|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 482/2024/DS-PT Ngày: 28 – 5 - 2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ánh
Các Thẩm phán:
- Bà Nguyễn Thị Kim Cương
- Bà Nguyễn Thị Lan Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Vũ Xuân Hương – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bạch Ngọc Hiếu - Kiểm sát viên.
Vào ngày 28/5/2024, tại Phòng xử án dân sự Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 266/2024/TLPT-DS ngày 14 tháng 03 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 686/2023/DS-ST ngày 20/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh bị bà Lê Thị L (bị đơn) có ông Vũ Xuân H đại diện kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1759/2024/QĐ-PT ngày 03/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 5686/2024/QĐ-PT ngày 03/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lương Thị B, sinh năm 1957.
- Bị đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1967.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1958, (có đơn xin vắng mặt).
- Bà Nguyễn Hoài T, sinh năm 1988, (có đơn xin vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bà Lê Thị L (bị đơn).
Địa chỉ: Chung cư B (số C), đường P, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Thu H1, sinh năm 2000; Địa chỉ: Lầu I, số A đường H, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Hợp đồng ủy quyền lập ngày 16/8/2023 tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh; số 006190, quyển số 08), (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy A – Luật sư của Công ty TNHH Q, Đoàn luật sư Thành phố H; Địa chỉ: A đường H, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).
Địa chỉ: 1 đường N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Xuân H, sinh năm 1974; Địa chỉ: 1 Ni Sư H, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền lập ngày 20/6/2023 tại Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh; số 002361, quyển số 06), (có mặt).
Cùng địa chỉ: Chung cư B (số C), đường P, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại Đơn khởi kiện ngày 02/02/2023 và Đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện các ngày 28/02/2023, 24/8/2023 của nguyên đơn bà Lương Thị B (có bà Lê Thị Thu H1 là người đại diện theo ủy quyền) trình bày:
- Phải trả ngay một lần 920.000.000 đồng nợ gốc và tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc, mức lãi 20%/năm, tạm tính đến tháng 8/2023 là 914.660.000 đồng, cụ thể tiền lãi như sau:
- Nguyên đơn sẽ trả lại bị đơn bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở của căn hộ B, tầng 2, Chung cư C P, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi bị đơn trả hết nợ cho nguyên đơn.
- Bị đơn bà Lê Thị L (có ông Vũ Xuân H là đại diện theo ủy quyền) trình bày:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn C trình bày: Ông là chồng của nguyên đơn, khoản tiền nguyên đơn cho bị đơn mượn là tiền riêng của nguyên đơn. Ông không biết việc cho vay, trả tiền giữa nguyên đơn, bị đơn, nhận thấy việc khởi kiện của nguyên đơn là đúng quy định nên đề nghị Tòa án nhân dân quận Tân Bình chấp nhận. Ông xin được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, kể cả xét xử.
- Chị Nguyễn Hoài T trình bày: Chị là con gái của nguyên đơn, số tiền nguyên đơn cho bị đơn mượn là tài sản riêng của nguyên đơn, do nguyên đơn không có tài khoản ngân hàng nên ngày 05/10/2022 chị đã nhận chuyển khoản 120.000.000 đồng từ Nguyễn Lê Thanh H2 (con gái bị đơn) và 10.000.000 đồng từ anh Từ Anh H3 ngày 01/02/2023, chị đã giao đủ cho nguyên đơn 130.000.000 đồng. Chị không có ý kiến đối với việc vay mượn giữa nguyên đơn và bị đơn, bị đơn xác nhận có mượn tiền nên đề nghị Tòa án xem xét giải quyết yêu cầu của nguyên đơn theo đúng quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích của nguyên đơn. Chị T1 có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết và xét xử vụ án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lương Thị B.
- Buộc bà Lê Thị L có trách nhiệm trả cho bà Lương Thị B 1.478.316.522 (một tỷ bốn trăm bảy mươi tám triệu ba trăm mười sáu ngàn năm trăm hai mươi hai) đồng, bao gồm: 920.000.000 đồng nợ gốc và 558.316.522 đồng nợ lãi.
- Đình chỉ yêu cầu của bà Lương Thị B về việc yêu cầu bà Lê Thị L phải trả 395.080.000 (ba trăm chín mươi lăm triệu không trăm tám mươi ngàn) đồng tiền lãi từ khi mượn tiền cho đến tháng 5/2021.
- Ngay sau khi bà Lê Thị L trả hết tiền cho bà Lương Thị B, bà Lương Thị B có trách nhiệm trả lại bà Lê Thị L bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 760/UB.GCN do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/4/2007 cho căn hộ 208, tầng 2, Chung cư C P, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về thời hạn thi hành: Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về địa điểm thi hành: Thi hành tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
- Đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Kể từ ngày bà Lương Thị B có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bà Lê Thị L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Về án phí: Bà Lê Thị L phải chịu 56.349.495 (năm mươi sáu triệu ba trăm bốn mươi chín ngàn bốn trăm chín mươi lăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngày 29/10/2019, nguyên đơn có cho bà Lê Thị L (bị đơn) mượn 700.000.000 đồng, ngày 27/8/2020 cho mượn 1.000.000.000 đồng và ngày 03/12/2020 cho mượn 300.000.000 đồng. Để làm tin cho việc vay mượn tiền, bị đơn có đưa cho nguyên đơn bản chính giấy tờ nhà của căn hộ B, tầng B, Chung cư C P, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nay nguyên đơn khởi kiện, yêu cầu bị đơn:
- Tiền lãi từ giai đoạn 03 khoản nợ cho đến tháng 5/2021:
+ Ngày 29/10/2019 đến tháng 5/2021: 700.000.000 đồng x 1,66 x 19 tháng = 220.780.000 đồng.
+ Ngày 27/8/2020 đến tháng 5/2021: 1.000.000.000 đồng x 1.66 x 9 tháng = 149.400.000 đồng.
+ Ngày 03/12/2020 đến tháng 5/2021: 300.000.000 đồng x 1.66 x 5 tháng = 24.900.000 đồng.
- Tiền lãi từ tháng 5/2021 đến ngày 24/10/2022 (nợ gốc còn 1.300.000.000 đồng): 1.300.000.000 đồng x 1,66 x 17 tháng = 366.860.000 đồng.
Tiền lãi từ ngày 24/10/2022 tạm tính đến tháng 8/2023 (nợ gốc còn 920.000.000 đồng): 920.000.000 đồng x 1,66 x 10 tháng = 152.720.000 đồng.
Từ khi vay tiền cho đến tháng 5/2021, bị đơn có trả nguyên đơn được 700.000.000 đồng nợ gốc, nhưng thất lạc số ghi chép nên nguyên đơn không nhớ chính xác ngày trả tiền và số tiền trả cụ thể. Ngày 24/10/2022, bị đơn trả nguyên đơn 250.000.000 đồng tiền mặt. Nguyên đơn có nhận chuyển khoản 130.000.000 đồng, không nhớ rõ ngày bị đơn chuyển khoản.
Trong hợp đồng vay tiền giữa nguyên đơn, bị đơn không có lãi nhưng thực tế thì từ khi vay tiền cho đến tháng 5/2021, bị đơn vẫn trả lãi cho nguyên đơn do nguyên đơn yêu cầu. Bị đơn không đồng ý tính lãi do hai bên không có thỏa thuận, việc tính lãi sai vì không trừ gốc đã trả và không xác định được thời gian trả gốc. Đến tháng 5/2021, bị đơn còn nợ nguyên đơn 1.300.000.000 đồng, sau đó đã trả thêm 250.000.000 đồng tiền mặt và 130.000.000 đồng qua chuyển khoản nên nợ gốc còn 920.000.000 đồng. Theo tinh thần hòa giải và cũng để giải quyết cho xong vụ án, ông đề nghị trả cho nguyên đơn 1.050.000.000 đồng (bao gồm 920.000.000 đồng nợ gốc và tự nguyện trả 130.000.000 đồng tiền lãi) để chấm dứt việc vay mượn tiền giữa nguyên đơn và bị đơn. Bị đơn sẽ trả ngay 550.000.000 đồng, số tiền còn lại 30 ngày sau khi trả tiền lần đầu hàng tháng phía bị đơn sẽ trả 100.000.000 đồng. Nếu nguyên đơn không đồng ý thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 686/2023/DS-ST ngày 20/12/2023, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của đương sự và việc thi hành án.
- Ngày 03/01/2024, Tòa án nhận được đơn kháng cáo của ông Vũ Xuân H (đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Lê Thị L), kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ.
* Ông Vũ Xuân H là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Lê Thị L trình bày nội dung kháng cáo và các căn cứ kháng cáo như sau:
Bị đơn bà Lê Thị L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay bị đơn đề xuất phương án hòa giải như sau: Bị đơn đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 920.000.000 đồng và tiền lãi là 280.000.000 đồng, tổng cộng là 1.200.000.000 đồng. Thời hạn trả là: Số tiền 1.000.000.000 đồng trả trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực, số tiền 200.000.000 đồng còn lại trả trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực. Ngay sau khi bị đơn trả hết số tiền 1.200.000.000 đồng cho nguyên đơn, thì nguyên đơn có nghĩa vụ trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 760/UB.GCN do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/4/2007 (căn hộ 208, tầng B, Chung cư C P, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh) cho bị đơn. Án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn nộp theo quy định của pháp luật. Bị đơn không có yêu cầu nào khác trong vụ án này.
* Bà Lê Thị Thu H1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lương Thị B trình bày: Nguyên đơn không kháng cáo bản án sơ thẩm. Đối với ý kiến đề xuất của bị đơn, tôi đề nghị Luật sư của nguyên đơn phát biểu thay tôi nội dung này, tôi có cùng ý kiến với Luật sư.
* Luật sư Nguyễn Anh D là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Sau khi được Hội đồng xét xử phân tích các quy định của pháp luật có liên quan và tạo điều kiện để các bên thương lượng hòa giải, tôi đã trao đổi với nguyên đơn và nguyên đơn đồng ý với phương án hòa giải như người đại diện của bị đơn đã trình bày nói trên. Vì vậy, tại phiên tòa này, nguyên đơn đồng ý hòa giải theo phương án như bị đơn đề xuất, đề nghị Hội đồng xét xử công nhận. Án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn nộp theo quy định.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm như sau: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng pháp luật. Kháng cáo của bà Lê Thị L (bị đơn) thực hiện trong thời hạn luật định, hợp lệ nên chấp nhận.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Xét thấy, sự thỏa thuận của đương sự phù hợp quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng.
- [1.1] Thời hạn kháng cáo.
- [1.2] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ vay và lãi suất, bị đơn bà Lê Thị L cư trú tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, nên Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết và xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp Hợp đồng vay tài sản, là đúng quy định.
- [1.3] Xác định tư cách những người tham gia tố tụng.
- [1.4] Nguyên đơn bà Lương Thị B ủy quyền cho bà Lê Thị Thu H1 đại diện, bị đơn bà Lê Thị L ủy quyền cho ông Vũ Xuân H đại diện, các văn bản ủy quyền hợp lệ. Nguyên đơn và bị đơn cùng vắng mặt nhưng có người đại diện tham gia tố tụng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Hoài T có đơn xin vắng mặt. Căn cứ đoạn 4 khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- [2] Về nội dung.
- [2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Lương Thị B (có bà Lê Thị Thu H1 đại diện) và bị đơn là bà Lê Thị L (có ông Vũ Xuân H đại diện) cùng thỏa thuận: Bị đơn đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 920.000.000 đồng và tiền lãi là 280.000.000 đồng, tổng cộng là 1.200.000.000 đồng. Thời hạn trả như sau: Số tiền 1.000.000.000 đồng trả trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực, số tiền 200.000.000 đồng còn lại trả trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực. Ngay sau khi bị đơn trả hết số tiền 1.200.000.000 đồng cho nguyên đơn, thì nguyên đơn có nghĩa vụ trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 760/UB.GCN do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/4/2007 (căn hộ 208, tầng B, Chung cư C P, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh) cho bị đơn. Án phí dân sự sơ thẩm bị đơn nộp theo quy định.
- [2.2] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Lê Thị L phải nộp tính trên số tiền phải trả cho nguyên đơn (1.200.000.000 đồng), án phí được tính: 36.000.000 đồng + (3% x 400.000.000) = 48.000.000 đồng.
- [3] Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo bà Lê Thị L (bị đơn) phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ hết vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng mà bà Lê Thị L đã nộp (có ông Vũ Xuân H đại diện nộp thay) theo Biên lai thu số 0001039 ngày 10/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị L đã nộp đủ.
Ngày 20/12/2023, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử và tuyên Bản án dân sự sơ thẩm số 686/2023/DS-ST. Ngày 03/01/2024, bị đơn bà Lê Thị L (có ông Vũ Xuân H đại diện) nộp đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hợp lệ nên chấp nhận.
Bà Nguyễn Lê Thanh H2 có văn bản ngày 09/10/2023 (bút lục 132) xác định, bà có cho mẹ là bà Lê Thị L mượn số tiền 120.000.000 đồng để trả nợ cho bà Lương Thị B thông qua tài khoản của bà Nguyễn Hoài T (con của bà B). Bà còn mượn bạn là ông Từ A1 Huy tiền để trả nợ cho mẹ, cũng trả qua tài khoản của bà Nguyên Hoài T2. Bà chỉ là người cho mẹ bà mượn tiền để trả nợ cho bà B, bà không liên quan đến số tiền mà mẹ bà đã vay của bà Lương Thị B, nên bà không có quyền lợi, nghĩa vụ gì trong vụ án. Nếu việc khởi kiện ảnh hưởng đến quyền lợi của bà, thì bà sẽ khởi kiện trong vụ án khác, đề nghị Tòa án không gửi giấy triệu tập bà.
Ông Từ Anh H4 có văn bản ngày 09/10/2023 (bút lục 131) xác nhận, ông là bạn của bà Nguyễn Lê Thanh H2 (con bà Lê Thị L). Bà H2 có nhờ ông chuyển số tiền 10.000.000 đồng để trả nợ cho bà Lê Thị Liên thông q tài khoản của bà Nguyễn Hoài T (con gái bà Lương Thị B). Ông không biết tiền này trả cho ai, không biết bà Lê Thị L mượn tiền của ai, số tiền bao nhiêu. Ông chỉ là người cho bà Nguyễn Lê Thanh H2 mượn tiền, không liên quan đến việc bà Lê Thị L mượn tiền (nếu có), nên hoàn toàn không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan đến việc khởi kiện của bà Lương Thị B.
Vì vậy, cấp sơ thẩm không triệu tập bà Nguyễn Lê Thanh H2 và ông Từ Anh H4 tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, là đúng quy định.
Xét, các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu tại phiên tòa.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoàn Điều 357, Điều 463, khoản 1 Điều 465, Điều 466, Điều 468, khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
Căn cứ khoản 2 Điều 26 và khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
X:
- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị L (có ông Vũ Xuân H đại diện). Sửa bản án dân sự sơ thẩm và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:
- Bà Lê Thị L (bị đơn) có trách nhiệm trả cho bà Lương Thị B (nguyên đơn) số tiền 1.200.000.000 (một tỷ hai trăm mười triệu) đồng, bao gồm: 920.000.000 (chín trăm hai mươi triệu) đồng nợ gốc và 280.000.000 (hai trăm tám mươi triệu) đồng tiền lãi. Thời hạn trả như sau:
- - Số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng trả trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực;
- - Số tiền còn lại là 200.000.000 đồng trả trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực.
- Ngay sau khi bà Lê Thị L (bị đơn) trả hết số tiền 1.200.000.000 (một tỷ hai trăm triệu) đồng cho bà Lương Thị B (nguyên đơn), thì bà Lương Thị B có nghĩa vụ trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 760/UB.GCN do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/4/2007 (căn hộ 208, tầng B, Chung cư C P, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh) cho bà Lê Thị L.
- Án phí dân sự sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm.
Đến hạn trả nợ, bà Lương Thị B có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu bà Lê Thị L không trả hoặc trả không đủ thì bà Lê Thị L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận, nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Bà Lê Thị L phải nộp 48.000.000 (bốn mươi tám triệu) đồng.
Bà Lê Thị L phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ hết vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng mà bà Lê Thị L đã nộp (có ông Vũ Xuân H đại diện nộp thay) theo Biên lai thu số 0001039 ngày 10/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị L đã nộp đủ.
Các đương sự thi hành tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Ánh |
Bản án số 482/2024/DS-PT ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 482/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
