Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

Bản án số: 485/2024/HS-PT

Ngày 20/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn

Các Thẩm phán: 1/ Bà Trần Thị Thúy Hồng

2/ Ông Ngô Đức Thọ

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Bà Cao Thị Hạnh, Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong các ngày 13 và 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 686/2023/TLPT-HS ngày 13 tháng 9 năm 2023. Do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 366/2023/HS-ST ngày 07/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo kháng cáo:

Nguyễn Thanh H; giới tính: Nữ; sinh ngày 18/02/1981, tại Hà Nội; nơi đăng ký thường trú: Số H Ngõ A, ngách B phố B, phường N, quận H, Thành phố Hà Nội; Tạm trú: Số F đường số A, khu dân cư K, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh (là Tổng giám đốc Công ty cổ phần C); Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Viết T và bà Nguyễn Thị P (chết); Bị cáo chưa có chồng, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sình năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 29/12/2022 (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trịnh Bá T1, Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt).

Người bị hại không kháng cáo:

Công ty TNHH V; Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Tấn T2, Giám đốc Cty; Địa chỉ: L - 11 tầng A tòa nhà V L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo:

  1. Công ty cổ phần C; Địa chỉ: E đường số A khu N, T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Đại diện pháp luật: Bà Nguyễn Thanh H; chức vụ: Tổng giám đốc là bị cáo trong vụ án (Có mặt).
  2. Công ty TNHH MTV B; Đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị Thảo N, Giám đốc; Địa chỉ: A L, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Ông Lê Minh T3, sinh năm 1973; Địa chỉ: Căn hộ A chung cư D, A đường N, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Ông Nguyễn Thế S, sinh năm 1989, Địa chỉ: Thôn T, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, vụ án có nội dung như sau:

Công ty Cổ phần C (viết tắt là Công ty C) hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0314066410 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp lần đầu ngày 17/10/2016, thay đổi lần thứ 3 ngày 23/4/2020 có vốn điều lệ 6,8 tỷ đồng, trụ sở tại: E đường số A khu N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, Công ty do Nguyễn Thanh H làm Tổng Giám đốc, đại diện pháp luật.

Ngày 06/7/2020, Nguyễn Thanh H đại diện Công ty C ký hợp đồng mua bán găng tay y tế với ông Trương Tấn T2, Giám đốc, đại diện Công ty TNHH V (viết tắt là Công ty V1). Nội dung hợp đồng thể hiện: “Công ty C bán 5.000 thùng găng tay y tế có nguồn gốc từ kho của Công ty V2 cho Công ty V1, trị giá thanh toán là 9,25 tỷ đồng, điều kiện thanh toán và giao hàng cụ thể: Công ty V1 phải thanh toán 100% giá trị hợp đồng cho Công ty C và trong vòng 24 giờ Công ty C sẽ giao hàng cho Công ty V1, nếu không nhận được hàng đúng hẹn Công ty C buộc phải hoàn trả toàn bộ tiền đã nhận trước 01 giờ sáng ngày 07/7/2020”.

Ngay sau khi ký hợp đồng, trong ngày 06/7/2020, ông Trương Tấn T2 đã chuyển số tiền 9,25 tỷ đồng vào tài khoản số 0181003568031 của Công ty C mở tại Ngân hàng V3. Lập tức sau đó, tài khoản số 0181003568031 của Công ty C thao tác chuyển tiếp 9,8 tỷ đồng vào tài khoản số 1015116131 của ông Lê Minh T3, Giám đốc Công ty TNHH B1, mở tại Ngân hàng M, với nội dung chuyển khoản “thanh toán lô hàng 10.000 thùng găng tay y tế”.

Kết quả điều tra xác định: Sau khi ký hợp đồng thỏa thuận mua bán “10.000 thùng găng tay y tế” với ông Lê Minh T3, Giám đốc Công ty TNHH B, Nguyễn Thanh H đã gặp, thỏa thuận ký hợp đồng và nhận số tiền 9,25 tỷ đồng từ ông Trương Tấn T2, Giám đốc Công ty V1, với mục đích sẽ bán 5.000 thùng găng tay y tế cho ông T2. Số tiền nhận được từ ông T2, H đã chuyển đến tài khoản của ông Lê Minh T3 và yêu cầu ông T2 liên hệ với ông T3 để nhận hàng.

