|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH *** |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc *** |
Bản án số: 482/2024/DS-ST
Ngày: 12/7/2024
V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán trái phiếu
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thiện
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Xuân Thảo
- Bà Phạm Thị Mai
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 428/2023/TLST-DS ngày 23/10/2023 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán trái phiếu” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 394/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1966
Địa chỉ: 5 Đường A, Khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh - Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ1
Địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà C, số E Y, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Công ty Cổ phần C
Trụ sở: Tầng F, G L, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đoàn Văn Đ, sinh năm 1959, địa chỉ liên hệ: A T, Khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền.
(Ông Đ có đơn xin vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Kiều L, sinh năm 1988, địa chỉ: B Tuy L, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo pháp luật.
(Bà L vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của Công ty Cổ phần C: Ông Trần Duy H, sinh năm 1990, địa chỉ: Tổ E, T, L, Hà Nội, là người đại diện theo ủy quyền.
(Ông H có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/9/2023 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 05/12/2023 của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng P và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có người đại diện hợp pháp trình bày:
Ngày 15/3/2022 Công ty Cổ phần C (Sau đây gọi tắt là Công ty C) thay mặt Công ty Cổ phần Đ1 (Sau đây gọi tắt là Công ty Đ1) ký với bà Nguyễn Thị Hồng P Hợp đồng mua bán trái phiếu số 150-000572/FLEX. VTPCH2126001/HĐMB và Hợp đồng môi giới bán trái phiếu số 150- 000572/FLEX. VTPCH2126001/HĐMG. Tổng số tiền bà Phước mua trái phiếu là 700.133.778 đồng. Ngay khi ký hợp đồng bà Phước đã giao số tiền trên cho bên bán và bên bán đã cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu trái phiếu số 150- 000572/FLEX.VTPCH2126001 cho bà Phước.
Ngày 21/3/2022 bà Phước tiếp tục mua trái phiếu, Công ty C thay mặt Công ty Đ1 lập tiếp với bà Nguyễn Thị Hồng P Hợp đồng mua bán trái phiếu số 150- 000582/FLEX.VTPCH2126003/HĐMB và Hợp đồng môi giới bán trái phiếu số 150-000582/FLEX.VTPCH2126003/HĐMG số tiền là 1.000.076.021 đồng. Ngay khi ký hợp đồng bà Phước đã giao số tiền trên cho bên bán và bên bán cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu trái phiếu số 150-000582/FLEX.VTPCH2126003 cho bà Phước.
Theo thỏa thuận tại các hợp đồng mua bán trái phiếu trên thì việc thanh toán lãi trái phiếu phải trả định kỳ 6 tháng trả 1 lần cho đến ngày đáo hạn. Tuy nhiên từ ngày 15/3/2022 (Ngày mua trái phiếu lần đầu) đến nay bên bán không trả tiền gì cho bà Phước. Bà Phước rất nhiều lần yêu cầu bên bán thanh toán tiền nhưng không thành.
Nay nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Hồng P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy Hợp đồng mua bán trái phiếu số 150-000572/FLEX. VTPCH2126001/HĐMG và Hợp đồng mua bán trái phiếu số 150- 000582/FLEX.VTPCH2126003/HĐMG giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng P và bị đơn Công ty Đ1 (Có Công ty C thay mặt bị đơn ký với nguyên đơn); Đồng thời buộc Công ty Đ1 trả cho bà Nguyễn Thị Hồng P số tiền 2.125.000.000 đồng trong đó bao gồm tiền vốn theo 2 hợp đồng trên là 1.700.209.799 đồng và tiền lãi tạm tính đến tháng 11/2023 số tiền là 425.000.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Công ty Cổ phần Đ1 vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Quá trình giải quyết vụ án, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần C có gửi văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng P như sau:
Công ty C được chọn làm Đại lý đăng ký, lưu ký và đại lý thanh toán và Đại diện người sở hữu trái phiếu đối với Trái phiếu VTPCH2126001/VTPCH2126003 do Công ty Đ1 phát hành theo Hợp đồng đại lý đăng ký, lưu ký và đại lý thanh toán số 03/2021 ngày 28/05/2021 và Hợp đồng Đại diện người sở hữu trái phiếu số 01/2021/HĐĐD/VTP-TVSI ký ngày 28/05/2021 giữa Công ty C và Công ty Đ1.
