|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 482/2024/HNGĐ-ST
Ngày 02 - 8 - 2024
V/v tranh chấp hôn nhân gia
đình về “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG.
Thành phần xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Bùi Văn Chiến.
- Thư ký phiên toà: ông Trần Thiện Nhân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.
Trong ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án theo thủ tục rút gọn thụ lý số 437/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn số: 386/2024/QÐST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024, giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1973;
Nơi cư trú: số B, tổ I, khu B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
2. Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1973;
Nơi cư trú: số E, đường C, khóm M, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang.
(bà H, ông T xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Căn cứ theo đơn khởi kiện, biên bản hòa giải, ý kiến trình bày của chị Phạm Thị H như sau:
Về hôn nhân: bà và ông Lê Văn T tự tìm hiểu được sự đồng ý của gia đình hai bên tổ chức lễ cưới và chung sống như vợ chồng với nhau từ năm 1990, đến nay không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có với nhau 02 người con chung, đến năm 2005 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông T ghen tuông vô cớ rồi kiếm chuyện cự cãi, vợ chồng nhiều lần ly thân rồi chung sống trở lại. Tuy nhiên chỉ được một thời gian thì ông T vẫn không thay đổi tính ghen tuông, mâu thuẫn cứ lặp đi lặp lại trong một thời gian dài và càng trở nên gay gắt, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, nên bà với ông T chính thức ly thân từ năm 2007 đến nay. Nay tình cảm không còn yêu cầu được ly hôn với ông Lê Văn T.
- Về con chung: có 02 con chung tên Lê Hồng P, sinh ngày 06/5/1991 và Lê Hồng K, sinh ngày 11/10/1997, hiện đã thành niên và tự lập nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn ông Lê Văn T trình bày:
- Về hôn nhân: quá trình tìm hiểu chung sống và mâu thuẫn trong cuộc sống của ông với bà H, ông thống nhất với trình bày của bà H. Nay bà H yêu cầu ly hôn ông cũng đồng ý ly hôn.
- Về con chung: có 02 con chung tên Lê Hồng P, sinh ngày 06/5/1991 và Lê Hồng K, sinh ngày 11/10/1997, hiện đã thành niên và tự lập nên không yêu cầu Tòa án giải quyết như ý kiến bà H.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về người tham gia tố tụng: bà H và ông T có yêu cầu được vắng mặt khi xét xử, ông bà có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, do đó xét xử vắng mặt ông, bà theo Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi cho các bên.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: bị đơn ông Lê Văn T cư trú tại: khóm M, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang nên bà H khởi kiện xin ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng Dân sự.
[1.3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: bà H xin Ly hôn, nên quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung: xét chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện hôn nhân của ông, bà được xác lập năm 1990 do hai người tự tìm hiểu, tự nguyện chung sống, có tổ chức lễ cưới, không đăng ký kết hôn, thời gian đầu sống hạnh phúc đến năm 2005 phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau rồi ly thân sau đó đoàn tụ, kéo dài đến năm 2007 thì ly thân cho đến nay, sau khi ly thân ông, bà không tạo điều kiện để hàn gắn mà mỗi tự lo cho cuộc sống riêng cho mình, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do ông bà không đăng ký kết hôn nên không được pháp luật thừa nhận, khi chung sống bà H mới 17 tuổi (sinh năm 1973 – 1990 chung sống) vì hôn nhân của ông bà là hôn nhân không hợp pháp do vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1987, năm 2000 và Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, ông bà có thời gian dài chung sống có con chung, đến nay đã trên 50 tuổi, do đó để ông bà có cuộc sống riêng, nên không công nhận ông bà là vợ chồng theo quy định tại Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Về con chung: có 02 con chung tên Lê Hồng P, sinh ngày 06/5/1991 và Lê Hồng K, sinh ngày 11/10/1997, hiện đã thành niên và tự lập được nên không cần đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: các bên không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
Ghi nhận lời trình bày đương sự không có nợ chung, nhưng sau khi Bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì bà H, ông T phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
Ngoài ra, các bên không tranh chấp về vấn đề gì khác nên không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí: bà Phạm Thị H là người xin ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Luật HNGĐ năm 1987, năm 2000, Điều 9; Điều 14; Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 322 Bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự;
- Căn cứ Điều 26; Điều 27; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Về quan hệ hôn nhân: không công nhận bà Phạm Thị H và ông Lê Văn T là vợ chồng.
- Về con chung: đã trưởng thành, không đặt ra giải quyết
- Về tài sản và nợ chung: không đặt ra giải quyết
- Về án phí sơ thẩm: bà Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007100 ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, ông Lê Văn T không phải chịu án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 07 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Chiến |
Bản án số 482/2024/HNGĐ-ST ngày 02/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn
- Số bản án: 482/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình về Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không công nhận bà Phạm Thị H và ông Lê Văn T là vợ chồng