Do ông Lê Minh T3 không có hàng để giao theo thỏa thuận nên vào các ngày 10/7/2020 và ngày 11/7/2020, ông T3 đã hoàn trả tổng cộng 15,1 tỷ đồng đã nhận từ H để H trả lại cho ông Trương Tấn T2 và một khách hàng khác tên S. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền hoàn trả từ ông T3, Nguyễn Thanh H mặc dù có đủ khả năng nhưng không hoàn trả tiền cho ông T2 mà cố ý sử dụng vào mục đích cá nhân.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Thanh H khai nhận: Ông Trương Tấn T2 là người chủ động đến gặp H để đặt vấn đề mua găng tay y tế. Nguyễn Thanh H thông báo cho ông T2 biết là Công ty C có găng tay để bán cho ông T2 với điều kiện phải thanh toán 100% đơn hàng trước khi nhận hàng. Sau khi thống nhất mua bán, ngày 06/7/2020, H đại diện Công ty C đã ký “Hợp đồng mua bán” nêu trên với ông Trương Tấn T2. Nguồn hàng để bán cho Công ty V1 được Nguyễn Thanh H ký hợp đồng mua của Công ty B1 do ông Lê Minh T3 làm Giám đốc, cụ thể: Nguyễn Thanh H đặt mua 10.000 thùng găng tay y tế của Công ty B1 với tổng giá trị 17,1 tỷ đồng, mục đích để bán cho Công ty V1 và bán cho một người tên S (cũng là khách hàng của Công ty C).

Sau khi ông T2, ông S chuyển tiền cho Công ty C, Nguyễn Thanh H đã chuyển tổng cộng 17,1 tỷ đồng vào tài khoản của Công ty B1 để thanh toán mua găng tay. Sau đó, Nguyễn Thanh H nói với ông T2, ông S liên hệ với ông T3 để nhận hàng. Tuy nhiên, do ông Lê Minh T3 không có hàng để giao cho Trương Tấn T2 và ông S, nên H đã yêu cầu ông T3 hoàn trả tiền, nhưng ông T3 chỉ mới hoàn trả 15,1 tỷ đồng cho H, còn lại 02 tỷ đồng chưa trả. Số tiền 15,1 tỷ đồng nhận được từ ông T3, H sử dụng để trả nợ vay và trả lương cho nhân viên.

Ngoài ra, Nguyễn Thanh H trình bày có ký ủy nhiệm chi để chuyển 6,25 tỷ đồng hoàn trả lại cho Công ty V1. Nhưng kết quả xác minh tại Ngân hàng M được biết: Ngày 11/7/2020, Nguyễn Thanh H có ký một ủy nhiệm chi đề nghị ngân hàng chuyển 6,25 tỷ đồng từ tài khoản của Công ty C vào tài khoản của Công ty V1, nhưng do ủy nhiệm chi ghi sai số tài khoản Công ty C, nên Ngân hàng M không thực hiện chuyển tiền và đã thông báo cho đại diện Công ty C biết và Công ty C không tiếp tục thực hiện giao dịch chuyển tiền cho Công ty V1. Tuy nhiên, ủy nhiệm chi do Nguyễn Thanh H cung cấp cho Cơ quan điều tra lại đúng số tài khoản, qua đó thể hiện sự gian dối của Nguyễn Thanh H.

Ông Trương Tấn T4, Giám đốc Công ty V1 khai: Thông qua mối quan hệ xã hội, ông T4 tự tìm đến Công ty C để gặp Nguyễn Thanh H và được H cam kết có găng tay y tế để bán cho ông T4. Tin tưởng Nguyễn Thanh H nên ngày 06/7/2020 ông T4 đã đại diện Công ty V1 ký hợp đồng mua 5.000 thùng găng tay y tế với Nguyễn Thanh H. Ngay sau khi ký hợp đồng, Công ty V1 đã chuyển tổng số tiền 9,25 tỷ đồng vào tài khoản của Công ty C.

Ngày hôm sau, Nguyễn Thanh H nói ông T4 đến kho của Công ty V2 ở Bình Dương và liên hệ ông Lê Minh T3, Giám đốc Công ty 2TP để nhận hàng, ông T4 nhiều lần liên hệ với ông T3, H để nhận hàng nhưng đều được thông báo đang sắp xếp hàng để giao, sau đó thì H không thực hiện giao hàng, không hoàn trả tiền như cam kết trong hợp đồng.

Khi không giao được hàng thì ông T3 đã hoàn trả tiền cho Nguyễn Thanh H để H hoàn trả cho ông T4. Ông Lê Minh T3, Giám đốc Công ty B1 khai: Khoảng tháng 3/2020, ông Lê Minh T3 biết Nguyễn Thanh H qua một số đối tác. Nguyễn Thanh H nhờ ông T3 giới thiệu một số nhà cung cấp găng tay y tế để Công ty C mua và ông T3 sẽ được hưởng hoa hồng 90.000đồng/thùng nêu giao dịch thành công. Theo thỏa thuận nêu trên, Công ty C và ông T3 đã ký họp đồng trích thưởng theo số lượng hàng hóa 200.000thùng và 90.000thùng, với điều kiện Công ty C phải chứng minh được tài chính và chuyển tiền cọc cho Công ty B1. Sau khi ký hợp đồng, H không chuyển tiền cọc cho ông T3 nên 02 hợp đồng nêu trên mặc định bị hủy không thực hiện.

Ngày 06/7/2020, H tiếp tục liên hệ với ông T3 để mua găng tay y tế, lần này H đề nghị ký hợp đồng mua 10.000 thùng trị giá 17,1 tỷ đồng và 50.000 thùng trị giá 84 tỷ đồng của Công ty B1. Do 02 lần trước ký kết hợp đồng nhưng không được thực hiện, nên ông T3 yêu cầu H chuyển trước 30% giá trị cho cả 02 hợp đồng (khoảng 30 tỷ đồng) thì mới thực hiện tìm nguồn hàng.

Tối ngày 06/7/2020, H nhiều lần chuyển tổng cộng 17,1 tỷ đồng với nội dung “thanh toán 10.000 thùng găng tay” cho ông T3 và nói số tiền này thanh toán cho hợp đồng 10.000 thùng, còn hợp đồng 50.000 thùng thì H thông báo hủy. Ông T3 được H cho biết số lượng 10.000 thùng găng tay này để Công ty C bán cho ông T4 (Công ty V1) và ông S nêu trên.

Do ông T3 không tìm được nguồn hàng để giao cho Công ty C nên đã hoàn trả lại toàn bộ 17,1 tỷ đồng cho Công ty C bằng cách chuyển 15,1 tỷ đồng vào tài khoản của Công ty C, nhưng sau đó ông Trương Tấn T2, ông S không nhận được tiền hoàn trả từ H nên ông T3 đã chuyển trả trực tiếp 02 tỷ đồng vào tài khoản của ông S, do sợ nếu chuyển tiếp vào tài khoản của H sẽ tiếp tục bị H chiếm đoạt.

Kết quả xác minh tại các đơn vị có liên quan: “Xác minh tài khoản số 0181003568031 của Công ty C mở tại Ngân hàng V3 (tài khoản nhận tiền mua hàng từ Công ty V1):

Ngày 06/7/2020, có khoản tiền 9,25 tỷ đồng chuyển vào với nội dung “Công ty V1 thanh toán 5000 thùng găng tay y tế”. Ngay lập tức sau đó chuyển tiếp số tiền 9,8 tỷ đồng vào tài khoản số 1015116131 của ông Lê Minh T3.

Xác minh tài khoản số 7031195960677 của Công ty C tại Ngân hàng M (tài khoản nhận tiền hoàn trả từ ông Lê Minh T3), có khoản tiền 12,5 tỷ đồng do ông Lê Minh T3 chuyển vào tài khoản như sau:

Ngày 10/7/2020 và ngày 11/7/2020, chuyển 12,5 tỷ đồng vào tài khoản số 7031195960677 của Công ty C tại Ngân hàng M. Theo sao kê tài khoản này thể hiện sau khi ông T3 chuyển tiền vào tài khoản, H đã rút hết tiền ra khỏi tài khoản, cụ thể:

Chuyển 4,2 tỷ đồng đến nhiều tài khoản khác nhau (trong số này không có chuyển cho Công ty V1).