Khi Tổ Chức Phát Hành là Công ty Đ1 phát sinh Sự Kiện Vi Phạm quy định tại bản Các Điều Kiện Trái Phiếu VTPCH2126001/VTPCH2126003, Công ty C với tư cách Đại lý đăng ký, lưu ký, đại lý thanh toán và Đại diện người sở hữu trái phiếu VTPCH2126001/VTPCH2126003 đã thực hiện đúng và đầy đủ các vai trò của mình theo các H1 đồng/văn kiện đã kí kết nhằm đảm bảo quyền lợi cho Người sở hữu trái phiếu. Ngày 03/10/2022 Đ2 đã gửi Thông báo số 1064/TB TVSI về việc thanh toán lãi trái phiếu VTPCH2126004 tới Tổ Chức Phát Hành. Trong đó thời hạn thanh toán là ngày 24/10/2022, tuy nhiên đến thời điểm 25/10/2022 Đ2 vẫn chưa nhận được bất kỳ khoản thanh toán nào từ Tổ Chức Phát Hành. Do đó, ngày 25/10/2022, Đại diện người sở hữu trái phiếu đã gửi công văn số 1237/2022/CV-TVSI để thông báo vi phạm và yêu cầu mua lại trước hạn Trái Phiếu Vạn Trường P1 gửi tới Tổ C Phát Hành. Tổ chức Phát Hành đã phát sinh Sự Kiện Vi Phạm “Vi phạm chéo” quy định tại Điều 9.1(i) Các Điều Kiện Trái Phiếu VTPCH2126001/VTPCH2126003 dẫn đến việc phải mua lại toàn bộ các Trái Phiếu đã phát hành có tổng giá trị theo mệnh giá là 10.000.000.000.000 đồng (Mười ngàn tỷ đồng) trong vòng 10 ngày làm việc ngay sau ngày Tổ Chức Phát Hành nhận được thông báo của Đại Diện Người Sở Hữu Trái Phiếu là ngày 08/11/2022.
Theo quy định tại Hợp đồng đại lý số 03/2021 ngày 28/05/2021 giữa Công ty C và Công ty Đ1 cũng như bản Các Điều Kiện Trái Phiếu VTPCH2126001/VTPCH2126003 đã quy định rõ Công ty C với tư cách Đại lý thanh toán chỉ tiến hành thanh toán tiền gốc, lãi trái phiếu cho Người sở hữu Trái phiếu khi Tổ chức Phát hành chuyển tiền. Với tư cách Đại lý thanh toán, Công ty C sẽ không chịu trách nhiệm đối với trường hợp Tổ chức phát hành vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Không thanh toán, không thanh toán đủ, thanh toán chậm) cho Người sở hữu trái phiếu.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn có người đại diện hợp pháp là ông Đoàn Văn Đ có đơn xin vắng mặt và nguyên đơn gửi bản tự khai trình bày:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng P xác định lại yêu cầu khởi kiện cụ thể như sau:
- Nguyên đơn rút lại yêu cầu tòa án tuyên Hủy hợp đồng mua bán trái phiếu số 150-000572/FLEX.VTP.VTPCH2126001/HĐMG ngày 15/3/2022 và Hợp đồng số 150-000582/FLEX.VTP.VTPCH2126003/HĐMG ngày 21/3/2022.
- Nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết:
Buộc Công ty Đ1 có trách nhiệm mua lại Trái phiếu VTPCH2126001 theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu trái phiếu số: 150-000572/FLEX.VTPCH2126001 (Bà Nguyễn Thị Hồng P là chủ sở hữu trái phiếu) với giá tính đến ngày 12/7/2024 là 890.284.716 đồng, trong đó: Dư nợ gốc theo mệnh giá là 681.000.000 đồng, lãi phạt trên phần gốc Trái phiếu từ ngày 08/11/2022 đến 12/7/2024 là 171.789.993 đồng, lãi Trái phiếu kỳ 3 từ ngày 01/6/2022 đến ngày 08/11/2022 là 29.941.611 đồng, lãi phạt trên phần lãi Trái phiếu kỳ 3 từ ngày 08/11/2022 đến ngày 12/7/2024 là 7.553.112 đồng.
Buộc Công ty Đ1 có trách nhiệm mua lại Trái phiếu VTPCH2126003 theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu trái phiếu số: 150-000582/FLEX.VTPCH2126003 (Bà Nguyễn Thị Hồng P là chủ sở hữu trái phiếu) với giá tính đến ngày 12/7/2024 là 1.269.633.742 đồng, trong đó: Dư nợ gốc theo mệnh giá là 997.000.000 đồng, lãi phạt trên phần gốc Trái phiếu từ ngày 08/11/2022 đến 12/7/2024 là 253.259.852 đồng, lãi Trái phiếu kỳ 3 từ ngày 13/9/2022 đến ngày 08/11/2022 là 15.449.403 đồng, lãi phạt trên phần lãi Trái phiếu kỳ 3 từ ngày 08/11/2022 đến ngày 12/7/2024 là 3.924.487 đồng.
Tổng cộng yêu cầu Công ty Đ1 phải trả cho nguyên đơn số tiền mua lại hai trái phiếu trên là: 2.159.918.458 (Hai tỉ một trăm năm mươi chín triệu chín trăm mười tám nghìn bốn trăm năm mươi tám) đồng
Kể từ ngày 13/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, Công ty Đ1 còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền chưa thi hành án xong theo mức lãi suất quy định trong Phụ lục I: Các điều kiện trái phiếu của Hợp đồng đại lý đăng ký, lưu ký và đại lý thanh toán số 03/2021 ngày 28/5/2021 giữa Công ty Đ1 và Công ty C.
Bị đơn Công ty Cổ phần Đ1 vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần C có đơn xin xét xử vắng mặt và có gửi bản tự khai trình bày đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi Tòa án nhân dân quận Tân Bình thụ lý vụ án đến nay, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng P là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ thể:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc Hủy hợp đồng mua bán trái phiếu số 150-000572/FLEX.VTP.VTPCH2126001/HĐMG ngày 15/3/2022 và Hợp đồng số 150-000582/FLEX.VTP.VTPCH2126003/HĐMG ngày 21/3/2022.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng P:
Buộc Công ty Đ1 có trách nhiệm mua lại Trái phiếu VTPCH2126001 theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu trái phiếu số: 150-000572/FLEX.VTPCH2126001 với giá tính đến ngày 12/7/2024 là 890.284.716 đồng. Buộc Công ty Đ1 có trách nhiệm mua lại Trái phiếu VTPCH2126003 theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu trái phiếu số: 150-000582/FLEX.VTPCH2126003 với giá tính đến ngày 12/7/2024 là 1.269.633.742 đồng. Tổng cộng Công ty Đ1 phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Hồng P số tiền mua lại hai trái phiếu trên là: 2.159.918.458 đồng
Kể từ ngày 13/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, Công ty Đ1 còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền chưa thi hành án xong theo mức lãi suất quy định trong Phụ lục I: Các điều kiện trái phiếu của Hợp đồng đại lý đăng ký, lưu ký và đại lý thanh toán số 03/2021 ngày 28/5/2021 giữa Công ty Đ1 và Công ty C
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn khởi kiện bị đơn tranh chấp về hợp đồng mua bán trái phiếu đã ký giữa hai bên. Do đó xác định đây là tranh chấp hợp đồng mua bán trái phiếu theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xét thấy bị đơn Công ty Đ1 có địa chỉ trụ sở tại quận T, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa:
Nguyên đơn có người đại diện hợp pháp là ông Đoàn Văn Đ là người đại diện theo ủy quyền có đơn xin xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt. Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên toà xét xử vụ án nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 207, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án có căn cứ tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu Tòa án tuyên Hủy hợp đồng mua bán trái phiếu số 150-000572/FLEX.VTP.VTPCH2126001/HĐMG ngày 15/3/2022 và Hợp đồng số 150-000582/FLEX.VTP.VTPCH2126003/HĐMG ngày 21/3/2022, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngày 12/7/2024 Nguyên đơn đã rút lại yêu cầu khởi kiện trên nên căn cứ vào khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử yêu cầu này của nguyên đơn.
[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết cụ thể:
Buộc Công ty Đ1 có trách nhiệm mua lại Trái phiếu VTPCH2126001 theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu trái phiếu số: 150-000572/FLEX.VTPCH2126001 (Bà Nguyễn Thị Hồng P là chủ sở hữu trái phiếu) với giá tính đến ngày 12/7/2024 là 890.284.716 đồng. Buộc Công ty Đl có trách nhiệm mua lại Trái phiếu VTPCH2126003 theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu trái phiếu số: 150- 000582/FLEX.VTPCH2126003 (Bà Nguyễn Thị Hồng P là chủ sở hữu trái phiếu) với giá tính đến ngày 12/7/2024 là 1.269.633.742 đồng. Tổng cộng yêu cầu Công ty Đ1 phải trả cho nguyên đơn số tiền mua lại hai trái phiếu trên là: 2.159.918.458 đồng. Kể từ ngày 13/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, Công ty Đ1 còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền chưa thi hành án xong theo mức lãi suất quy định trong Phụ lục I: Các điều kiện trái phiếu của Hợp đồng đại lý đăng ký, lưu ký và đại lý thanh toán số 03/2021 ngày 28/5/2021 giữa Công ty Đ1 và Công ty C.
Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên tòa nguyên đơn có bản tự khai trình bày về việc yêu cầu thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện và việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung này của nguyên đơn.
Xét bị đơn đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa, không có lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ để xác nhận hoặc phản bác yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do phía nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cung cấp có cơ sở xác định:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 tại Nghị định 153/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ thì: “Trái phiếu doanh nghiệp là loại chứng khoán có kỳ hạn từ 01 năm trở lên do doanh nghiệp phát hành, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần nợ của doanh nghiệp phát hành”. Công ty C được chọn làm Đại lý đăng ký, lưu ký và đại lý thanh toán và Đại diện người sở hữu trái phiếu đối với Trái phiếu VTPCH2126001/VTPCH2126003 do Công ty Đ1 phát hành theo Hợp đồng đại lý đăng ký, lưu ký và đại lý thanh toán số 03/2021 ngày 28/05/2021 và Hợp đồng Đại diện người sở hữu trái phiếu số 01/2021/HĐĐD/VTP-TVSI ký ngày 28/05/2021 giữa Công ty C và Công ty Đ1.
Ngày 15/3/2022 Công ty C thay mặt Công ty Đ1 ký với bà Nguyễn Thị Hồng P Hợp đồng mua bán trái phiếu số 150-000572/FLEX. VTPCH2126001/HĐMB và Hợp đồng môi giới bán trái phiếu số 150-000572/FLEX. VTPCH2126001/HĐMG. Tổng số tiền bà Phước mua trái phiếu là 700.133.778 đồng. Ngay khi ký hợp đồng bà Phước đã giao số tiền trên cho bên bán và bên bán đã cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu trái phiếu số 150-000572/FLEX.VTPCH2126001 cho bà Phước. Tiếp đó ngày 21/3/2022 bà Phước tiếp tục mua trái phiếu của Công ty Đ1 và Công ty C thay mặt Công ty Đ1 lập tiếp với bà Phước hợp đồng mua bán trái phiếu số 150- 000582/FLEX.VTPCH2126003/HĐMB và Hợp đồng môi giới bán trái phiếu số 150-000582/FLEX.VTPCH2126003/HĐMG với số tiền là 1.000.076.021 đồng. Ngay khi ký hợp đồng bà Phước đã giao số tiền trên cho bên bán và bên bán cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu trái phiếu số 150-000582/FLEX.VTPCH2126003 cho bà Phước.
Tuy nhiên kể từ khi được cấp hai Giấy chứng nhận quyền sở hữu trái phiếu trên thì Công ty Đ1 đã vi phạm không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào liên quan đến hai trái phiếu trên cho chủ sở hữu trái phiếu.
Hội đồng xét xử xét thấy: Khoản 1 Điều 17 Nghị định 153/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ thì việc thanh toán lãi, gốc trái phiếu được quy định như sau: “Doanh nghiệp phát hành bố trí nguồn trả nợ lãi, gốc trái phiếu từ các nguồn vốn hợp pháp của doanh nghiệp và thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho nhà đầu tư theo các điều khoản, điều kiện của trái phiếu.” Do đó cơ cơ sở xác định Công ty Đ1 phải có trách nhiệm trả gốc, lãi Trái phiếu VTPCH2126001 và Trái phiếu VTPCH2126003 cho nguyên đơn.
Khi Tổ chức phát hành là Công ty Đ1 phát sinh Sự kiện vi phạm (Không thanh toán) quy định tại bản Các Điều Kiện Trái Phiếu VTPCH2126001/VTPCH2126003, Công ty C với tư cách Đại lý đăng ký, lưu ký, đại lý thanh toán và Đại diện người sở hữu trái phiêu VTPCH2126001/VTPCH2126003 đã gửi Thông báo số 1064/TB TVSI về việc thanh toán lãi trái phiếu tới Tổ chức phát hành là Công ty Đ1. Trong đó thời hạn thanh toán là ngày 24/10/2022, tuy nhiên đến ngày 25/10/2022 Công ty Đ1 vẫn chưa thanh toán. Ngày 25/10/2022, Đại diện Người sở hữu trái phiếu là Công ty C đã gửi công văn số 1237/2022/CV-TVSI để thông báo vi phạm và yêu cầu mua lại trước hạn Trái phiếu Vạn Trường P1 gửi tới Tổ chức phát hành là Công ty Đ1, ngày mua lại bắt buộc là ngày 08/11/2022. Đến ngày 09/11/2022 Công ty Đ1 vẫn chưa thực hiện mua lại Trái phiếu như yêu cầu trong thông báo số 1237.
Xét thấy Tổ chức phát hành là Công ty Đ1 đã phát sinh Sự Kiện Vi Phạm “Không thanh toán” quy định tại Điều 9.1(a) Sự Kiện Vi Phạm của các Điều Kiện Trái Phiếu VTPCH2126001 và vi phạm “Vi phạm chéo” quy định tại Điều 9.1(f)(i) tại Phụ lục I: Các Điều Kiện Trái Phiếu VTPCH2126001/VTPCH2126003 nên phải mua lại toàn bộ các Trái Phiếu đã phát hành có tổng giá trị theo mệnh giá là 10.000.000.000.000 đồng (Mười ngàn tỷ đồng) trong vòng 10 ngày làm việc, cụ thể ngày mua lại bắt buộc là ngày 08/11/2022. Theo bảng tính dư nợ trái phiếu của bà Nguyễn Thị Hồng P do Công ty C cung cấp tính đến ngày 12/7/2024 thì dư nợ Trái phiếu VTPCH2126001 là 890.284.716 đồng và dư nợ Trái phiếu VTPCH2126003 là 1.269.633.742 đồng
Về yêu cầu của nguyên đơn: Yêu cầu bị đơn phải chịu tiền lãi kể từ ngày 13/7/2024 cho đến khi thi hành án xong trên số tiền chưa thi hành án theo cách tính lãi và mức lãi suất quy định trong Phụ lục I: Các điều kiện trái phiếu của Hợp đồng đại lý đăng ký, lưu ký và đại lý thanh toán số 03/2021 ngày 28/5/2021 giữa Công ty Đ1 và Công ty C. Hội đồng xét xử xét thấy tại Điều 6 về lãi của Phụ lục I: Các điều kiện trái phiếu trên có quy định:
“6.5 Trái Phiếu VTPCH2126001 ngừng hưởng lãi từ Ngày Đ, Ngày Mua Lại Tự Nguyện hoặc Ngày Mua Lại Bắt Buộc trừ khi vào ngày đó, khoản tiền gốc của Trái Phiếu VTPCH2126001 không được thanh toán đầy đủ hoặc bị từ chối thanh toán không phù hợp với Các Điều Kiện Trái Phiếu VTPCH2126001 này. Trong trường hợp đó, phần Trái Phiếu VTPCH2126001 chưa được thanh toán/mua lại sẽ tiếp tục được hưởng lãi với lãi suất bằng 150% (một trăm năm mươi phần trăm) Lãi Suất Trái Phiếu áp dụng cho Kỳ T Lãi có Ngày Đáo Hạn, Ngày Mua Lại Tự Nguyện hoặc Ngày Mua Lại Bắt Buộc (tính theo ngày trên cơ sở một năm có 365 (ba trăm sáu mươi lăm) ngày) cho giai doạn từ và gồm cả ngày đến hạn đó cho đến nhưng không gồm cả ngày mà tất cả các khoản tiền đến hạn liên quan đến Trái Phiếu VTPCH2126001 tính đến ngày đó đã được thanh toán cho Người Sở Hữu Trái Phiếu VTPCH2126001 hoặc người được Người Sở Hữu Trái Phiếu VTPCH2126001 chỉ định.
6.6. Nếu Tổ Chức Phát Hành không thanh toán hoặc không thanh toán đầy đủ tiền lãi Trái Phiếu VTPCH2126001 đến hạn vào một Ngày Thanh Toán Lãi bất kỳ thì Tổ Chức Phát Hành phải thanh toán lãi quá hạn trên số tiền lãi chậm thanh toán với lãi suất bằng 150% (một trăm năm mươi phần trăm) Lãi Suất Trái Phiếu áp dụng cho Kỳ T Lãi bị chậm thanh toán (tính theo ngày trên cơ sở một năm có 365 (ba trăm sáu mươi lăm) ngày) cho giai đoạn từ và gồm cả Ngày Thanh Toán Lãi đó đến nhưng không gồm cả ngày mà tất cả các khoản tiền lãi chậm trả và lãi quá hạn tính đến ngày đó đã được thanh toán cho Người Sở Hữu Trái Phiếu VTPCH2126001 hoặc người được Người Sở Hữu Trái Phiếu VTPCH2126001 chỉ định.”
Từ những nhận định trên Hội đồng xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn Công ty Đ1 phải mua lại hai trái phiếu VTPCH2126001 và trái phiếu VTPCH2126003 đã bán cho nguyên đơn theo giá tính đến ngày 12/7/2024 và tiếp tục chịu tiền lãi trên số tiền chưa thanh toán từ ngày 13/7/2024 cho đến khi thanh toán xong cho nguyên đơn theo cách tính lãi và lãi suất quy định trong Phụ lục I: Các điều kiện trái phiếu của Hợp đồng đại lý đăng ký, lưu ký và đại lý thanh toán số 03/2021 ngày 28/5/2021 giữa Công ty Đ1 và Công ty C
[3] Về ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh: Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng quy định pháp luật nên chấp nhận.
[4] Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 128, 129, 130, 131 Luật Doanh nghiệp năm 2020
- Căn cứ Luật chứng khoán năm 2019
- Căn cứ Nghị định 153/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp R tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng P về việc yêu cầu Hủy hợp đồng mua bán trái phiếu số 150-000572/FLEX.VTP.VTPCH2126001/HĐMG ngày 15/3/2022 và Hợp đồng mua bán trái phiếu số 150-000582/FLEX.VTP.VTPCH2126003/HĐMG ngày 21/3/2022.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng P:
Buộc Công ty Cổ phần Đ1 có trách nhiệm mua lại Trái phiếu VTPCH2126001 theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu trái phiếu số: 150-000572/FLEX.VTPCH2126001 với giá tính đến ngày 12/7/2024 là 890.284.716 đồng, trong đó: Dư nợ gốc theo mệnh giá là 681.000.000 đồng, lãi phạt trên phần gốc Trái phiếu từ ngày 08/11/2022 đến 12/7/2024 là 171.789.993 đồng, lãi Trái phiếu kỳ 3 từ ngày 01/6/2022 đến ngày 08/11/2022 là 29.941.611 đồng, lãi phạt trên phần lãi Trái phiếu kỳ 3 từ ngày 08/11/2022 đến ngày 12/7/2024 là 7.553.112 đồng. Buộc Công ty Cổ phần Đ1 có trách nhiệm mua lại Trái phiếu VTPCH2126003 theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu trái phiếu số: 150-000582/FLEX.VTPCH2126003 với giá tính đến ngày 12/7/2024 là 1.269.633.742 đồng, trong đó: Dư nợ gốc theo mệnh giá là 997.000.000 đồng, lãi phạt trên phần gốc Trái phiếu từ ngày 08/11/2022 đến 12/7/2024 là 253.259.852 đồng, lãi Trái phiếu kỳ 3 từ ngày 13/9/2022 đến ngày 08/11/2022 là 15.449.403 đồng, lãi phạt trên phần lãi Trái phiếu kỳ 3 từ ngày 08/11/2022 đến ngày 12/7/2024 là 3.924.487 đồng.
Tổng cộng Công ty Cổ phần Đ1 phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Hồng P số tiền mua lại hai trái phiếu trên là: 2.159.918.458 (Hai tỉ một trăm năm mươi chín triệu chín trăm mười tám nghìn bốn trăm năm mươi tám) đồng
Kể từ ngày 13/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, Công ty Cổ phần Đ1 còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền chưa thi hành án xong theo mức lãi suất quy định trong Phụ lục I: Các điều kiện trái phiếu của Hợp đồng đại lý đăng ký, lưu ký và đại lý thanh toán số 03/2021 ngày 28/5/2021 giữa Công ty Cổ phần Đ1 và Công ty Cổ phần C.
Thi hành tại cơ quan có thẩm quyền thi hành án dân sự.
- Về án phí:
Công ty Cổ phần Đ1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 75.198.369 (Bảy mươi lăm triệu một trăm chín mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi chín) đồng.
H2 lại bà Nguyễn Thị Hồng P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.375.000 (Sáu triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0023764 ngày 10/10/2023 và số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 30.875.000 (Ba mươi triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001014 ngày 05/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt, niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Thiện |
Bản án số 482/2024/DS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán trái phiếu
- Số bản án: 482/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán trái phiếu
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phiếu
