Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 484/2024/HNGĐ-ST

Ngày 28 - 11 - 2024

V/v: “Yêu cầu thay đổi người trực

tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành

Bà Bùi Thị Hoa.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên tòa.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 423/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 về việc “Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 486/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1991; nơi đăng ký HKTT: Xóm V, xã K, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện nay: R (Cộng hòa liên bang Đ). Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Võ Thị H, sinh năm 1992; địa chỉ cư trú hiện nay: xóm T, xã K, huyện Y, tỉnh Nghệ An; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đình T1, sinh năm 1969 và bà Phan Thị Đ, sinh năm 1968; cùng địa chỉ: Xóm V, xã K, huyện Y, tỉnh Nghệ An; vắng mặt và có đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai (có chứng thực của Đ2 tại Cộng hòa liên bang Đức), nguyên đơn anh Nguyễn Đình T trình bày:

Anh T và chị Võ Thị H đã ly hôn với nhau vào năm 2016 theo Bản án số 08/2016/HNGĐ-ST ngày 26/01/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Theo đó, Bản án quyết định giao 02 con chung của anh chị là cháu Nguyễn Đình Gia B, sinh ngày 27/5/2012 và cháu Nguyễn Thị Phương A, sinh ngày 11/5/2014 cho chị Võ Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành, anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ/01 cháu, 02 cháu là 2.000.000đ. Tuy nhiên, từ sau khi ly hôn cho đến nay, 02 con chung được chị H gửi lại cho ông Nguyễn Đình T1 và bà Phan Thị Đ (là bố mẹ đẻ của anh T) chăm sóc, nuôi dưỡng, thỉnh thoảng chị H gọi điện hỏi thăm con và mua cho con vài bộ quần áo. Chị H không có công việc ổn định, không thể chu cấp cho ông bà tiền nuôi 02 cháu vì vậy hàng tháng anh T phải gửi tiền về cho cho bố mẹ trang trải cuộc sống và nuôi dưỡng 02 cháu đầy đủ. Hiện nay chị H đã tái hôn và sinh thêm em bé, không thể trực tiếp chăm sóc 02 cháu Gia B và Phương A, không thể đảm bảo quyền và lợi ích cho con chung. Trong khi đó, anh T đang lao động hợp pháp lâu dài tại Cộng hòa liên bang Đ3, có giấy tờ hợp lệ để định cư bên nước Đức, có địa chỉ cư trú rõ ràng, mức thu nhập cao và ổn định, đảm bảo kinh tế nuôi dưỡng 02 con chung và đủ điều kiện bảo lãnh 02 cháu sang Đức định cư. Vì vậy, để đảm bảo cho 02 con được nuôi dưỡng và phát triển trong môi trường tốt nhất, anh T đề nghị Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 cháu: Nguyễn Đình Gia B, sinh ngày 27/5/2012 và Nguyễn Thị Phương A, sinh ngày 11/5/2014 sang cho bố là Nguyễn Đình T, không yêu cầu chị Võ Thị H cấp dưỡng nuôi con.

Theo bản tự khai, bị đơn chị Võ Thị H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Đình T đã ly hôn với nhau vào năm 2016 theo Bản án số 08/2016/HNGĐ-ST ngày 26/01/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Theo đó, Bản án quyết định giao 02 con chung là cháu Nguyễn Đình Gia B, sinh ngày 27/5/2012 và cháu Nguyễn Thị Phương A, sinh ngày 11/5/2014 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành, anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ/01 cháu, 02 cháu là 2.000.000đ. Tuy nhiên, từ sau khi ly hôn cho đến nay, do kinh tế khó khăn, công việc không ổn định nên chị gửi 02 con chung cho ông Nguyễn Đình T1 và bà Phan Thị Đ (là bố mẹ đẻ của anh T) chăm sóc, nuôi dưỡng để chị có thời gian đi làm kiếm thêm thu nhập, thỉnh thoảng chị vẫn đến chơi và gửi ông bà ít đồng để chăm sóc các cháu. Hàng tháng anh T vẫn gửi tiền về cho cho ông T1, bà Đ trang trải cuộc sống và nuôi dưỡng 02 cháu đầy đủ. Chị H đã tái hôn và sinh thêm em bé. Hiện nay anh T đang lao động hợp pháp lâu dài tại Cộng hòa liên bang Đ3, có giấy tờ hợp lệ để định cư bên nước Đức, mức thu nhập cao và ổn định, đảm bảo kinh tế nuôi dưỡng 02 con chung và đủ điều kiện bảo lãnh 02 cháu sang Đức định cư. Vì vậy, để các con có cuộc sống tốt hơn nên chị H đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đình T, đề nghị Tòa án giao hai con chung là cháu Nguyễn Đình Gia B, sinh ngày 27/5/2012 và cháu Nguyễn Thị Phương A, sinh ngày 11/5/2014 cho anh T nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Cháu Nguyễn Đình Gia B và cháu Nguyễn Thị Phương A trình bày: Các cháu là con của bố Nguyễn Đình T và mẹ Võ Thị H. từ khi bố mẹ ly hôn, các cháu được gửi ở với ông bà nội tại xóm V, mẹ thỉnh thoảng vẫn qua với với hai anh em. Các cháu lúc nào cũng nhớ và mong muốn được ở với bố mẹ, nhưng nếu phải lựa chọn, các cháu có nguyện vọng được ở với bố hoặc ông bà nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình T1, bà Phan Thị Đ trình bày: Ông bà là bố mẹ ruột của nguyên đơn trong vụ án anh Nguyễn Đình T. Anh T và chị H đã ly hôn với nhau vào năm 2016, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã quyết định giao 02 con chung của T và H là cháu Nguyễn Đình Gia B, sinh ngày 27/5/2012 và cháu Nguyễn Thị Phương A, sinh ngày 11/5/2014 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tuy nhiên, từ sau khi ly hôn cho đến nay, do cuộc sống chật vật về kinh tế nên 02 cháu được chị H gửi lại cho ông bà chăm sóc, nuôi dưỡng. Hàng tháng anh T vẫn gửi tiền về cho ông bà nuôi 02 cháu, chị H không có công việc ổn định, nên không thể chu cấp tiền nuôi 02 cháu. Ông bà được biết hiện nay chị H đã tái hôn và sinh thêm em bé. Trong khi đó T đang lao động hợp pháp lâu dài và ổn định tại Cộng hòa liên bang Đ, có giấy tờ hợp lệ định cư, mức lương cao, đủ điều kiện bảo lãnh 02 cháu sang Đ1 định cư, hai cháu cũng có nguyện vọng muốn được sống cùng bố. Nay anh T muốn thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung giữa anh T và chị H thì ông bà không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Đồng thời ông bà cũng không yêu cầu anh T và chị H phải trả chi phí nuôi 02 cháu từ trước đến nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Đình T có nơi đăng ký HKTT tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; hiện nay anh T đang sinh sống và làm việc tại cộng hòa liên bang Đ1 làm đơn khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn với chị Võ Thị H cư trú tại huyện Y, tỉnh Nghệ An. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 39 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn anh Nguyễn Đình T làm đơn khởi kiện, bản tự khai, giấy ủy quyền (có chứng thực của Đ2 tại Cộng hòa liên bang Đ1) và đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn chị Võ Thị H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình T1, bà Phan Thị Đ đã có bản tự khai và đơn trình bày quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án và có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 điều 207; khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không hoà giải được và Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[3] Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:

Anh Nguyễn Đình T, chị Võ Thị H ly hôn theo Bản án số 08/2016/HNGĐ-ST ngày 26/01/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Về con chung Tòa án quyết định giao 02 con chung cháu Nguyễn Đình Gia B, sinh ngày 27/5/2012 và cháu Nguyễn Thị Phương A, sinh ngày 11/5/2014 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành, anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000₫ (1.000.000₫/01 cháu/01 tháng).

Xét thấy, việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là quyền và cũng là nghĩa vụ của vợ chồng sau khi ly hôn. Anh T và chị H đều xác định, từ sau khi ly hôn do chị H đi làm, không có thời gian nhiều nên phải nhờ bố mẹ anh T chăm sóc các cháu, thỉnh thoảng có thời gian chị H mới đến thăm các con. Hàng tháng, anh T vẫn gửi tiền về cho ông bà chu cấp nuôi con đầy đủ. Hiện nay chị H đã tái hôn và sinh thêm em bé, không thể trực tiếp chăm sóc 02 cháu Gia B và Phương A. Trong khi đó, anh T đang lao động hợp pháp lâu dài tại Cộng hòa liên bang Đ3, có giấy tờ hợp lệ để định cư bên nước Đức, có địa chỉ cư trú rõ ràng, mức thu nhập cao và ổn định, đảm bảo kinh tế nuôi dưỡng 02 con chung và đủ điều kiện bảo lãnh 02 cháu sang Đức định cư cùng. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho sự phát triển toàn diện của các con, anh T có nguyện vọng thay đổi người nuôi con, giao 02 cháu Gia B và Phương A cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét nguyện vọng của anh T được chị H chấp nhận và phù hợp với nguyện vọng của 02 con chung nên cần chấp nhận đơn yêu cầu thay đổi người nuôi con của nguyên đơn: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Đình Gia B, sinh ngày 27/5/2012 và cháu Nguyễn Thị Phương A, sinh ngày 11/5/2014 cho anh Nguyễn Đình T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi 02 cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tòa án không xem xét, do các bên chưa có yêu cầu. Dành quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên cho các bên khi có yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về việc quản lý, chăm sóc con chung: Vợ chồng ông Nguyễn Đình T1, bà Phan Thị Đ là người trực tiếp quản lý, chăm sóc 02 cháu Nguyễn Đình Gia B, sinh ngày 27/5/2012 và cháu Nguyễn Thị Phương A, sinh ngày 11/5/2014 trong thời gian từ khi vợ chồng anh T, chị H ly hôn cho đến nay. Tuy nhiên, ông T1 và bà Đ không yêu cầu anh T, chị H phải thanh toán các khoản chi phí chăm sóc cháu từ trước đến nay, nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn anh Nguyễn Đình T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39, Điều 147, Điều 469; Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Đình T. Tuyên xử:

1. Giao 02 con chung là Nguyễn Đình Gia B, sinh ngày 27/5/2012 và cháu Nguyễn Thị Phương A, sinh ngày 11/5/2014 cho anh Nguyễn Đình T nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành.

2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tòa án không xem xét do các bên chưa có yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Đình T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013150 ngày 16 tháng 10 năm 2024.

4. Nguyên đơn anh Nguyễn Đình T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Bị đơn chị Võ Thị H, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình T1 và bà Phan Thị Đ có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 484/2024/HNGĐ-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn

  • Số bản án: 484/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger