Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 484/2024/DS-ST

Ngày: 10-6-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Minh Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nghiêm Xuân Hoàng

2/ Bà Lê Thị Thanh Dung

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Mai Như Trang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa: Bà Võ Nam Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số 1140/2023/TLST-DS ngày 08/12/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-DS ngày 02/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2024/QÐST-DS ngày 20/5/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S

Địa chỉ: Lầu H, 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện ủy quyền: Ông Trần Phú L (Giấy ủy quyền số 295/2023/GUQ-CN.Q.10 ngày 23/11/2023).

- Bị đơn: Bà Trần Thị Ngọc H, sinh năm 1983

Địa chỉ: A C, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S và các bản tự khai người đại diện ủy quyền trình bày:

Ngày 11/05/2022, bà Trần Thị Ngọc H có ký với Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh Q (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 6071780 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng – các tài liệu này gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cụ thể như sau:

- Hạn mức sử dụng: 50.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi triệu đồng);

- Mục đích: Tiêu dùng cá nhân;

- Loại thẻ: V Platinum Cashback, số thẻ 436438 - 3180, mã thẻ: 3853506891, Lãi suất: 2.4%/tháng;

- Loại thẻ: TD nội địa – VTD SacombankPay, số thẻ: 356480 – 1714, mã thẻ: 3184372690, Lãi suất: 1.55%/tháng.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Trần Thị Ngọc H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 331.150.899 đồng chi tiết như sau:

- Thẻ tín dụng số: 436438 – 3180, mã thẻ 3853506891, bà H đã thực hiện các giao dịch từ ngày 05/6/2022 đến ngày 05/10/2023 với tổng số tiền là 293.150.899 đồng;

- Thẻ tín dụng số 356480 – 1714, mã thẻ: 3184372690, bà H đã thực hiện các giao dịch từ ngày 25/5/2022 đến ngày 25/10/2023 với tổng số tiền là 38.000.000 đồng.

Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng), bà H phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 25 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Trần Thị Ngọc H đã thanh toán (bao gồm vốn, lãi, lãi phạt) cho Ngân hàng tổng số tiền 275.553.480 đồng, trong đó Thẻ tín dụng số: 436438 – 3180 thanh toán số tiền 240.328.480 đồng, Thẻ tín dụng số 356480 – 1714 thanh toán số tiền 35.225.000 đồng. Số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, áp dụng theo thứ tự sau: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước; Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ; Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ; Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.

Sau đó, bà H không thanh toán nợ cho Ngân hàng nữa. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán trả nợ, ngày 05/10/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ 436438 – 3180, mã thẻ 3853506891 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 60.947.842 đồng sang nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 3.6%/tháng và ngày 25/10/2023, Ngân hàng cũng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ 356480 – 1714, mã thẻ: 3184372690 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 6.413.000 đồng sang nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 2.326%/tháng (tương đương 150% của lãi suất trong hạn).

Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị Ngọc H phải thanh toán khoản nợ thẻ tín dụng cho Ngân hàng với số tiền tính đến ngày 10/6/2024, bà Trần Thị Ngọc H còn nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với số tiền như sau:

- Nợ gốc: 67.360.842 đồng;

- Lãi quá hạn: 19.971.494 đồng;

- Tổng cộng: 87.332.336 đồng. (Bằng chữ: tám mươi bảy triệu ba trăm ba mươi hai ngàn ba trăm ba mươi sáu đồng).

Ngoài ra, bà Trần Thị Ngọc H còn phải thanh toán khoản lãi phát sinh kể từ ngày 11/6/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập cho bà Trần Thị Ngọc H để tự khai; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bà H đều vắng mặt, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không tiến hành hòa giải giữa các bên đương sự được.

Tại phiên tòa:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện như đã khai trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án.

Bị đơn bà Trần Thị Ngọc H vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã làm đúng và đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp thì nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà Trần Thị Ngọc H phải thanh toán số tiền tính đến ngày 10/6/2024 là 87.332.336 đồng, trong đó nợ gốc là 67.360.842 đồng và lãi quá hạn là 19.971.494 đồng, và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 11/6/2024 cho đến khi bị đơn trả hết nợ cho nguyên đơn theo mức lãi suất quá hạn hai bên thỏa thuận trong Hợp đồng thẻ tín dụng hai bên đã ký là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có đơn yêu cầu bị đơn bà Trần Thị Ngọc H trả tiền vay từ hợp đồng dùng thẻ tín dụng còn thiếu, đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thẩm quyền: Căn cứ đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 11/5/2022 giữa Ngân hàng với bà H, căn cứ kết quả xác minh của Công an P, quận P, thể hiện bà Trần Thị Ngọc H có đăng ký thường trú tại A C, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện không thực tế cư trú tại địa phương, đi đâu không rõ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về người tham gia tố tụng: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn về số nợ gốc 67.360.842 (Sáu mươi bảy triệu ba trăm sáu mươi ngàn tám trăm bốn mươi hai) đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ lời trình bày của đại diện nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Nguyên đơn và bị đơn có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 11/5/2022 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng đính kèm. Theo đó nguyên đơn đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức là 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng cho bị đơn với mục đích tiêu dùng cá nhân. Do bị đơn bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc 67.360.842 (Sáu mươi bảy triệu ba trăm sáu mươi ngàn tám trăm bốn mươi hai) đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Xét yêu cầu bị đơn trả tiền lãi quá hạn:

Ngày 05/10/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ 436438 – 3180, mã thẻ 3853506891 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 60.947.842 đồng sang nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 3.6%/tháng và ngày 25/10/2023, Ngân hàng cũng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ 356480 – 1714, mã thẻ: 3184372690 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 6.413.000 đồng, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 2.326%/tháng (tương đương 150% của lãi suất trong hạn). Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 luật các tổ chức tín dụng quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” và Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N quy định: “Tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng”. Ngoài ra tại khoản 2 Điều 22 của quyết định số 04/VBHN-NHNN của Ngân hàng N ban hành ngày 24/4/2014 đã quy định nghĩa vụ của chủ thẻ như sau: “Thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho Tổ chức phát hành thẻ các khoản phí, tiền vay và lãi phát sinh từ việc sử dụng thẻ theo đúng thỏa thuận tại hợp đồng sử dụng thẻ”.

Từ những quy định nêu trên thì việc thỏa thuận lãi quá hạn giữa nguyên đơn và bị đơn là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật. Do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi quá hạn tính đến ngày 10/6/2024 là 19.971.494 (mười chín triệu chín trăm bảy mươi mốt ngàn bốn trăm chín mươi bốn) đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 11/6/2024 cho đến khi trả hết nợ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về thời hạn thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán ngay một lần số nợ trên. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ ngày 05/10/2023 và ngày 25/10/2023 bị đơn đã không tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn như thỏa thuận trong Hợp đồng hai bên đã ký, việc này làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán ngay một lần khoản nợ trên là không trái quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận là 4.366.617 (bốn triệu ba trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm mười bảy) đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 1 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 471, Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S.

Buộc bà Trần Thị Ngọc H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến ngày 10/6/2024 là 87.332.336 (tám mươi bảy triệu ba trăm ba mươi hai ngàn ba trăm ba mươi sáu) đồng, trong đó nợ gốc là 67.360.842 (sáu mươi bảy triệu ba trăm sáu mươi ngàn tám trăm bốn mươi hai) đồng và lãi quá hạn là 19.971.494 (mươi chín triệu chín trăm bảy mươi mốt ngàn bốn trăm chín mươi bốn) đồng, và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 11/6/2024 cho đến khi bị đơn trả hết nợ cho nguyên đơn theo mức lãi suất quá hạn hai bên thỏa thuận trong Hợp đồng.

Buộc bà Trần Thị Ngọc H tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh kể từ ngày 11/6/2024 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP S theo mức lãi suất quá hạn hai bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 11/5/2022 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng đính kèm giữa Ngân hàng với bà Trần Thị Ngọc H.

Thanh toán một lần sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Về án phí:

Trần Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.366.617 (bốn triệu ba trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm mười bảy) đồng.

Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.774.000 (một triệu bảy trăm bảy mươi bốn ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0022578 ngày 05/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Q.Phú Nhuận;
  • - CCTHADS Q.Phú Nhuận;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Minh Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 484/2024/DS-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 484/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger