Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 485/2024/DS-ST

Ngày: 10/06/2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Minh Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nghiêm Xuân Hoàng

2/ Bà Lê Thị Thanh Dung

- Thư ký Toà án phiên tòa: bà Võ Mai Như Trang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số 129/2024/TLST-DS ngày 31/01/2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST-DS ngày 02/05/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2024/QĐST-DS ngày 20/05/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N

Địa chỉ: A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Minh T (Theo Giấy ủy quyền số 2420/UQ-SGN-HCNS ngày 29/12/2023) (có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: 2384/42/6 Quốc lộ A, phường T, Quận A, TP ..

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Hồng M (sinh năm 1980), trẻ Nguyễn Trọng P (sinh năm 2011 – có bà M là đại diện pháp luật), trẻ Nguyễn Ngọc H1 (sinh năm 2014 – có bà M là đại diện pháp luật). (vắng mặt)

Địa chỉ: 2384/42/6 Quốc lộ A, phường T, Quận A, TP ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/12/2023 của Nguyên đơn Ngân hàng TMCP N và các bản tự khai của ông Phạm Minh T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 08/9/2022, ông Nguyễn Thanh H ký với Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh S (gọi tắt là Ngân hàng) 02 Hợp đồng cho vay là:

  • Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 115/SGN.NVT/CD22, số tiền cho vay là 1.000.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng phục vụ đời sống, thời hạn vay là 120 tháng, giải ngân ngày 09/9/2022
  • Hợp đồng cho vay số 116/SGN.NVT/CD22, số tiền cho vay là 350.000.000 đồng với mục đích thanh toán tiền sửa chữa nhà, thời hạn vay là 240 tháng, giải ngân ngày 09/9/2022

Ngoài ra, ông H còn ký đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế V kiêm Hợp đồng số 0169/SGN.NVT/TTD20 ngày 21/9/2020 và đã được cấp tín dụng hạn mức 50.000.000 đồng.

Để đảm bảo cho các khoản vay nêu trên, ông H đã thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở tại địa chỉ 2384/42/6 Quốc lộ A, Khu phố E, phường T, Quận A, Tp . thuộc sở hữu của ông Nguyễn Thanh H.

Ông Nguyễn Thanh H đã không thanh toán đầy đủ và đúng hạn nợ vay, vi phạm nghĩa vụ trả nợ, do đó ngày 06/3/2023 Ngân hàng đã chuyển dư nợ tại Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 115/SGN.NVT/CD22, Hợp đồng cho vay số 116/SGN/NVT.CD22 và nợ Thẻ tín dụng của ông H sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 10/06/2024, ông Nguyễn Thanh H còn nợ Ngân hàng số tiền như sau:

  • Với Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 115/SGN.NVT/CD22: Nợ gốc 950.200.000 đồng, nợ lãi quá hạn 127.083.270 đồng, lãi phạt quá hạn 3.495.958 đồng, tổng cộng 1.080.779.228 đồng;
  • Với Hợp đồng cho vay số 116/SGN/NVT.CD22: Nợ gốc 341.600.000 đồng, nợ lãi quá hạn 47.158.789 đồng, lãi phạt quá hạn 600.465 đồng, tổng cộng 389.359.254 đồng
  • Với thẻ tín dụng: nợ gốc: 50.000.000 đồng, nợ lãi quá hạn 24.135.781, tổng cộng 74.135.781 đồng.

Tổng dư nợ gốc và lãi: 1.544.274.263 đồng.

Ngân hàng đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có công văn Thông báo nhắc nợ và Biên bản làm việc về việc yêu cầu thanh toán nợ đầy đủ, đúng hạn. Tuy nhiên đến nay, ông Nguyễn Thanh H vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc và lãi quá hạn cho Ngân hàng, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết, cố tình không hợp tác, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không phối hợp xử lý tài sản làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:

  1. Buộc ông Nguyễn Thanh H phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến hết ngày 10/06/2024 là 1.544.274.263 đồng, trong đó:
    • - Nợ gốc quá hạn: 1.341.800.000 đồng
    • - Nợ lãi quá hạn: 202.474.263 đồng
  2. Ông Nguyễn Thanh H còn phải thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 11/6/2024 cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ vay theo lãi suất quy định tại các Hợp đồng đã ký.
  1. Trường hợp ông Nguyễn Thanh H không trả hoặc trả không đủ số tiền nêu trên ngay khi Bản án có hiệu lực thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và Quyền sở hữu nhà ở tại 2384/42/6 Quốc lộ A, Khu phố E, phường T, Quận A, Tp . theo Hợp đồng thế chấp số 115/SGN.NVT/TC22 ngày 08/09/2022, số công chứng 020286, đã được đăng ký giao dịch đảm bảo tại chi nhánh V1 đăng ký đất đai Quận A để Ngân hàng thu hồi nợ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị Hồng M có đơn xin vắng mặt. Theo Bản tự khai ngày 25/4/2024, bà M có ý kiến:

