Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 482/2025/DS-PT

Ngày 04-12-2025

V/v tranh chấp hụi, vay tài sản

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tiêu Hồng Phượng

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập

Ông Ninh Quang Thế

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Từ Thanh Thuỳ - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 389/2025/TLPT-DS ngày 20 tháng 10 năm 2025 về việc: Tranh chấp hụi, vay tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2025/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 459/2025/QĐ-PT ngày 11 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Lê Thanh T, sinh năm 1979;
  2. CCCD số [...], cấp ngày 16/9/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

  3. Bà Ngô Chúc P, sinh năm 1978;
  4. CCCD số [...], cấp ngày 16/9/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Ngô Chúc P: Ông Lê Thanh T, sinh năm 1979;

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Đ, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn:

  1. Ông Huỳnh Long H, sinh năm 1984;
  2. CCCD số [...], cấp ngày 29/4/2024, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

  3. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1986;
  4. CCCD số [...], cấp ngày 14/8/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Đ, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Long H1 là Luật sư Công ty L và Cộng sự thuộc Đoàn luật sư tỉnh C.

- Người kháng cáo: Ông Huỳnh Long H và bà Nguyễn Thị N là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Lê Thanh T trình bày:

Đối với nợ hụi: Vợ chồng bà Nguyễn Thị N, ông Huỳnh Long H làm chủ hụi, mở nhiều dây hụi, vợ chồng ông tham gia các dây hụi, cụ thể như sau:

- Dây hụi mở ngày 15/6/2019 âm lịch, hụi 5.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần, có 32 phần, vợ chồng ông tham gia 01 phần (Danh sách hụi ghi chị P). Vợ chồng ông hốt hụi ở kỳ 28 được số tiền 132.500.000 đồng (đã trừ tiền hoa hồng). Vợ chồng bà N có giao tiền hụi được 02 lần với tổng số tiền 60.000.000 đồng (không làm biên nhận giao tiền vì cấn trừ vào tiền hụi chết ở dây hụi khác). Vợ chồng bà N còn nợ lại số tiền 72.500.000 đồng, đến nay chưa giao. Dây hụi hiện đã mãn, nay vợ chồng ông yêu cầu vợ chồng bà N giao số tiền 72.500.000 đồng.

- Dây hụi mở ngày 29/6/2020 âm lịch, hụi 5.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần, có 32 phần, vợ chồng ông tham gia 01 phần (Danh sách hụi ghi chị 3 Toàn). Vợ chồng ông hốt hụi ở kỳ 19 được số tiền 87.500.000 đồng (đã trừ tiền hoa hồng). Vợ chồng bà N chưa giao tiền hụi cho vợ chồng ông. Dây hụi hiện đã mãn, nay vợ chồng ông yêu cầu vợ chồng bà N giao số tiền 87.500.000 đồng.

- Dây hụi ngày 09/10/2020 âm lịch, hụi 5.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần, có 25 phần, vợ chồng ông tham gia 02 phần (Danh sách hụi ghi chị 3 Toàn). Vợ chồng ông đóng hụi hết kỳ 16 thì vợ chồng bà N đình hụi. Nay vợ chồng ông yêu cầu vợ chồng bà N trả số tiền 150.000.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền hụi của 03 dây hụi vợ chồng bà N nợ là 310.000.000 đồng; sau đó vợ chồng bà N đã trả được số tiền 88.190.000 đồng bằng cách trừ cấn nợ với một số người là bà Bé N1, bà N2 và bà P (Vợ ông). Vợ chồng bà N còn nợ tiền hụi số tiền 221.810.000 đồng.

Đối với nợ vay: Vợ chồng ông có cho vợ chồng bà N vay tiền nhiều lần, cụ thể như sau: Ngày 12/10/2022 âl vay 50.000.000 đồng, ngày 23/10/2022 âl vay 140.000.000 đồng, ngày 30/10/2022 âl vay 150.000.000 đồng; thoả thuận lãi suất 4%/tháng, do là chỗ anh em nên tại thời điểm vay không lập biên nhận vay tiền. Sau đó theo yêu cầu của ông, vào tháng 7/2023 bà N tự ghi nhận các khoản nợ và ký tên vào sổ của vợ chồng ông (bút lục 05).

Sau khi vay tiền, vợ chồng bà N không trả vốn và lãi cho vợ chồng ông. Do thấy vợ chồng bà N vỡ nợ, không có khả năng trả lãi và biết ông Lê Văn T1 (anh ruột của ông) có nợ tiền hụi và tiền mua nước đá của vợ chồng bà N số tiền 140.000.000 đồng, tương đương với khoản tiền lãi bà N và ông H nợ vợ chồng ông nên ngày 25/9/2023 ông yêu cầu cấn trừ nợ cho ông T1 với phần tiền lãi của vợ chồng ông đối với tiền lãi vợ chồng bà N nợ tại nhà ông T1. Theo đó, tiền lãi được tính từ ngày 01/11/2022 đến ngày 25/9/2023 là 10 tháng 25 ngày, bằng số tiền 147.325.000 đồng, ông giảm cho vợ chồng bà N 7.325.000 đồng, còn lại 140.000.000 đồng, trừ ngang với tiền nợ của ông T1.

Tại thời điểm cấn trừ nợ, vợ chồng bà N xác định đây là tiền lãi, không phải nợ gốc nên tại đoạn ghi hình ông đã cung cấp cho Toà án bà N nói “Còn cái phần lời em nói có anh hai với anh ba luôn là chị ba (vợ anh ba T) là chơi của em 3 chân là chị ba không có đóng mà chị tính tiền lời qua tiền hụi hông à”. Vốn vay vợ chồng bà N còn nợ là 340.000.000 đồng.

Đối với số 188.800 bà N ghi vào sổ của bà P, đây là số tiền bà N tự tính lãi (lãi gần 6 tháng) và ghi vào sổ của bà P theo yêu cầu của bà P. Thực tế bà N không trả số tiền lãi này cho vợ chồng ông.

Vào khoảng tháng 10/2023 theo yêu cầu của ông, bà N tự viết vào sổ của vợ chồng ông đối với nợ hụi và nợ vay (bút lục 06A) theo đó thừa nhận còn nợ vợ chồng ông tổng số tiền 561.810.000 đồng (trong đó hụi là 221.810.000 đồng và vốn vay là 340.000.000 đồng). Nay ông yêu cầu bà N và ông H trả cho vợ chồng ông số tiền 561.810.000 đồng.

Bị đơn ông Huỳnh Long H và bà Nguyễn Thị N thống nhất trình bày:

Ông bà xác định chữ viết, ký Nguyễn Thị N trên 03 giấy (Bút lục 05, 06, 06A) do ông T cung cấp là chữ viết, ký của bà N.

Đối với nợ hụi: Ông bà xác định lời trình bày của ông T là đúng. Tổng số tiền hụi ông, bà nợ vợ chồng ông T là 310.000.000 đồng, sau đó vợ chồng ông đã trả được số tiền 88.190.000 đồng bằng cách trừ cấn nợ với một số người là bà Bé N1, bà N2, bà P (Vợ ông T), còn nợ lại số tiền 221.810.000 đồng. Tuy nhiên, vợ chồng ông đã trả toàn bộ số tiền này cho vợ chồng ông T (bà P nhận trực tiếp). Bà N đã ghi việc trả tiền vào sổ của bà P (bút lục 06), nội dung tại giấy này không phải ghi nợ mà là trả nợ. Bà N và ông H xác định bà N đã trả cho vợ chồng ông T xong nên không còn nợ, không đồng ý trả theo yêu cầu của vợ chồng ông T.

Đối với nợ vay: Ông bà xác định lời trình bày của ông T là đúng. Tổng số tiền vốn ông bà vay vợ chồng ông T là 340.000.000 đồng, đôi bên thoả thuận lãi suất 10%/tháng.

Về lãi vay: Ông bà trả lãi cho vợ chồng ông T được 02 năm hơn 500.000.000 đồng, những lần trả lãi đều không ghi sổ hoặc làm biên nhận. Đối với khoản tiền lãi ông bà đã trả trước đây đã được thực hiện xong nên nay không có yêu cầu gì đối với khoản tiền lãi đã trả xong.

Về vốn vay: Ông bà đã trả như sau: Lần thứ nhất, ông bà đã trả số tiền 188.800.000 đồng, bà N ghi trực tiếp vào sổ của bà P (Bút lục 05), nội dung tại giấy này không phải ghi nợ mà là trả nợ. Lần thứ hai, ông bà trả số tiền 11.200.000 đồng, lần trả này không ghi sổ hoặc làm biên nhận. Lần thứ ba, ông bà cấn trừ nợ giữa ông T và ông Lê Văn T1 (anh ruột ông T), theo đó ông T1 nợ ông T 140.000.000 đồng. Như vậy, sau ba lần trả nêu trên thì ông bà không còn nợ vợ chồng ông T nên không đồng ý trả theo yêu cầu của vợ chồng ông T.

Ông bà xác định thứ tự ghi các giấy vợ chồng ông T cung cấp như sau: Giấy bút lục 06A được ghi đầu tiên vào năm 2023 tại nhà ông bà; giấy bút lục 06 ghi sau giấy bút lục 06A hai tháng; giấy bút lục 05 ghi sau giấy bút lục 06 ba tháng. Ông bà không yêu cầu Toà án trưng cầu giám định chữ viết, ký của bà N tại các giấy này.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2025/DS-ST ngày 24/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau quyết định:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Thanh T và bà Ngô Chúc P.

Buộc ông Huỳnh Long H và bà Nguyễn Thị N trả cho ông Lê Thanh T và bà Ngô Chúc P số tiền 561.810.000 đồng.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 30/7/2025, bà Nguyễn Thị N có đơn kháng cáo, ngày 01/8/2025 ông Huỳnh Long H có đơn kháng cáo, với cùng nội dung yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm ông Huỳnh Long H và bà Nguyễn Thị N vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Phần tranh luận tại phiên tòa:

Luật sư Nguyễn Long H1 tranh luận: Mãnh giấy (BL 06A) là do bị đơn viết trong sổ ghi của bị đơn, không phải biên nhận nợ, yêu cầu nguyên đơn cung cấp bản gốc (BL 06A) để lưu vào hồ sơ nếu không cung cấp được thì đề nghị tạm ngừng phiên toà, số tiền 140.000.000 đồng đối trừ tiền lãi là không có căn cứ mà là tiền gốc, đề nghị hội đồng xét xử cân nhắc lời trình bày của bà T2 tại phiên toà.

Ông H không tranh luận.

Bà N tranh luận: Mãnh giấy (BL 06A) không phải biên nhận nợ, giấy này của bị đơn tự ghi để biết việc trả nợ nhưng nguyên đơn xin để xem nên bị đơn cho, từ đó nguyên đơn lại làm tài liệu khởi kiện bị đơn.

Ông T tranh luận: Bà N viết giấy chốt nợ trong sổ theo dõi của vợ chồng ông là theo yêu cầu của ông chứ không như lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn và bà N, yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng quy định của pháp luật tố tụng; các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Long H và bà Nguyễn Thị N, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2025/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Ông Huỳnh Long H và bà Nguyễn Thị N kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm. Lí do kháng cáo bị đơn cho rằng đối với số tiền hụi 221.810.000 đồng bị đơn đã trả xong cho bà P; đối với số tiền vay 340.000.000 đồng, ông bà đã trả 200.000.000 đồng, còn 140.000.000 đồng là vay giùm cho ông T1 nên giữa ông bà với bà P và ông T1 có giáp mặt giao phần nợ này cho ông T1 trả cho bà P. Do ông bà đã trả tiền hụi và tiền vay cho vợ chồng ông T xong nên không còn nợ.

[2] Xét kháng cáo của ông H và bà N, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Đối với tiền nợ hụi:

Tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn thống nhất các nội dung bao gồm: Ngày mở hụi, loại hụi, số phần hụi vợ chồng ông T tham gia, số tiền vợ chồng ông T lãnh hụi, số tiền hụi vợ chồng ông H nợ vợ chồng ông T là 310.000.000 đồng, vợ chồng ông H đã trả cho vợ chồng ông T số tiền 88.190.000 đồng (trả bằng cách đối trừ nợ), còn lại số tiền 221.810.000 đồng.

Bị đơn bà N xác định chữ viết, ký trên sổ của bà P (Bút lục 06, 06A) là bà N tự ghi, có nội dung: “Hụi 15/ 72.500; hụi 29/ 87.800; hụi 9/ 150.000; tổng 310.000 88.190 bằng 221.810; Nhiến”. “Hụi 15/ 72.500; hụi 29/ 87.800; hụi 9/ 150.000; tổng 310.000 – 88.190 bằng 221.810 + 340.000 bằng 561.810. Hụi Bé 5 là 69.500, Nhiên 14.194, đá 4.500 bằng 88.190” là không phải ghi nợ mà là trả nợ. Nhận thấy, hai văn bản nêu trên đều không có nội dung trả nợ, trường hợp bà N đã trả nợ cho bà P thì bà N phải thu hồi hoặc huỷ bỏ, gạch bỏ nội dung này trên sổ của bà P, chứ không để bà P cất giữ sổ có nội dung ghi nợ như hiện nay. Do bà N không chứng minh được đã trả cho bà P khoản nợ hụi theo giấy ghi nợ nêu trên nên bà N phải tự gánh chịu hậu quả của việc không chứng minh hoặc chứng minh không đầy đủ theo quy định của pháp luật. Như vậy, có đủ cơ sở xác định bà N chưa trả cho bà P số tiền 221.810.000 đồng.

[2.2] Đối với tiền nợ vay:

Tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn thống nhất xác định nguyên đơn có cho bị đơn vay tiền nhiều lần tổng cộng 340.000.000 đồng.

Bà N thừa nhận chữ viết, ký trên sổ của bà P (bút lục 05) là bà N tự ghi, có nội dung: “12/10/ 50; 23/10/ 140; 30/10/ 150; 1.88.800; Nhiến, Nguyễn Hồng N3”.

Bà N3 xác định đã trả cho bà P số tiền 340.000.000 đồng, các lần trả cụ thể như sau: Lần thứ nhất, trả 188.800.000 đồng, bà N3 ghi trực tiếp vào sổ của bà P (bút lục 05) nội dung tại giấy này không phải ghi nợ mà là trả nợ. Lần thứ hai, trả 11.200.000 đồng, lần trả này không ghi sổ hoặc làm biên nhận. Lần thứ ba, cấn trừ nợ với ông Lê Văn T1 (anh ruột ông T) số tiền 140.000.000 đồng.

Đối với số tiền 188.800.000 đồng: Xét thấy, sổ ghi của nguyên đơn (bút lục 05) có số 188.800, bị đơn cho rằng đây là số tiền vốn đã trả cho nguyên đơn. Do sổ ghi không thể hiện việc bị đơn đã trả số tiền này cho nguyên đơn, trong khi nguyên đơn cho rằng đây là số tiền bị đơn tự tính lãi và ghi vào sổ của nguyên đơn và thực tế nguyên đơn chưa nhận được số tiền lãi này, do đó việc bà N3 ghi vào sổ của bà P số 188.800 không chứng minh được việc bị đơn đã trả số tiền vốn 188.800.000 đồng cho nguyên đơn, trong khi nguyên đơn không thừa nhận. Do đó, không có cơ sở để xác định bị đơn đã trả cho nguyên đơn số tiền vốn 188.800.000 đồng.

Đối với số tiền 11.200.000 đồng: Xét thấy, ngoài lời khai, bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh đã trả số tiền vốn này cho nguyên đơn, trong khi nguyên đơn không thừa nhận. Do đó, không có cơ sở để xác định bị đơn đã trả cho nguyên đơn số tiền vốn 11.200.000 đồng.

Đối với số tiền 140.000.000 đồng cấn trừ nợ với ông Lê Văn T1: Nguyên đơn cho rằng số tiền này là tiền lãi, bị đơn cho rằng số tiền này là tiền vốn. Xét thấy, tuy tại biên bản ghi ý kiến của ông Lê Văn T1 ngày 20/6/2025, ông T1 xác định không biết số tiền này là tiền lãi hay tiền vốn nhưng tại đoạn ghi hình được thực hiện ngày 25/9/2023 tại nhà ông T1, bà N3 nói: “Còn cái phần lời em nói có anh hai với anh ba luôn là chị ba (vợ anh ba T) là chơi của em 3 chân là chị ba không có đóng mà chị tính tiền lời qua tiền hụi hông à” và tại sổ ghi (Bút lục 06A) bà N3 đã tự ghi vào sổ của bà P tổng số tiền 561.810.000 đồng, trong đó có tiền vay 340.000.000 đồng. Trường hợp, bà N3 đã trả số tiền vốn vay 340.000.000 đồng cho bà P thì không có lý do gì bà N3 lại thừa nhận tại nhà ông Tiếng là tiền lãi và không tự ghi số tiền vay còn nợ là 340.000.000 đồng vào sổ của bà P. Những nội dung này phù hợp với lời khai của nguyên đơn 140.000.000 đồng là tiền lãi. Do đó, không có cơ sở để xác định bị đơn đã trả cho nguyên đơn số tiền vốn 140.000.000 đồng.

[3] Do đó, án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, bà P. Buộc ông H và bà N3 trả tổng số tiền 561.810.000 đồng là có căn cứ.

[4] Tại phiên toà phúc thẩm:

[4.1] Đối với tiền nợ hụi: Bà N3 cung cấp Tờ tường trình của người chứng kiến cũng như tờ tường trình của bà N3 có xác nhận của người chứng kiến việc bà N3 trả số tiền 221.810.000 đồng tiền hụi cho vợ chồng ông T. Xét thấy: Lời xác nhận của những người chứng kiến do bị đơn cung cấp cũng như lời trình bày của bà T2 tại toà phúc thẩm hoàn toàn mâu thuẫn với lời trình bày của bị đơn tại cấp sơ thẩm (bút lục 80) và diễn biến tại phiên toà sơ thẩm nên lời trình bày của những người chứng kiến này không đáng tin cậy để cấp phúc thẩm xem xét.

[4.2] Đối với nợ vay: Bà N3, ông H cho rằng số tiền 340.000.000 đồng tiền vốn vay, ông bà đã trả 200.000.000 đồng, còn 140.000.000 đồng là vay giùm cho ông T1 nên giữa ông bà với bà P và ông T1 có giáp mặt giao phần nợ này cho ông T1 trả cho bà P, mãnh giấy (bút lục 06A) không phải biên nhận nợ, giấy này của bị đơn tự ghi trên sổ của bị đơn để biết việc trả nợ cho bà P, nguyên đơn xin để xem nhưng lại làm tài liệu khởi kiện buộc bị đơn trả nợ. Xét thấy: Lý do kháng cáo và lời trình bày của bị đơn hoàn toàn mâu thuẫn với lời trình bày của bị đơn tại (bút lục 80) và diễn biến tại phiên toà sơ thẩm. Tại phiên toà phúc thẩm bị đơn không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ gì khác để chứng minh bị đơn đã trả hết nợ vốn vay số tiền 340.000.000 đồng, nên lời đề nghị của Luật sư và trình bày của bị đơn là không có cơ sở chấp nhận.

[5] Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Long H và bà Nguyễn Thị N. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2025/DS-ST ngày 24/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là phù hợp.

[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông H, bà N không được chấp nhận nên ông H, bà N phải chịu án phí theo quy định, đã dự nộp được chuyển thu.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Long H và bà Nguyễn Thị N.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2025/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Thanh T và bà Ngô Chúc P.
  2. Buộc ông Huỳnh Long H và bà Nguyễn Thị N trả cho ông Lê Thanh T và bà Ngô Chúc P số tiền 561.810.000 đồng (năm trăm sáu mươi mốt triệu tám trăm mười nghìn đồng), (trong đó: tiền hụi 221.810.000 đồng, tiền vốn vay 340.000.000 đồng).

    Kể từ ngày ông T, bà P có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền được thi hành án, nếu ông Huỳnh Long H và bà Nguyễn Thị N chậm thi hành thì hàng tháng ông H, bà N còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm:
  4. - Ông Huỳnh Long H và bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí số tiền 26.472.000 đồng (hai mươi sáu triệu bốn trăm bảy mươi hai nghìn đồng), ông H và bà N chưa nộp.

    - Ông Lê Thanh T và bà Ngô Chúc P không phải chịu án phí. Ngày 21/3/2025 ông T và bà P đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 13.236.000 đồng tại biên lai thu số 0005365 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Cà Mau), được nhận lại.

  5. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Huỳnh Long H và bà Nguyễn Thị N mỗi người phải chịu 300.000 đồng. Trong các ngày 01/8/2025 và 30/7/2025 ông H, bà N mỗi người đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo các biên lai thu số 0011502, 0011489 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được chuyển thu.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau;
  • - Phòng THADS Khu vực 3 - Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Tiêu Hồng Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 482/2025/DS-PT ngày 04/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi, vay tài sản

  • Số bản án: 482/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi, vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger