TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 4826/2024/KDTM-ST
Ngày: 30-9-2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Cẩm Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Đăng Vạn
- Bà Đặng Thị Thu Oanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Lê Quang Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 109/2023/TLST-KT ngày 18 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6375/2024/QĐXXST-KDTM ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7503/2024/QĐST-KDTM ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V
- Bị đơn: Công ty cổ phần T1
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Cao C, sinh năm 1990 (vắng mặt)
- Bà Bùi Thị Nam N, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số H L, phường L, Quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông(bà) Nguyễn Ngọc P, Đặng Trọng D Theo văn bản ủy quyền số 6769/2024/UQ-PGD ngày 19/7/2024. (có mặt)
Địa chỉ liên hệ: tòa nhà số I C (tầng A), phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Trụ sở: Số D Khu dân cư Đ, đường Đ, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của bị đơn Ông Nguyễn Cao C, sinh năm 1990 – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.
Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.
Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Đặng Trọng D trình bày:
Ngân hàng TMCP V (sau đây viết tắt là V1) đã giải ngân cho Công ty Cổ phần T1 (sau đây viết tắt là Công ty T1) vay với tổng số tiền là 1.430.000.000 đồng để bổ sung vốn lưu động phục vụ kinh doanh theo ngành nghề đăng ký kinh doanh của Công ty T1. Hai bên đã ký kết các hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ, văn bản có liên quan cụ thể như sau:
- - Hợp đồng cho vay hạn mức số H09/21039 ngày 29/01/2021:
- (1) Khế ước nhận nợ: 060821-6068778-ONL-2 ký ngày 06/8/2021:
- + Số tiền vay: 630.000.000 đồng;
- + Thời hạn vay: 06 tháng;
- + Ngày giải ngân: 07/8/2021;
- + Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động;
- + Lãi suất vay: Lãi suất cho vay 19,40%/năm cố định 01 tháng sau đó lãi suất được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/lần.
- (2) Khế ước nhận nợ: H09/21039-02 ngày 05/03/2021;
- + Số tiền vay: 500.000.000 đồng;
- + Thời hạn vay: 06 tháng;
- + Ngày giải ngân: 16/9/2021;
- + Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động;
- + Lãi suất vay: Lãi suất cho vay 20,40%/năm cố định 01 tháng sau đó lãi suất được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/lần.
- (1) Khế ước nhận nợ: 060821-6068778-ONL-2 ký ngày 06/8/2021:
- - Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi số H09/21040 ngày 29/01/2021:
- + Số tiền vay: 300.000.000 đồng;
- + Thời hạn vay: 12 tháng;
- + Ngày giải ngân: 29/01/2021;
- + Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động;
- + Lãi suất vay: Lãi suất cho vay cố định 20%/năm
Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên, ông Nguyễn Cao C và bà Bùi Thị Nam N ký kết với V1 các Hợp đồng bảo lãnh số: H09/21041 ngày 29/01/2021 và Hợp đồng bảo lãnh số: H09/21042 ngày 29/01/2021 để bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang về việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của Công ty T1 phát sinh từ các hợp đồng, văn bản tín dụng khác ký giữa V1 và Công ty T1 và cam kết bảo lãnh bằng toàn bộ tài sản của mình.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ theo các Hợp đồng đã ký kết. Vì vây, ngày 05/01/2022 V1 đã chuyển toàn bộ dư nợ của công ty T1 sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn (bằng 150% x lãi suất trong hạn). V1 đã thông báo nhắc nợ cho công ty T1 nhưng công ty T1 cũng như ông C, bà N không có thiện chí thực hiện nghĩa vụ nên V1 khởi kiện vụ án yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty T1 phải trả ngay một lần số tiền còn nợ. Trong trường hợp Công ty T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ thì V1 có quyền yêu cầu ông Nguyễn Cao C, bà Bùi Thị Nam N phải có nghĩa vụ trả nợ thay Công ty T1 đến khi dứt nợ tại V1 theo các Hợp đồng bảo lãnh đã ký với V1.
Bị đơn – Công ty cổ phần T1 có ông Nguyễn Cao C là người đại diện theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đến Tòa án cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Cao C, bà Bùi Thị Nam N: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đến Tòa án cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông C, bà N đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện theo bảng tính lãi chi tiết đối với Công ty cổ phần T1 tạm tính đến ngày Tòa án xét xử vụ án. Cụ thể: Buộc công ty T1 thanh tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 2.491.723.377 đồng. Trong đó, tổng nợ gốc của các hợp đồng là 1.296.250.784 đồng; tổng nợ lãi trong hạn là 30.736.859 đồng; tổng tiền lãi quá hạn tạm tính đến 30/9/2024 là 1.149.877.936 đồng; phí phạt vi phạm là 14.857.798 đồng. Buộc công ty T1 trả ngay một lần hết số nợ nêu trên.
Ngoài ra, kể từ ngày 01/10/2024, Công ty T1 vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn, và các khoản phải trả theo các hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho V1. Trong trường hợp Công ty T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ thì V1 có quyền yêu cầu ông Nguyễn Cao C, bà Bùi Thị Nam N thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay Công ty TCT theo Hợp đồng bảo lãnh số H09/21041 ngày 29/01/2021 và Hợp đồng bảo lãnh số H09/21042 ngày 29/01/2021 đã ký kết với V1.
Công ty T1, ông Nguyễn Cao C, bà Bùi Thị Nam N vắng mặt không có lý do.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án đã vi phạm về thời hạn xét xử nhưng một phần do bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự. Công ty T1, ông Nguyễn Cao C, bà Bùi Thị Nam N đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt Công ty T1, ông Nguyễn Cao C, bà Bùi Thị Nam N là đúng quy định.
Về nội dung: Bị đơn vi phạm nghiêm trọng các nội dung trong các Hợp đồng tín dụng đã ký kết với V1 gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của người đại diện của nguyên đơn và lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ngân hàng TMCP V khởi kiện Công ty cổ phần T2 trì nội thất TCT yêu cầu thanh toán nợ vay theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Công ty T1 có trụ sở trú tại phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 30, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về việc tham gia tố tụng của các đương sự:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn tham gia tố tụng, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định.
Công ty T1, ông Nguyễn Cao C, bà Bùi Thị Nam N đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Ngân hàng TMCP V có cho Công ty T1 vay tiền theo các Hợp đồng cho vay hạn mức số H09/21039 ngày 29/01/2021 và Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi số H09/21040 ngày 29/01/2021. Đồng thời, việc ký kết các Hợp đồng tín dụng còn được ông Nguyễn Cao C, bà Bùi Thị Nam N bảo lãnh bằng các Hợp đồng bão lãnh số H09/21041 ngày 29/01/2021 và Hợp đồng bảo lãnh số H09/21042 ngày 29/01/2021. Xét các Hợp đồng nêu trên giữa các bên có hình thức đúng quy định của pháp luật, nội dung các bên thỏa thuận trong Hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, các bên tự nguyện ký kết Hợp đồng nên Hợp đồng này phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 335, 336, 338, 339 Bộ luật Dân sự 2015, có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Trong quá trình sử dụng vốn vay, Công ty T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã thỏa thuận theo Hợp đồng đã ký kết. V1 đã chuyển toàn bộ số tiền dư nợ sang nợ quá hạn là phù hợp. Tính đến ngày Tòa án xét xử vụ án (ngày 30/9/2024), Công ty T1 còn nợ V1 với tổng số tiền là 2.491.723.377 đồng. Trong đó, tổng nợ gốc của các hợp đồng là 1.296.250.784 đồng; tổng nợ lãi trong hạn là 30.736.859 đồng; tổng tiền lãi quá hạn tạm tính đến 30/9/2024 là 1.149.877.936 đồng; phí phạt vi phạm là 14.857.798 đồng. Công ty T1, ông Nguyễn Cao C, bà Bùi Thị Nam N đã được tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì, cũng không gửi cho Tòa án tài liệu gì về việc khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Theo Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì việc nguyên đơn yêu cầu phía bị đơn phải trả khoản lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 trên số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định trong Hợp đồng cho đến khi thi hành án xong là phù hợp quy định tại Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có cơ sở để chấp nhận.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp.
[4] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn công ty T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 72.000.000 đồng + 2% (2.491.723.377 đồng – 2.000.000.000 đồng = 81.834.468 đồng.
Ngân hàng TMCP V không phải chịu án phí nên được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 335, 336, 338, 339, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 4, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Buộc Công ty cổ phần T1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền còn nợ theo các Hợp đồng cho vay hạn mức số H09/21039 ngày 29/01/2021 và Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi số H09/21040 ngày 29/01/2021 là 2.491.723.377 đồng (Hai tỉ bốn trăm chín mươi mốt triệu bảy trăm hai mươi ba ngàn ba trăm bảy mươi bảy đồng). Trong đó, tổng nợ gốc của các hợp đồng là 1.296.250.784 đồng (Một tỉ hai trăm chín mươi bốn triệu hai trăm năm mươi ngàn bảy trăm tám mươi bốn đồng); tổng nợ lãi trong hạn là 30.736.859 đồng (Ba mươi triệu bảy trăm ba mươi sáu ngàn tám trăm năm mươi chín đồng); tổng tiền lãi quá hạn tạm tính đến 30/9/2024 là 1.149.877.936 đồng (Một tỉ một trăm bốn mươi chín triệu tám trăm bảy mươi bảy ngàn chín trăm ba mươi sáu đồng); phí phạt vi phạm là 14.857.798 đồng (Mười bốn triệu tám trăm năm mươi bảy ngàn bảy trăm chín mươi tám đồng). Công ty cổ phần T1 phải trả ngay một lần toàn bộ số tiền nợ nêu trên khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ 01/10/2024 cho đến khi thi hành án xong, Công ty cổ phần T1 còn phải chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP V thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.
Trong trường hợp Công ty T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ thì V1 có quyền yêu cầu ông Nguyễn Cao C, bà Bùi Thị Nam N thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay Công ty TCT theo các Hợp đồng bảo lãnh số H09/21041 ngày 29/01/2021 và Hợp đồng bảo lãnh số H09/21042 ngày 29/01/2021 do ông C và bà N đã ký kết với V1.
Công ty cổ phần T1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 81.834.468 đồng (T mươi mốt triệu tám trăm ba mươi bốn ngàn bốn trăm sáu mươi tám đồng) tại C1 có thẩm quyền.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 33.664.196 đồng (Ba mươi ba triệu sáu trăm sáu mươi bốn ngàn một trăm chín mươi sáu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0002871 ngày 13/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ ĐứC1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Thái Thị Cẩm Hiền |
Bản án số 4826/2024/KDTM-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 4826/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vay tín dụng không thế chấp có bảo lãnh
