|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 485/2025/DS-PT Ngày 09 - 12 - 2025 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Trung
Các Thẩm phán: Bà Giang Thị Cẩm Thuý
Ông Trần Minh Tân
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Màu - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 và ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 333/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2025/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 403/2025/QĐ-PT ngày 15 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.
Trụ sở: Tầng 1 (tầng trệt) và tầng 2, Tòa nhà S - A đường P, phường S, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V – chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền:
- + Ông Hà Phương T – Cán bộ Ngân hàng (có mặt tại phiên tòa ngày 18 tháng 11, vắng mặt tại phiên tòa ngày 09 tháng 12).
- + Ông Phạm Văn P – Cán bộ Ngân hàng (vắng mặt tại phiên tòa ngày 18 tháng 11, có mặt tại phiên tòa ngày 09 tháng 12).
Cùng địa chỉ: Số A khu A, đường Q, Trung tâm Thương mại P3, khu V, phường H, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn:
- Ông Lâm Quốc Đ, sinh năm 1980 (vắng mặt).
- Bà Hoàng Ngọc H, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp T, phường H, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Bùi Văn T1, sinh năm 1962 (vắng mặt).
- Bà Lâm Thị Trúc P1, sinh năm 1970 (vợ ông T1).
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp của bà P1: Ông Huỳnh Thanh T2, sinh năm 1985; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (Theo văn bản uỷ quyền ngày 28 tháng 7 năm 2025, có mặt).
- Bà Bùi Thị Huỳnh M, sinh năm 1996 (vắng mặt).
- Bà Bùi Thị Nga M1, sinh năm 1994 (vắng mặt).
- Chị Lâm Tâm N, sinh năm 2006 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Cẩm P2, sinh năm 1981 (vắng mặt).
- Ông Lâm Quốc T3, sinh năm 1975 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo:
- + Ngân hàng Thương mại cổ phần Q là nguyên đơn.
- + Bà Lâm Thị Trúc P1, ông Lâm Quốc T3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào năm 2024, ông Lâm Quốc Đ và bà Hoàng Ngọc H ký kết với Ngân hàng Thương mại cổ phần Q – chi nhánh C 02 hợp đồng tín dụng số 2428401.22 ngày 07/01/2022, số tiền vay là 3.000.000.000 đồng; mục đích vay: bổ sung vốn kinh doanh mua bán; thời hạn vay là 24 tháng; lãi suất cho vay: Lãi suất điều chỉnh quy định cụ thể trên từng thời kỳ và hợp đồng tín dụng số 5427320.22 ngày 17/01/2022, số tiền vay là 2.000.000.000 đồng, mục đích vay: Chuyển nhượng bất động sản; thời hạn vay là 240 tháng; lãi suất cho vay: Lãi suất điều chỉnh quy định cụ thể trên từng thời kỳ.
Ngày 24/12/2021, ông Lâm Quốc Đ ký giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng.
Để đảm bảo cho các khoản vay theo các hợp đồng cho vay thì ông Bùi Văn T1 và bà Lâm Thị Trúc P1 đã ký hợp đồng thế chấp số 9987026.22.642 ngày 07/01/2022, thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP822986 do Ủy ban
nhân dân huyện Đ, tỉnh Cà Mau cấp ngày 26/11/2009 đứng tên Bùi Văn T1, cập nhật tặng cho 50% quyền sử dụng đất cho Lâm Thị Trúc Phương ngày 05/01/2022, đối với thửa đất số 203, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Đ và bà H vẫn không có thiện chí trả nợ.
Nay Ngân hàng yêu cầu ông Lâm Quốc Đ và bà Hoàng Ngọc H thanh toán tổng số tiền vay còn nợ tính đến ngày 18/7/2025 là 5.996.156.727 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ theo lãi suất quy định tại các hợp đồng tín dụng.
Trường hợp, ông Đ và bà H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ của Ngân hàng, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp do Bùi Văn T1 và Lâm Thị Trúc P1 đã ký kết để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Bùi Văn T1 và bà Lâm Thị Trúc P1 trình bày:
Vợ chồng ông T1 và bà P1 cho vợ chồng ông Đ và bà H mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp ngân hàng đảm bảo cho các khoản vay tại Ngân hàng. Vợ chồng ông T1 và bà P1 đồng ý bàn giao tài sản thế chấp và đề nghị Tòa án xem xét giữ lại phần nhà mồ và nền nhà.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2025/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau quyết định:
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Q đối với vợ chồng ông Lâm Quốc Đ và bà Hoàng Ngọc H về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Buộc vợ chồng ông Lâm Quốc Đ và bà Hoàng Ngọc H có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền vay còn nợ tính đến ngày 18/7/2025 với số tiền là 5.996.156.727 đồng, bao gồm:
- - Tổng số tiền vay còn nợ theo hợp đồng cho vay số 2428401.22 với số tiền là 3.656.942.621 đồng; trong đó: nợ gốc là 3.000.000.000 đồng, nợ tiền lãi là 656.942.621 đồng.
- - Tổng số tiền vay còn nợ theo hợp đồng cho vay số 5427320.22 với số tiền là 2.230.524.561 đồng; trong đó: nợ gốc là 3.000.000.000 đồng, nợ tiền lãi là 230.524.561 đồng.
- - Tổng số tiền còn nợ của thẻ tín dụng theo giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng với số tiền là 108.689.545 đồng; trong đó: nợ gốc là 43.348.658 đồng, nợ tiền lãi là 60.000.000 đồng.
Từ ngày 19/7/2025, ông Lâm Quốc Đ và bà Hoàng Ngọc H còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định trong các hợp đồng cho vay đến khi thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp, ông Lâm Quốc Đ và bà Hoàng Ngọc H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý đối với tài sản đảm bảo và các tài sản khác trên tài sản đảm bảo theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 9987026.22.642 được ký kết giữa ông Bùi Văn T1 và bà Lâm Thị Trúc P1 với Ngân hàng để thu hồi nợ của 02 hợp đồng tín dụng nêu trên.
Không xử lý phát mại tài sản đối với phần diện tích đất có mồ mả (chiều ngang 6,4m và chiều dài 8,4m) và đường vào khu vực nhà mồ (chiều ngang 02m chiều dài từ nhà mồ đến lộ Cà Mau - Đ, vị trí giáp với phần đất bà Nguyễn Thị H1).
- Đối với ông Bùi Văn T1, bà Lâm Thị Trúc P1, bà Bùi Thị Huỳnh M, bà Bùi Thị Nga M1, chị Lâm Tâm N, bà Nguyễn Thị Cẩm P2, ông Lâm Quốc T3 có trách nhiệm di dời tài sản của mình và trả lại tài sản thế chấp, để bảo đảm cho công tác thi hành án
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 31/7/2025, ông Lâm Quốc T3 có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm. Yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng không đồng ý di dời nhà trả đất để thi hành án.
Ngày 31/7/2025, bà Lâm Thị Trúc P1 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận nghĩa vụ bảo đảm của bà đối với khoản vay 2 tỷ đồng.
Ngày 01/8/2025, Ngân hàng TMCP Q có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Lâm Thị Trúc P1 là ông Huỳnh Thanh T2 tranh luận: Yêu cầu để lại nhà mộ và đường từ nhà mộ đi ra đường cho bà P1 và yêu cầu xem xét hợp đồng thế chấp đối với số tiền 2.000.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Lâm Quốc T3 tranh luận: Ông không đồng ý giao nhà để thi hành án.
Người đại diện của N1 tranh tranh luận: Không tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP Q, bà Lâm Thị Trúc P1, ông Lâm Quốc T3. Sửa một phần bản án sơ thẩm số 26/2025/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của bà Lâm Thị Trúc P1, ông Lâm Quốc T3, Ngân hàng TMCP Q, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà P1 kháng cáo cho rằng, bà chỉ ký hợp đồng thế chấp số: 9987026.642 ngày 07/01/2022 đảm bảo cho hợp đồng tín dụng số 2428401.22 với số tiền 3.000.000.000 đồng. Ngày 17 tháng 01 năm 2022, Ngân hàng cho ông Đ vay thêm 2.000.000.000 đồng, bà không có ký hợp đồng thế chấp tài sản nên không đồng ý bảo lãnh số tiền 2.000.000.000 đồng và yêu cầu sửa án sơ thẩm không chấp nhận nghĩa vụ thế chấp đối với khoản vay 2.000.000.000 đồng. Xét thấy, Hợp đồng thế chấp số 9987026.22 ngày 07/01/2022 giữa ông T1, bà P1 với Ngân hàng TMCP Q được công chứng tại Văn phòng C1 và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ là hợp pháp. Tại Hợp đồng thế chấp số 9987026.22 ngày 07/01/2022, ông T1, bà P1 đồng ý thế chấp cho Ngân hàng TMCP Q phần đất diện tích 14.575m² thuộc thửa 203 tờ bản đồ số 01, toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AP 822986, vào số cấp GCN số H 0231; 1072 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 26/11/2009. Tại điểm (i) khoản 2.1 có nội dung: “Các khoản nợ gốc, lãi, phí, tiền phạt và các khoản phải trả khác theo Hợp đồng tín dụng số 2428401.22 ký ngày 07 tháng 01 năm 2022 (bao gồm cả các phụ lục, văn bản sửa đổi) và các Hợp đồng/thoả thuận cấp tín dụng khác (bao gồm cả các phụ lục, văn bản sửa đổi) ký giữa Bên A và Bên C kể từ sau ngày ký Hợp đồng này...”. Như vậy, theo thỏa thuận trên thì những hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng với ông Đ, bà H sau hợp đồng tín dụng số 2428401.22 ký ngày 07 tháng 01 năm 2022 vẫn được đảm bảo bằng phần đất trên. Do đó, bà P1 kháng cáo cho rằng không có đảm bảo khoản vay 2.000.000.000 đồng là không có căn cứ.
[2] Ông Lâm Quốc T3 kháng cáo không đồng ý di dời tài sản và trả phần đất để đảm bảo cho thi hành án. Vì, gia đình ông T3 đã xây nhà ở trên đất từ năm 2019. Đồng thời, khi Ngân hàng cho vay không thẩm định tài sản trên đất của gia đình ông T3. Xét thấy, tại Biên bản xác minh ngày 09 tháng 01 năm 2025, ông T3 thừa nhận nhà của ông cất trên phần đất mượn của ông T1, bà P1 để ở tạm. Nay đất này đang thế chấp Ngân hàng và Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thì vợ chồng ông T3 đồng ý giao trả đất cho ông T1, bà P1 (Bút lục 93); cũng tại Biên bản phiên toà sơ thẩm, ông T3 đồng ý di dời nhà nhưng xin một số tiền di dời nhà (Bút lục 247).
Như vậy, tại cấp sơ thẩm ông T3 đã thừa nhận ông T3 mượn đất cất nhà ở tạm và thống nhất trả đất cho ông T1, bà P1 nên cấp sơ thẩm buộc ông T3 và vợ con ông T3 di dời nhà là có cơ sở. Việc yêu cầu tiền hỗ trợ di dời nhà thì ông T3 tự thoả thuận với ông T1, bà P1 vì phần đất này của ông T1, bà P1.
[3] Ngân hàng TMCP Q kháng cáo yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất gắn liền với khu mộ và đường đi từ mộ ra tới lộ Cà Mau - Đ và yêu cầu tính vốn, lãi tạm tính đến ngày 31 tháng 7 năm 2025 là 6.014.821.914 đồng gồm: Nợ gốc 4.851.689.658 đồng và nợ lãi 1.163.132.256 đồng. Toàn bộ giá trị tài sản thế chấp thanh toán nợ của Ngân hàng. Trường hợp, tài sản thế chấp không đủ trả nợ thì ông Đ, bà H tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng.
[3.1] Đối với kháng cáo yêu cầu xử lý phần đất gắn liền phần mộ
Xét thấy, tuy ngôi mộ thuộc quyền sử dụng đất đã thế chấp cho Ngân hàng nhưng phần đất mộ và đường đi ra mộ có diện tích nhỏ nên án sơ thẩm tuyên: Không phát mãi phần diện tích đất gắn liền khu mộ và lối đi vào mộ là phù hợp phong tục tập quán địa phương. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm không đo đạc cụ thể diện tích đường đi vào khu mộ và tại giai đoạn phúc thẩm, bà P1 yêu cầu đo đạc cụ thể diện tích lối đi vào khu mộ là cần thiết nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận. Tại Trích đo hiện trạng ngày 06 tháng 12 năm 2025 của Chi nhánh Công ty TNHH T4 thể hiện phần diện tích nền mộ là 53,8m² và phần đường đi vào mộ đến ranh giải phóng mặt bằng 36,1m² nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm về phần này. Việc sửa án sơ thẩm là khách quan do phát sinh mới tại cấp phúc thẩm.
[3.2] Đối với kháng cáo yêu cầu tính vốn lãi đến ngày 31 tháng 7 năm 2025
Xét thấy, Ngân hàng TMCP Q yêu cầu cấp sơ thẩm tính vốn lãi đến ngày 18 tháng 7 năm 2025 nên cấp sơ thẩm đã tính vốn, lãi đến ngày 18 tháng 7 năm 2025 là đúng với yêu cầu của Ngân hàng. Ngoài ra, án sơ thẩm cũng đã tuyên ông Đ, bà H còn phải chịu lãi suất theo hợp đồng tín dụng từ ngày 19 tháng 7 năm 2025 nên quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng được đảm bảo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của Ngân hàng.
[3.3] Đối với kháng cáo yêu cầu toàn bộ giá trị tài sản thế chấp thanh toán nợ của Ngân hàng; trường hợp, tài sản thế chấp không đủ trả nợ thì ông Đ, bà H tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng. Xét thấy, yêu cầu này thuộc thẩm quyền của Cơ quan Thi hành án dân sự nên Toà án không xem xét giải quyết.
[4] Chi phí tố tụng: Bà Lâm Thị Trúc P1 phải chịu 3.703.207 đồng gồm chi phí đo đạc tại cấp phúc thẩm số tiền 2.903.207 đồng và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 800.000 đồng (đã nộp xong).
[5] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP Q, bà Lâm Thị Trúc P1, ông Lâm Quốc T3. Sửa bản án sơ thẩm số 26/2025/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau.
[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng TMCP Q, bà Lâm Thị Trúc P1, ông Lâm Quốc T3 mỗi đương sự phải chịu 300.000 đồng. Mỗi đương sự có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng, được chuyển thu án phí.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q, bà Lâm Thị Trúc P1, ông Lâm Quốc T3.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 26/2025/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q đối với vợ chồng ông Lâm Quốc Đ và bà Hoàng Ngọc H về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Buộc vợ chồng ông Lâm Quốc Đ và bà Hoàng Ngọc H có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q tổng số tiền vay còn nợ tính đến ngày 18/7/2025 với số tiền là 5.996.156.727 đồng, bao gồm:
- - Tổng số tiền vay còn nợ theo hợp đồng cho vay số 2428401.22 với số tiền là 3.656.942.621 đồng; trong đó: nợ gốc là 3.000.000.000 đồng, nợ tiền lãi là 656.942.621 đồng.
- - Tổng số tiền vay còn nợ theo hợp đồng cho vay số 5427320.22 với số tiền là 2.230.524.561 đồng; trong đó: nợ gốc là 3.000.000.000 đồng, nợ tiền lãi là 230.524.561 đồng.
- - Tổng số tiền còn nợ của thẻ tín dụng theo giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng với số tiền là 108.689.545 đồng; trong đó: nợ gốc là 43.348.658 đồng, nợ tiền lãi là 60.000.000 đồng.
Từ ngày 19/7/2025, ông Lâm Quốc Đ và bà Hoàng Ngọc H còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định trong các hợp đồng tín dụng hợp đồng tín dụng số 2428401.22 ngày 07/01/2022, số tiền vay là 3.000.000.000 đồng và hợp đồng tín dụng số 5427320.22 ngày 17/01/2022, số tiền vay là 2.000.000.000 đồng.
Trường hợp, ông Lâm Quốc Đ và bà Hoàng Ngọc H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý đối với tài sản đảm bảo và các tài sản khác trên tài sản đảm bảo theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 9987026.22.642 được ký kết giữa ông Bùi Văn T1 và bà Lâm Thị Trúc P1 với Ngân hàng để thu hồi nợ của 02 hợp đồng tín dụng nêu trên.
Không xử lý phát mại tài sản đối với phần đất khu mộ diện tích 53,8m² được ký hiệu thửa số 1 (tại các điểm 3456) và đường vào khu mộ diện tích 36,1m² được ký hiệu thửa số 2 (tại các điểm 1267) đã trừ diện tích 14,2m² (R).
(Kèm theo Trích đo hiện trạng ngày 06 tháng 12 năm 2025 của Chi nhánh Công ty TNHH T4)
- Đối với ông Bùi Văn T1, bà Lâm Thị Trúc P1, bà Bùi Thị Huỳnh M, bà Bùi Thị Nga M1, chị Lâm Tâm N, bà Nguyễn Thị Cẩm P2, ông Lâm Quốc T3 có trách nhiệm di dời tài sản của mình và trả lại phần đất thế chấp, để bảo đảm cho công tác thi hành án.
- Chi phí tố tụng: Bà Lâm Thị Trúc P1 phải chịu 3.703.207 đồng (đã nộp xong).
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Buộc ông Lâm Quốc Đ và bà Hoàng Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền là 114.000.000 đồng.
- - Ngân hàng Thương mại cổ phần Q có nộp tạm ứng án phí với số tiền 56.698.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0009918 ngày 11 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (Nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 1- Cà Mau), được nhận tại toàn bộ.
-
Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ngân hàng Thương mại cổ phần Q, bà Lâm Thị Trúc P1, ông Lâm Quốc T3 mỗi đương sự phải chịu án phí 300.000 đồng.
Ngày 01 tháng 8 năm 2025, Ngân hàng Thương mại cổ phần Q nộp tạm ứng 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0011815 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được chuyển thu án phí.
Ngày 31 tháng 7 năm 2025, bà P1 nộp tạm ứng 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0011808 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được chuyển thu án phí.
Ngày 31 tháng 7 năm 2025, ông T3 nộp tạm ứng 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0011801 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được chuyển thu án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Trung |
Bản án số 485/2025/DS-PT ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 485/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y Ngân hàng yêu cầu ông Lâm Quốc Đ và bà Hoàng Ngọc H thanh toán tổng số tiền vay còn nợ tính đến ngày 18/7/2025 là 5.996.156.727 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ theo lãi suất quy định tại các hợp đồng tín dụng. Trường hợp, ông Đ và bà H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ của Ngân hàng, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp do Bùi Văn T1 và Lâm Thị Trúc P1 đã ký kết để thu hồi nợ cho Ngân hàng