Chuyển 8,3 tỷ đồng vào tài khoản số 19036057210015 của Công ty C mở tại Ngân hàng T5. Theo sao kê tài khoản số 19036057210015 của Công ty C mở tại Ngân hàng T5 thể hiện: khoản tiền 8,3 tỷ đồng nêu trên được Nguyễn Thanh H chuyển đến nhiều tài khoản khác nhau với nội dung chi trả lương nhân viên và thanh toán tiền mua khẩu trang.

Xác minh tài khoản số 8866886 của Công ty C mở tại Ngân hàng A - Chi nhánh N1 (tài khoản nhận tiền hoàn trả từ ông Lê Minh T3), có khoản tiền do ông Lê Minh T3 chuyển vào tài khoản như sau:

Ngày 11/7/2020, chuyển 2,6 tỷ đồng vào tài khoản số 8866886 của Công ty C mở tại Ngân hàng A - Chi nhánh N1. Theo sao kê tài khoản này thể hiện: Sau khi ông T3 chuyển tiền, H đã chuyển khoản đến các tài khoản của các cá nhân khác với nội dung đặt cọc mua hàng cho Công ty C, mà không hoàn trả cho ông Trương Tấn T2.

Tại Bản Cáo trạng số 180/CT-VKS-P3 ngày 27/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, có nội dung:

Truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 366/2023/HS-ST ngày 07/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã tuyên xử:

Áp dụng khoản 4 Điều 175, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 15 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2022.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/8/2021 bị cáo Nguyễn Thanh H làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Bị cáo không có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, xin phúc xử lại giải oan cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo cho rằng cơ quan điều tra bắt bị cáo nhưng không có lệnh bắt, và cũng không biết có lệnh phê chuẩn của Viện kiểm sát, việc bắt bị cáo như trên là không đúng quy định của pháp luật. Bản Cáo trạng đã sao chép toàn bộ Kết luận điều tra vụ án nên không có cơ sở để xác định Viện kiểm sát thực hiện đúng nhiệm vụ của mình, như vậy là không đúng quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra, bị cáo có nộp nhiều tài liệu, chứng cứ nhưng không được xem xét để chứng minh cho bị cáo, trong suốt thời gian giao dịch mua bán bị cáo đã liên lạc trả tiền cũng như mua hàng cho phía người bị hại nhưng không được cấp sơ thẩm xem xét. Bị cáo có hai con còn nhỏ. Hiện nay cũng chưa biết tình trạng của các con như thế nào, bị cáo không liên lạc được với gia đình. Do đó, bị cáo đề nghị xem xét lại giải oan cho bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo cũng thống nhất với yêu cầu của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đối với các lý do mà bị cáo nêu ra, để xem xét lại toàn bộ vụ án và tuyên bố bị cáo không phạm tội.

Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng, hành vi của bị cáo đã thực hiện việc chiếm đoạt số tiền 9.250.000.000đồng của ông T2 sử dụng vào mục đích cá nhân, đến nay chưa thu hồi được, tất cả những tài liệu, chứng cứ bị cáo đưa ra sau khi được thẩm tra thì xác định không có căn cứ để xác định bị cáo bị oan. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục về bắt tạm giam đối với bị cáo nên đúng quy định pháp luật. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, nghe bị cáo trình bày, nghe đại diện Viện kiểm sát và luật sư phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh H làm trong hạn luật định, nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.

[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo của các bị cáo:

[2.1] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có cơ sở xác định, bị cáo Nguyễn Thanh H là Tổng giám đốc Công ty cổ phần C ký hợp đồng với ông Trương Tấn T2 Giám đốc Công ty V1 để bán 5.000 thùng găng tay y tế, H yêu cầu ông T2 liên hệ với ông T3 để nhận găng tay nhưng ông T3 không có găng tay để giao cho ông T2, khi không có găng tay cung cấp cho H, ông T3 đã hoàn lại toàn bộ số tiền cho H, mặc dù nhận đủ tiền từ ông T3, nhưng H đã không hoàn trả lại cho ông T2 mà chiếm giữ số tiền của ông T2 để sử dụng vào mục đích cá nhân.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đều không thừa nhận hành vi chiếm đoạt tiền của ông T2.

[2.2] Xét thấy:

Trong quá trình điều tra cũng như quá trình truy tố, tất cả các trình tự tố tụng về khởi tố, bắt tạm giam, cho đến các thủ tục phê chuẩn đều được thực hiện đầy đủ. Viện kiểm sát đã thực hiện tham gia kiểm sát vụ án và các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đầy đủ các trình tự thông báo cho chính quyền địa phương cũng như thông báo cho gia đình bị cáo biết theo đúng quy định của pháp luật.

Theo thỏa thuận của việc mua bán thì bị cáo H có chào bán 5.000 thùng găng tay y tế Khải Hoàn cho ông T2 và cam kết trong thời hạn 24 giờ sẽ giao hàng, nếu không giao được hàng đúng hẹn thì sẽ hoàn trả toàn bộ số tiền trước 01 giờ sáng ngày 07/7/2020. Thực hiện việc thỏa thuận, ngày 06/7/2020, ông T2 đã chuyển 9.250.000.000đồng cho H để đặt mua găng tay.

Cơ quan điều tra đã xác minh nguồn hàng bán cho ông T2 được H mua của ông T3 là Giám đốc Công ty 2TP, nhưng do ông T3 không có hàng để giao nên đã hoàn tiền trả cho H trong ngày 10 và ngày 11/7/2020, H đã nhận đủ tiền ông T3, nhưng bị cáo không trả lại cho ông T2. Sau đó, ông T2 nhiều lần yêu cầu H trả tiền như đã cam kết trong hợp đồng nhưng H cũng không trả.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định bị cáo nhận tài sản từ ông T2 thông qua hợp đồng mua bán găng tay mặc dù có điều kiện và khả năng trả lại tiền nhưng H cố tình không trả mà chiếm giữ số tiền 9.250.000.000đồng sử dụng vào mục đích cá nhân là có căn cứ.

Ngoài ra, cơ quan điều tra còn chứng minh hành vi của bị cáo tại thời điểm nhận lại tiền từ ông T3, bị cáo cung cấp các giấy ủy nhiệm chi tại ngân hàng M1 để chuyển trả số tiền 6.250.000.000đồng cho ông T2, nhưng thực chất ủy nhiệm chi này không thực hiện được do ghi thiếu số tài khoản, ngân hàng đã thông báo cho bị cáo nhưng bị cáo không tiếp tục thực hiện giao dịch. Mặt khác, khi ký hợp đồng với ông T2 thì bị cáo không có nguồn hàng như đã cam kết và qua xác minh tại Công ty V2 thì Công ty V2 không có bất cứ giao dịch bán hàng nào cho Công ty C của H.

Sau khi bị cáo ký hợp đồng xong lại yêu cầu ông T2 tự liên hệ với ông T3 để nhận hàng, khi ông T2 hẹn cùng H đến kho hàng để nhận thì H lãng tránh không có mặt.

Ngoài ra, bị cáo còn nại ra rằng bị cáo có hàng, nhưng ông T2 không đồng ý nhận hàng do hàng không còn niêm phong và sau khi không còn có hàng để giao cho ông T2 bị cáo và ông T2 đã thỏa thuận để bị cáo tiếp tục gom hàng để có đủ hàng giao cho ông T2. Tuy nhiên, lời nại của bị cáo không có gì để chứng minh. Mặt khác, nội dung hợp đồng không có thỏa thuận này, tại phiên tòa sơ thẩm thì ông T2 đã bác bỏ với lời khai này của bị cáo.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định hành vi trên của bị cáo H cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thuộc trường hợp giá trị từ 500.000.000đồng trở lên, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 với mức án 15 năm tù là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo kêu oan, nhưng không đưa ra được những tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình, nên không có cơ sở chấp nhận.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

[4] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.

Bởi các lẽ trên,

Căn cứ Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên xử:

  1. Áp dụng khoản 4 Điều 175, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 15 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2022.
  2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thanh H phải nộp số tiền 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao.
  • - VKSNDCC tại Tp. HCM.
  • - VKSND Tp.HCM.
  • - TAND Tp.HCM.
  • - Công an Tp. HCM.
  • - Trại TG Công an Tp. HCM.
  • - Cục THADS Tp.HCM.
  • - Những người tham gia tố tụng.
  • - Sở Tư pháp Tp.HCM.
  • - Lưu VP; HS vụ án, TK: NTV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÊ HOÀNG TẤN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 485/2024/HS-PT ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 485/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger