|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 485/2021/HS-ST Ngày 24-11-2021 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Công Danh;
- Ông Nguyễn Thái Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thế Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Sỹ Linh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 11 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 526/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 515/2021/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1210/2021/HSST-QĐ ngày 17 tháng 11 năm 2021 đối với:
Bị cáo: Phan Minh T; Sinh ngày 09/7/1999; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: T khổ; Hộ khẩu thường trú: Khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: 578, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Họ tên cha: Phan Thành Đ, sinh năm 1968 (còn sống); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1970 (còn sống); Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai và chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 30/5/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (T chấp hành xong Bản án ngày 04/10/2019); Ngày 25/3/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (T chấp hành xong Bản án ngày 29/4/2021); Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 14/6/2021, chuyển tạm giam theo lệnh số 829 ngày 22/6/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố Biên Hòa. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1964.
Địa chỉ: 265/7, tổ 39A, khu phố 4, phường Bình Đa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Vào ngày 30/5/2019 và ngày 25/3/2020, Phan Minh T 02 lần bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành và Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa kết án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án.
Khoảng 04 giờ 15 ngày 14/6/2021, T đi bộ đến khu vực khu phố 4, phường Bình Đa, thành phố Biên Hòa với mục đích trộm cắp tài sản. Khi T đi đến trước nhà bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1964 tại số 265/7 thuộc tổ A, khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai quan sát thấy không có ai, cửa cổng khóa, T trèo qua hàng rào sắt bên hông nhà rồi đi vào sân thì phát hiện thấy cửa nhà chỉ khép không khóa. T mở cửa vào thì thấy 01 (một) máy tính xách tay (laptop) hiệu Acer Travel mate 4720 màu đen đang đặt trên bàn trong phòng khách. T lén lút chiếm đoạt chiếc laptop trên rồi đi ra ngoài. Khi T vừa đi ra tới sân nhà thì bị bà B phát hiện tri hô. Do hoảng sợ, T để lại chiếc laptop trong sân, rồi trèo tường nhảy ra ngoài bỏ chạy. Khi T chạy được khoảng 100m thì bị bà B cùng người dân đuổi theo bắt giữ T giao Công an phường Bình Đa lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa xử lý. Tại Cơ quan điều tra, Phan Minh T đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) máy tính xách tay hiệu Acer Travel mate 4720 màu đen, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị B;
- 01 điện thoại di động Samsung A20 bị vỡ màn hình, không khởi động được là tài sản của Phan Minh T không sử dụng vào việc phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho T.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 277/TCKH-HĐĐG ngày 18/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Biên Hòa đã kết luận: “01 (một) máy tính xách tay hiệu Acer Travel Mate 4720 tại thời điểm định giá trị giá 1.000.000đ (Một triệu đồng)”.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp đã được thu hồi và giao trả cho bị hại Nguyễn Thị B, bị hại không yêu cầu bồi thường và có đơn bãi nại cho bị cáo T.
2. Truy tố:
Tại Cáo trạng số: 536/CT-VKSBH-HS ngày 08/10/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Phan Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm b khoản 1, Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Phan Minh T từ 06 (sáu) năm đến 08 (tám) tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Những chứng cứ xác định có tội: Quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, kết luận định giá tài sản, biên bản lấy lời khai bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 04 giờ 15 ngày 14/6/2021, tại nhà số 265/7 thuộc tổ A, khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Phan Minh T (đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích) có hành vi trộm cắp 01 (một) máy tính xách tay hiệu Acer Travel mate 4720 màu đen có trị giá là 1.000.000đ (Một triệu đồng) của bà Nguyễn Thị B thì bị bà B cùng người dân phát hiện bắt quả tang.
- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Phan Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được Nhà nước bảo vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong đời sống của người dân tại các khu dân cư. Bị cáo là người không có nghề nghiệp, biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
- Về nhân thân: Ngày 30/5/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 25/3/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo T không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện mà lại tiếp tục phạm tội.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại đã có đơn xin bãi nại, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
- Tuyên bố bị cáo Phan Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Phan Minh T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14 tháng 6 năm 2021.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Phan Minh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hòa |
Bản án số 485/2021/HS-ST ngày 24/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 485/2021/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/11/2021
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Minh T có hành vi trộm cắp tài sản
