua cho tôi một khuôn tiện trị giá khoảng 25.000.000đ nhưng đến nay anh H2 không thực hiện......”; lời trình bày của ông H2: “Miếng đất này trước đây là của tôi, tôi nghe cha tôi cắt bớt ra cho anh K 1 phần vì lúc đó anh K là con nuôi của gia đình. Sau khi nhận đất nhưng anh K không canh tác và chuyển nhượng lại cho tôi, vì chỗ gia đình nên không làm giấy tờ...”. Ngoài ra, biên bản này còn có nội dung do ông H2 không thực hiện lời hứa nên ông K đòi lại đất hoặc yêu cầu ông H2 cho ông 200.000.000 đồng, ông H2 chỉ đồng ý thực hiện theo lời hứa ban đầu là hỗ trợ cho ông K một khuôn tiện trị giá khoảng 25 đến 30.000.000 đồng. Tại Biên bản hòa giải số 01 nêu trên, ông H2 khai: “vụ việc trên đã được hòa giải, căn cứ biên bản hòa giải, bên ông Trần Công K đã thừa nhận có nợ tôi và gán đất trả nợ cho tôi;...”. Tại Biên bản đối chất ngày 15/8/2023, bà A khai: “Năm 2007 giữa ông K và ông H2 có tranh chấp tại UBND thị trấn A, có mời 2 bên lên để hòa giải. Ông K về có kể cho tôi nghe là hòa giải không thành, đòi lại đất đã chuyển nhượng cho ông H2 nhưng đòi lại cụ thể thửa đất nào thì tôi không biết".

[5] Trong thực tế, sau khi được cấp GCNQSD đất (Giấy xanh) năm 1994, ông K đã giao giấy này cho ông H2, đồng thời dọn nhà đi nơi khác để giao đất cho ông H2 quản lý. Việc gia đình ông K không còn quản lý sử dụng đất từ năm 1995 được bà A thừa nhận tại Biên bản lấy lời khai ngày 29/6/2021 (bút lục số 136). Như vậy, có cơ sở xác định ông K đã chuyển nhượng cho ông H2 thửa đất tranh chấp vì ngoài thửa đất này thì giữa hai bên không có giao dịch về thửa đất nào khác.

[6] Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông K với ông H2 mặc dù không tuân thủ quy định về hình thức của hợp đồng theo quy định tại Điều 707 của Bộ luật Dân sự năm 1995, nhưng việc tranh chấp xảy ra sau ngày 01/7/2004 nên theo hướng dẫn tại điểm b.2 tiểu mục 2.3 mục 2 Phần II của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về “hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình”, thì hợp đồng này được công nhận có hiệu lực.

[7] Đối với GCNQSD đất năm 2004 thể hiện thửa đất số 52 được cấp cho hộ gia đình ông K, nhưng xét nguồn gốc đất do ông K được tặng cho chứ không phải do Nhà nước giao khoán cho hộ gia đình hoặc do các thành viên trong hộ đóng góp tài sản để tạo lập. Điều này được thể hiện tại GCNQSD đất cấp cho cá nhân ông K vào ngày 29/12/1994. Việc cấp đổi (sổ xanh thành sổ đỏ) vào năm 2004 ghi chủ thể hộ là thực hiện theo mẫu giấy chứng nhận chứ hồ sơ đăng ký

(bút lục từ số 175 đến số A) thể hiện việc đăng ký và quyết định cấp quyền sử dụng đất là của cá nhân ông Trần Công K. Mặt khác, tại Biên bản hòa giải số 01 nêu trên, bà A cho rằng, quyền sử dụng đất tranh chấp là tài sản chung của vợ chồng; bà không tham gia giao dịch với ông H2 nên yêu cầu trả lại cho bà 50% diện tích đất tranh chấp. Như vậy, có cơ sở để xác định thửa đất số 52 không phải là tài sản của hộ gia đình.

[8] Đối với ý kiến của bà A cho rằng thửa đất số 52 là tài sản chung của vợ chồng, như phân tích ở đoạn [7], thửa đất này ông K được tặng cho riêng và được cấp quyền sử dụng đất cho cá nhân ông K. Giả sử có việc ông K tự nguyện nhập thửa đất trên vào khối tài sản chung của vợ chồng, thì trường hợp này bà A cũng đã biết việc chuyển nhượng giữa ông K với ông H2; tiền chuyển nhượng được phục vụ cho kinh tế gia đình nên theo Án lệ số 04/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xem như bà A đã đồng ý với việc chuyển nhượng nêu trên.

[9] Về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H2 với ông Q, quá trình giải quyết vụ án, ông H2 cho rằng ông có chuyển nhượng cho ông Q các thửa đất khác chứ không chuyển nhượng thửa đất tranh chấp, nhưng theo hồ sơ giải quyết tin báo, tố giác tội phạm của Công an tỉnh K, bà A tố cáo ông H2 đã giả mạo chữ ký của ông K bán đất cho ông Q, chiếm đoạt số tiền bán đất 887.400.000 đồng (bút lục số 213, 214); sau khi phát hiện việc bán đất, ông K đã làm đơn tranh chấp gửi UBND thị trấn A nhưng kết quả hòa giải không thành. Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/11/2020 của bà A cũng thể hiện ông H2 giả mạo chữ ký của ông K bán đất cho ông Q. Mặt khác, tại Biên bản lấy lời khai ngày 29/6/2021 (bút lục số 136), bà A trình bày, năm 2006-2007, ông K phát hiện ông H2 bán thửa đất tranh chấp cho Công ty N1, sau đó Công ty N1 bán lại cho Công ty T3 nên xảy ra tranh chấp; từ khi ông H2 bán đất thì gia đình bà không dám đến khu đất tranh chấp nữa. Như vậy, có cơ sở xác định ông K, bà A biết sự việc ông H2 đứng ra chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất tranh chấp cho ông Q (đại diện cho Công ty N1), đồng thời ngay sau khi chuyển nhượng thì bên nhận chuyển nhượng đã được giao đất để quản lý sử dụng, gia đình bà A không còn sử dụng đất nữa.

[10] Mặc dù ông H2 không thừa nhận có việc chuyển nhượng đất tranh chấp cho ông Q, nhưng từ lời khai của bà A và người đại diện hợp pháp của ông Q cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định ông H2 là người đứng ra chuyển nhượng đất tranh chấp cho ông Q. Tuy nhiên, giữa ông H2 với ông Q không tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng, cũng như giữa ông Q với Công ty N1 và giữa Công ty N1 với Công ty T3 không tranh chấp về quyền sử dụng đất nêu trên nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là phù hợp. Ngoài ra, quan hệ giữa Công ty N1 với Công ty T3 được xác định đều là các công ty con thuộc tổ hợp Công ty của gia đình bà Trần Bích L2 (giám đốc Công ty T3) nên khi ông Q đại diện cho Công ty N1 nhận chuyển nhượng thửa đất số 52 thì Công ty N1 giao thửa đất này lại cho Công ty T3 để làm thủ tục chuyển

nhượng (Văn bản số 77/CV-NH ngày 10/5/2024 của Công ty TNHH N1). Do đó, mặc dù lời khai của các đương sự không thống nhất về chủ thể nhận chuyển nhượng (khi thì ông Q, khi thì Công ty N1 và khi thì Công ty T3) nhưng thực chất chỉ là một chủ thể thống nhất về quyền lợi, không có tranh chấp.

[11] Xét thấy, ông K đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất tranh chấp cho ông H2; giữa ông K với ông Q (hay Công ty T3) không có quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất tranh chấp nên sau khi ông K chết, những người thừa kế của ông K khởi kiện yêu cầu ông Q và Công ty T3 trả lại quyền sử dụng đất tranh chấp là không có cơ sở để chấp nhận.

[12] Đối với việc ông H2 hứa hỗ trợ cho ông K một khuôn tiện để làm ăn, nhưng ông H2 chưa thực hiện. Đây là một quan hệ dân sự khác nên những người thừa kế của ông K có quyền yêu cầu ông H2 thực hiện lời hứa hoặc khởi kiện ông H2 theo quy định của pháp luật.

[13] Từ những phân tích và nhận định trên, thấy rằng, mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm nhận định chưa chính xác về nội dung vấn đề tranh chấp giữa các bên, nhưng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn đối với Bị đơn là có căn cứ pháp luật.

[14] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn và quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa không phù hợp với nhận định trên nên không có cơ sở để chấp nhận.

[15] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[16] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của Nguyên đơn không được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận nên Nguyên đơn phải chịu án phúc phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự,

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là bà Lê Thị Thu A, anh Trần Công L, chị Trần Kim C, anh Trần Công L1 và anh Trần Công C1. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2023/DSST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Áp dụng Điều 707 của Bộ luật Dân sự năm 1995; điểm b.2 tiểu mục 2.3 mục 2 Phần II của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình; Nghị Quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lê Thị Thu A, anh Trần Công L, chị Trần Kim C, anh Trần Công L1 và anh Trần Công C1 đối với bị đơn là ông Huỳnh Ngọc Q và Công ty TNHH T3 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đòi tài sản là quyền sử dụng đất” đối với thửa đất số 52, tờ bản đồ 01, diện tích 7.395m² (đo đạc thực tế diện tích là 6.888,8m²), thị trấn A, huyện P (nay là phường A, thành phố P), tỉnh Kiên Giang.

Công ty TNHH T3 được tiếp tục quản lý, sử dụng thửa đất số 52, tờ bản đồ số 01, thị trấn A, huyện P (nay là phường A, thành phố P), tỉnh Kiên Giang, diện tích đất 7.395m² (đo đạc thực tế diện tích là 6.888,8m²) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 017503, do UBND huyện (nay là thành phố) Phú Quốc cấp ngày 27/9/2004 cho hộ ông Trần Công K (theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 13/4/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang).

  1. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  2. Án phí phúc thẩm:

Bà Lê Thị Thu A, anh Trần Công L, chị Trần Kim C, anh Trần Công L1 và anh Trần Công C1 mỗi người phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mỗi người đã nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo các biên lai số 0003856, 0003857, 0003858, 0003859 và 0003860 cùng ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang. Bà A, anh L, chị C, anh L1 và anh C1 đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Kiên Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (NTV).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 485/2024/DS-PT ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 485/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger