|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 484/2024/HS-PT Ngày: 30/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh
Các thẩm phán: Bà Thái Thị Thanh Bình
Ông Nguyễn Công Sự
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 313/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Mạnh C do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 301/2024/HS-ST ngày 17/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Mạnh C (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1982 tại tỉnh Quảng Ninh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: số B, khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở: tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Nguyễn Việt H, sinh năm 1958 (còn sống); Họ tên mẹ: Khổng Thị L, sinh năm 1960 (đã chết); Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; có vợ: Nguyễn Thị Thảo N, sinh năm 1984, có 02 con, lớn nhất sinh năm 2019 và nhỏ nhất năm 2020 (Trước đó, C kết hôn với chị Bùi Thị D, sinh năm 1989, có 01 con sinh năm 2012; đã ly hôn năm 2023).
Tiền án: Ngày 26/9/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự sơ thẩm số 449/2019/HS-ST ngày 26/9/2019.
Tiền sự: Bị đưa vào cơ sở chữa bệnh tại Trung tâm giáo dục lao động tỉnh Đ thời hạn 24 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số: 1457/QĐ.UBND ngày 20/5/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện X.
Nhân thân: Ngày 19/02/2003, bị Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo bản án hình sự phúc thẩm số 145/HSPT ngày 19/02/2003.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 24/02/2023, bị tạm giữ theo Quyết định tạm giữ số 258/QĐ-CSĐT ngày 24/02/2023; chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 443/LTG-CSĐT-MT ngày 03/3/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B; Hiện bị cáo đang bị giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
Bị cáo có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đinh Công T - Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ. (Có mặt)
Địa chỉ: 2, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Mạnh C là người sử dụng trái phép chất ma túy và là nhân viên điều hành xe taxi tại bãi xe Bệnh viện Đ thuộc khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 24/02/2023, khi C đang làm việc tại bãi xe Bệnh viện Đ thì đối tượng P (chưa rõ nhân thân lai lịch) đi đến khu vực bãi xe gặp C và nhờ C bán 01 (một) gói ma túy tổng hợp (dạng đá) cho đối tượng tên C1 (chưa rõ nhân thân lai lịch), P trả công cho C 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), C đồng ý nhận ma túy và số tiền nêu trên.
Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, khi C đang cất giấu 01 (một) gói ma túy trên trong túi quần bên phải phía sau C đang mặc và đứng chờ tại khu vực Bệnh viện Đ để bán ma túy cho C1 nhưng chưa kịp bán thì bị tổ tuần tra Công an phường T kiểm tra phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.
* Vật chứng thu giữ:
- - 01 (Một) gói nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng đã được niêm phong, có chữ ký của Nguyễn Mạnh C và hình dấu mộc tròn của Công an phường T;
- - 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Airblade màu đen đỏ biển số 39F3-9377, số máy JF18E5096571, số khung RLHJF18017Y596471. Qua xác minh: Biển số 39F3-9377 là của xe mô tô hiệu Honda Wave có số khung RLHJC4328AY122222; số máy JC43E5581513 thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn T1 (sinh năm 1982). Anh T1 khai đã bán chiếc xe trên từ năm 2015 cho một người không rõ lai lịch với giá 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng); Số khung RLHJF18017Y596471, số máy JF18E5096571 là của xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển số 60X6-8379 thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn T2. Hiện Cơ điều quan tra chưa làm việc được với anh T2. Kết quả tra cứu tại Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ (Phòng PC01) xác nhận: Xe mô tô đã thu giữ nêu trên không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Do chưa xác định được chủ sở hữu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau.
- - 01 điện thoại di động hiệu OPPO và 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh có sim số 0962975675 là của C không sử dụng vào việc phạm tội.
-
- Số tiền 21.770.000 đồng (hai mươi mốt triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng) trong đó:
- + 17.770.000 đồng (mười bảy triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng) là của anh Vũ Đình D1 (bạn của C) gửi C giữ hộ không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh D1;
- + 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) là của C không liên quan đến việc phạm tội;
- + 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) là tiền P trả công cho C bán ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 382/KL-KTHS ngày 02/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 4,9658gam, loại: Methamphetamine”.
Cáo trạng số: 669/CT-VKSBH ngày 09/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 301/2023/HS-ST ngày 17/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa quyết định:
Căn cứ khoản 1, điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 45, 106, 135, 136, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2023.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 25/6/2024, bị cáo Nguyễn Mạnh C có đơn kháng cáo cho rằng bản án sơ thẩm áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo là không đúng. Năm 2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xác định bị cáo không có tiên án, không có tình tiết tái phạm. Do đó, trong vụ án này bị cáo chỉ bị truy tố theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là chưa đủ cơ sở pháp lý. Bởi lẽ Bản án số 145/HSPT ngày 19/02/2003 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo C đã đóng án phí và tiền sung công, riêng về phần bồi thường cho bị hại do bị hại không có đơn yêu cầu thi hành án nên theo quy định tại khoản 5 Điều 3, Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, bổ sung năm 2014 và khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 03/2024/NQ-HĐTP ngày 10/6/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao thì C đã được xoá án tích đối với bản án này. Hơn nữa tại bản án số 449/2019/HS-ST ngày 26/9/2019 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà đã xác định C không có tiền án, tiền sự nên bị cáo C phạm tội “Mua ban trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự với tình tiết tăng nặng là “tái phạm”. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo C, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
- - Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định, đúng quy định pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- - Về nội dung kháng cáo: Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã xét xử bị cáo Nguyễn Mạnh C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, xử phạt bị cáo mức án 07 năm tù tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh C được làm trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh và hình phạt: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Mạnh C khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, thể hiện:
Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 24/02/2023 tại khu vực Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai phường Đ, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Mạnh C và đối tượng tên P (chưa rõ nhân thân lai lịch) đã có hành vi một lần bán trái phép 4,9658gam ma tuý cho đối tượng tên Cu (chưa rõ nhân thân lai lịch) nhưng chưa kịp bán thì bị tổ tuần tra Công an phường T phát hiện, bắt quả tang. Tại Kết luận giám định số: 382/KL-KTHS ngày 02/3/2023 của Phòng K Công an Đ kết luận: “Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 4,9658gam, loại Methamphetamine”.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Mạnh C đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng người và đúng tội.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo:
Bản án hình sự phúc thẩm số 145/HSPT ngày 19/02/2003 của Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo C 08 (tám) năm tù về tội “Cướp tài sản” (Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù năm 2008, nộp tiền án phí và tiền sung công ngày 24/7/2006; về bồi thường dân sự bị hại không có đơn yêu cầu thi hành án). Bản án hình sự phúc thẩm số 145/HSPT ngày 19/02/2003 của Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh được thi hành theo Bộ luật hình sự năm 1999; Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993. Tại khoản 1 Điều 21 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 quy định: “Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày bản án quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án là cá nhân có quyền gửi đơn đến cơ quan thi hành án để yêu cầu thi hành án. Hết thời hạn đó, nếu người được thi hành án không yêu cầu thi hành án, thì bản án, quyết định hết hiệu lực thi hành”. Như vậy, sau 03 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà bị hại không có đơn yêu cầu thi hành án thì phần trách nhiệm dân sự hết hiệu lực thi hành. Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành thì C đã được xoá án tích đối với Bản án hình sự phúc thẩm số 145/HSPT ngày 19/02/2003 của Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Mặt khác, tại bản án hình sự sơ thẩm số 449/2019/HS-ST ngày 26/9/2019 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, xác định bị cáo không có tiền án, tiền sự và đánh giá bản án hình sự phúc thẩm số 145/HSPT ngày 19/02/2003 của Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là nhân thân.
Cấp sơ thẩm áp dụng Bộ luật hình sự 2015 và các văn bản hướng dẫn hiện hành để xác định lại tiền án của bị cáo đối với Bản án hình sự phúc thẩm số 145/HSPT ngày 19/02/2003 của Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là không phù hợp.
Vì vậy, trong vụ án này bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, với tình tiết tăng nặng là “tái phạm”. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuy” với tình tiết định khung theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là không đúng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo C, sửa một phần bản án sơ thẩm về điều luật áp dụng và hình phạt.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo có phần phù hợp với Hội đồng xét xử nên được chấp nhận phần phù hợp.
[6] Ý kiến của Kiểm sát viên không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do chấp nhận kháng cáo của bị cáo nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh C.
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 301/2023/HS-ST ngày 17/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
-
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C 04 (bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2023.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Mạnh C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 301/2023/HS-ST ngày 17/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 484/2024/HS-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 484/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Mạnh Cường phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