Nguyễn Thị Hồng M trước là chủ sở hữu căn nhà tại địa chỉ 2384/42/6 Quốc lộ A, Khu phố E, phường T, Quận A. Do không hiểu biết nên tháng 9/2020 bà đã ký tặng cho căn nhà trên cho chồng cũ là ông Nguyễn Thanh H, sau đó ông H mang căn nhà trên đi thế chấp cho Ngân hàng TMCP N. Bà M và các con là: trẻ Nguyễn Trọng P (sinh năm 2011) và trẻ Nguyễn Ngọc H1 (sinh năm 2014) vẫn đang sinh sống tại căn nhà này từ trước đến nay. Nay ông H nợ không trả cho Ngân hàng, bà M đồng ý để Ngân hàng phát mãi tài sản là căn nhà tại địa chỉ nói trên để trừ khoản nợ của ông Nguyễn Thanh H.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập cho ông Nguyễn Thanh H để tự khai; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H đều vắng mặt, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không tiến hành hòa giải đầy đủ các bên đương sự được.

Tại phiên tòa;

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: yêu cầu bị đơn ông H thanh toán số nợ tính đến hết ngày 10/06/2024 là 1.544.274.263 đồng, trong đó: Nợ gốc quá hạn: 1.341.800.000 đồng, nợ lãi quá hạn: 202.474.263 đồng. Ông Nguyễn Thanh H còn phải thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 11/06/2024 cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ vay theo lãi suất quy định tại các Hợp đồng đã ký. Thanh toán làm một lần ngay sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, trường hợp bị đơn không thanh toán được hoặc thanh toán không đủ số nợ thì nguyên đơn được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết nợ, ông H phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ toàn bộ số tiền còn thiếu cho đến khi thanh toán đầy đủ. Đồng thời nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải tiếp tục thanh toán các khoản lãi phát sinh kể từ ngày 11/6/2024 theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại các Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Bị đơn, ông Nguyễn Thanh H vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và không có thêm ý kiến gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan– Bà Nguyễn Thị Hồng M có đơn xin vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận tuân theo đúng pháp luật tố tụng về việc xác định quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, tiến hành thu thập chứng cứ. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tiến hành theo đúng trình tự tố tụng, các đương sự chấp hành tốt quy định pháp luật về tố tụng. Về nội dung, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp:

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP N khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Thanh H thanh toán tiền nợ theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 115/SGN.NVT/CD22, Hợp đồng cho vay số 116/SGN/NVT.CD22. Xét đây là tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng cấp tín dụng giữa V với khách hàng là cá nhân, là tranh chấp về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về thẩm quyền:

Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh S – Phòng giao dịch Nguyễn Văn T1 và ông Nguyễn Thanh H cùng ký kết và thực hiện hợp đồng tại Phòng G có địa chỉ tại số F N, Phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015 quy định: “Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết” do đó việc Nguyên đơn lựa chọn Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận – là Tòa án nơi thực hiện Hợp đồng để khởi kiện tranh chấp hợp đồng là phù hợp với quy định pháp luật.

[1.3] Về thủ tục tố tụng và sự có mặt, vắng mặt của các đương sự:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Minh T có mặt; bị đơn ông Nguyễn Thanh H dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do, Bà Nguyễn Thị Hồng M là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt. Căn cứ kết quả xác minh của Công an phường T, Quận A, thể hiện ông Nguyễn Thanh H có đăng ký thường trú tại địa chỉ 2384/42/6 Quốc lộ A, Khu phố E, phường T, Quận A, Tp ., hiện đi đâu không rõ. Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tại địa chỉ trên đối với các đương sự, tuy nhiên ông H vẫn vắng mặt không có lý do tại phiên tòa, cũng không gửi văn bản trình bày bất kỳ ý kiến gì liên quan đến quyền, lợi ích của mình trong vụ án này.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không gửi văn bản trình bày bất kỳ ý kiến gì liên quan đến quyền, lợi ích của mình trong vụ án này, là đã từ chối quyền trình bày ý kiến về quyền, lợi ích hợp pháp của mình đối với tranh chấp. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo những chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Đối với số nợ gốc:

Xét yêu cầu của nguyên đơn về số nợ gốc 1.341.800.000 (một tỷ ba trăm bốn mươi mốt triệu tám trăm ngàn đồng), Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ lời trình bày của đại diện nguyên đơn, bị đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: nguyên đơn và bị đơn có ký Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 115/SGN.NVT/CD22, Hợp đồng cho vay số 116/SGN/NVT.CD22 và thẻ tín dụng cấp theo khoản vay, theo đó nguyên đơn đã cho bị đơn vay vốn với số tiền vay là 1.400.000.000 (Một tỷ bốn trăm triệu) đồng, dư nợ gốc còn lại hiện nay là 1.341.800.000 (Một tỷ ba trăm bốn mươi mốt triệu tám trăm ngàn) đồng. Mối quan hệ tín dụng giữa các bên vừa là là hợp đồng vay có kỳ hạn, có lãi suất và có tài sản bảo đảm, vừa là hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, sự thỏa thuận của các bên tại các hợp đồng tín dụng là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật. Nội dung các Hợp đồng cho vay giữa hai bên là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, nên có hiệu lực pháp luật. Đối chiếu số tiền nợ gốc đã giải ngân và số tiền nợ gốc bị đơn đã trả, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên yêu cầu của nguyên đơn đối với số tiền nợ gốc nêu trên là có căn cứ, do vậy Hội đồng xét xử xét chấp nhận.

[2.2] Về số tiền nợ lãi:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ lãi từ ngày 06/3/2023 đến ngày 10/6/2024 là: 127.083.270 đồng, lãi phạt quá hạn 3.495.958 đồng của hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 115/SGN.NVT/CD22 ngày 08/09/2022, nợ lãi từ ngày 06/3/2023 đến ngày 10/6/2024 với số tiền nợ lãi quá hạn 47.158.789 đồng, lãi phạt quá hạn 600.465 đồng của hợp đồng cho vay số 116/SGN/NVT.CD22, nợ lãi quá hạn 24.135.781 đồng với thẻ tín dụng, tổng cộng nợ lãi quá hạn: 202.474.263 đồng

  • Lãi suất tiền vay tại thời điểm ký hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 115/SGN.NVT/CD22 và hợp đồng cho vay số 116/SGN/NVT.CD22 là 9.5%/năm, cố định trong 24 tháng đầu kể từ ngày giải ngân, sau thời gian cố định thì lãi suất được tính như sau: Lãi suất huy động tiết kiệm Đồng Việt Nam kỳ hạn 12 tháng trả lãi cuối kỳ áp dụng với khách hàng cá nhân của ngân hàng cộng 3.5%/năm nhưng không thấp hơn sản phẩm cho vay cùng kỳ hạn của sản phẩm theo thông báo của ngân hàng tại thời điểm đó.
  • Lãi suất nợ quá hạn: khi bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng sẽ chuyển toàn bộ số dư nợ sang nợ quá hạn và bên vay phải chịu lãi suất nợ quá hạn tối đa bằng 150% so với lãi suất vay trong hạn;
  • Tiền phạt chậm trả lãi: 0%/năm đối với hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 115/SGN.NVT/CD22 và hợp đồng cho vay số 116/SGN/NVT.CD22.

Xét thấy, mức lãi suất này trong hạn và quá hạn được các bên thỏa thuận trong Giấy nhận nợ kèm theo các hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 115/SGN.NVT/CD22 và hợp đồng cho vay số 116/SGN/NVT.CD22, phù hợp với quy định tại Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1, nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về yêu cầu bị đơn phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 11/06/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 115/SGN.NVT/CD22, Hợp đồng cho vay số 116/SGN/NVT.CD22 và thẻ tín dụng cấp theo khoản vay: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2019 ngày 11/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bị

đơn còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 115/SGN.NVT/CD22, Hợp đồng cho vay số 116/SGN/NVT.CD22 và thẻ tín dụng cấp theo khoản vay. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N về việc yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Thanh H thanh toán số nợ tính đến ngày 10/06/2024 là 1.544.274.263 đồng, trong đó: Nợ gốc: 1.341.800.000 đồng, nợ lãi: 202.474.263 đồng, các khoản lãi phát sinh từ ngày 11/06/2024 theo thỏa thuận tại các Hợp đồng cho vay, hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi bị đơn thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho nguyên đơn.

[2.3] Về thời hạn thanh toán:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán ngay một lần số nợ trên. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ ngày 06/3/2023 bị đơn đã không tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn như thỏa thuận trong Hợp đồng hai bên đã ký, việc này làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán ngay một lần khoản nợ trên là không trái quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

[2.4] Về yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phát mãi tài thế chấp và yêu cầu trong trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp của ông Nguyễn Thanh H mà không đủ trả nợ cho nguyên đơn thì ông Nguyễn Thanh H phải tiếp tục trả nợ cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 115/SGN.NVT/TC22 ngày 08/09/2022 được lập tại Văn phòng C theo số công chứng 020286, quyển số 09/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/9/2022, được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại Chi nhánh Văn phòng Đ, Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 773, tờ bản đồ số 35, địa chỉ: 2, khu phố E, phường T, Quận A, THồ Chí Minh Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số CD 348524 do Ủy ban nhân dân Quận A cấp ngày 01/09/2016, số vào sổ cấp GCN: CH03448, cập nhật thay đổi ngày 17/09/2022 thành tài sản riêng của ông Nguyễn Thanh H. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 115/SGN.NVT/TC22 ngày 08/9/2022 có nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 293, 294, 295 và 298 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có hiệu lực pháp luật. Do bị đơn ông Nguyễn Thanh H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với nguyên đơn, căn cứ Điều 299 và 323 Bộ luật Dân sự năm 2015, yêu cầu của nguyên đơn về việc được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ, và trong trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp của bị đơn ông H mà vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ, thì ông H phải tiếp tục trả nợ cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho nguyên đơn là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ các nhận định ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N là có cơ sở chấp nhận, đồng thời cũng phù hợp với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm do toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng TMCP N được Tòa án chấp nhận. H2 lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

Bị đơn ông Nguyễn Thanh H phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 30.000.000 đồng. Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền trên, nên căn cứ Điều 157, Điều 158 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40, khoản 4 Điều 91, điểm e khoản 1 Điều 192, Điều 147, Điều 157, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Điều 293, Điều 294, Điều 295, Điều 298, Điều 299, Điều 320, Điều 322, Điều 323, Điều 324 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Điều 91, Điều 95, khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Căn cứ Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
  • Căn cứ khoản 2 Điều 5 và điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
  • Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019 ngày 11/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
  • Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N:

1.1

Buộc ông Nguyễn Thanh H có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP N số tiền tính đến ngày 10/06/2024 là 1.544.274.263 (một tỷ năm trăm bốn mươi bốn triệu hai trăm bảy mươi bốn ngàn hai trăm sáu mươi ba) đồng, trong đó: Nợ gốc: 1.341.800.000 (Một tỷ ba trăm bốn mươi mốt triệu tám trăm ngàn) đồng, nợ lãi: 202.474.263 (hai trăm lẻ hai triệu bốn trăm bảy mươi bốn ngàn hai trăm sáu mươi ba) đồng, Thi hành một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bị đơn ông Nguyễn Thanh H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số

115/SGN.NVT/CD22, Hợp đồng cho vay số 116/SGN/NVT.CD22 và Hợp đồng thẻ tín dụng số 0169/SGN.NVT/TTD20 ngày 21/9/2020 giữa Ngân hàng TMCP N và ông Nguyễn Thanh H.

1.2

Ngay sau khi ông Nguyễn Thanh H thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP N thì cho Ngân hàng TMCP N phải trả lại cho ông Nguyễn Thanh H toàn bộ các giấy tờ pháp lý được ghi nhận tại Điều 4 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 115/SGN.NVT/TC22 ngày 08/09/2022.

1.3

Trường hợp ông Nguyễn Thanh H không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng TMCP N thì Ngân hàng TMCP N được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ, tài sản thế chấp là: quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 773, tờ bản đồ số 35, địa chỉ: 2, khu phố E, phường T, Quận A, THồ Chí Minh Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số CD 348524 do Ủy ban nhân dân Quận A cấp ngày 01/09/2016, số vào sổ cấp GCN: CH03448, cập nhật thay đổi ngày 17/09/2022 thành tài sản riêng của ông Nguyễn Thanh H.

1.4

Trường hợp việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP N thì ông Nguyễn Thanh H có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán số nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP N cho đến khi trả hết nợ.

2. Về án phí Dân sự sơ thẩm:

Án phí dân sự sơ thẩm là 58.328.228 (năm mươi tám triệu ba trăm hai mươi tám ngàn hai trăm hai mươi tám) đồng ông Nguyễn Thanh H phải chịu.

H2 lại cho Ngân hàng TMCP N số tiền tạm ứng án phí 28.093.000 (hai mươi tám triệu không trăm chín mươi ba ngàn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 0032024 ngày 30/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

Ông Nguyễn Thanh H phải trả lại cho Ngân hàng TMCP N 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

4. Về nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

5. Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Q.Phú Nhuận;
  • - CCTHADS Q.Phú Nhuận;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Minh Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 485/2024/DS-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 485/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger