|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE Bản án số: 482/2023/DS-PT Ngày: 22/12/2023 V/v "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Phận;
Các Thẩm phán: Ông Phan Thanh Tòng
Ông Nguyễn Hữu Lương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Nhật Hạ – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre: Bà Lê Thị Hồng Phấn – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 22 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 369/2023/TLPT-DS ngày 23 tháng 10 năm 2023 về "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2023/DS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm: 4043/2023/QĐ-PT ngày 29 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
Bà Trần Thị Thanh H, sinh năm 1980;
Địa chỉ: E, khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Võ Thanh D, sinh năm 1992; (có mặt)
Địa chỉ 303 C Đ, khu phố C, phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn:
Bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1960; (có mặt)
Ông Lê Hoàng H1, sinh năm 1957; (có mặt)
Cùng địa chỉ: E khu phố D, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Do có kháng cáo của: Bà Nguyễn Thị D1, Ông Lê Hoàng H1 là bị đơn trong vụ án; Bà Trần Thị Thanh H là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án đại diện nguyên đơn bà H trình bày:
Vào ngày 09/8/2022 bà H có cho bà D1 và ông H1 mượn số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Bà D1 nói mượn để giải quyết việc gia đình, bà H nói cho bà D1 mượn không tính lãi đến tháng 3/2023 bà lấy tiền bán nhà của bà thì sẽ trả hết cho bà (bà D1 nói ông N cháu bà D1 còn nợ bà D1 2.000.000.000 đồng). Hai bên có làm giấy Biên nhận nhận tiền trong đó thỏa thuận nếu đến hết tháng 3/2023 bà D1 không trả thì được tính lãi từ đầu, lãi suất 3%/tháng, khi đến hẹn bà có gặp bà D1 nhưng bà D1 cho rằng ông N chưa đưa, sau đó bà D1 hẹn 01 tuần nhưng sau đó đó bà D1 nói rằng bà không trả nếu thưa thì bà đi hầu. Nay bà yêu cầu bà D1 ông H1 trả cho bà số tiền 200.000.000 đồng. Bà đưa tiền tại nhà bà D1 lúc đó ông H1 cũng biết. Ông H1 là người gởi bản sao các giấy tờ như CCCD của ông H1, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H. Bà H yêu cầu tính lãi với mức 20%/năm từ ngày mượn cho đến khi xét xử sơ thẩm là 237.400.000 đồng Về kết quả giám định bà H đồng ý.
Biên nhận nợ do ông H2 trình bày là của vụ án khác, trong đó do bà L mượn tiền nên bà H kiện là khởi kiện phần sau chứ không phải kiện biên nhận đó. Biên nhận mà ông H2 đưa ra bà thừa nhận bà L đã trả rồi, bà H đưa biên nhận trên ra là do bà khởi kiện số tiền khác (3.480.000.000 đồng) vì bà L mượn nhưng bà L cho rằng không có giao dịch với bà nên bà đưa biên nhận này để chứng minh việc giao dịch giữa bà và bà L rất nhiều lần và nhiều năm. Biên nhận đó không liên quan đến số tiền trong vụ án của bà L. Bà thừa nhận bà có đưa bản chính biên nhận trên mục đích là để chứng minh bà L có mượn tiền của bà.
* Đại diện bị đơn ông H2 trình bày:
Bà D1 có đứng ra lãnh nợ cho 03 người cháu của bà D1 (Lạc Thị Diễm T, Nguyễn Thị Diễm K, Huỳnh Thị Ngọc H3) với số tiền là 60.000.000 đồng và số tiền này bà D1 đã trả đủ cho bà H vào tháng 5/2022. Bà D1 có ký vào biên nhận nợ do bà H viết nhưng biên nhận đó không phải là biên nhận nợ do bà H giao nộp cho Tòa, trong nội dung biên nhận bà D1 ký không có ghi ngày tháng và một số nội dung khác. Việc bà D1 lãnh nợ với bà H, ông H1 hoàn toàn không biết, việc lập biên nhận nợ ông H1 cũng không biết, biên nhận nợ chỉ lập 01 bản do bà H giữ nhưng khi bà D1 trả tiền thì bà H không đưa lại biên nhận nợ do đó bà H dùng biên nhận nợ này thêm nội dung vào để khởi kiện bà D1. Bị đơn đã trả nợ xong nên không chấp nhận yêu cầu của bà H.
Ông đồng ý với kết quả giám định nhưng nội dung Biên nhận nhận tiền ngày 09/8/2022 là do bà H tự viết nội dung, nội dung này bà D1 không biết và cũng không có nhận tiền của bà H. Nên bà D1 không đồng ý với yêu cầu của bà H.
Trước đây bà H có kiện bà Nguyễn Thị L1, bà L1 đã trả cho bà H nhưng bà H không trả lại giấy biên nhận cho bà L1 mà bà H lại lấy biên nhận để khởi kiện bà L1. (Biên nhận ngày 21/10/2021AL). Bà H còn giữ biên nhận nhận tiền (bản chính) của bà L1 trong khi hai bên thống nhất số tiền này bà L1 đã trả cho bà H. Biên nhận này bà H đã nộp cho Tòa án trong một vụ án khác.
Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Thành phố Bến Tre đưa vụ án ra xét xử. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2023/DS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã tuyên:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 147, 207, 227, 228
Căn cứ vào Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 470; 471 và Điều 357 của Bộ luật Dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh H; cụ thể tuyên:
Buộc bà Nguyễn Thị D1 có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị Thanh H số tiền 237.400.000đồng (Hai trăm ba mươi bảy triệu bốn trăm ngàn đồng).
Không chấp nhận yêu cầu của bà H về việc yêu cầu ông Lê Hoàng H1 có nghĩa vụ liên đới trả số tiền trên.
Bà Nguyễn Thị D1 phải trả cho bà H số tiền chi phí giám định là 2.550.000 đồng (Hai triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/7/2023 bà Nguyễn Thị D1, ông Lê Hoàng H1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Ngày 31/7/2023 bà Trần Thị Thanh H có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị HĐXX xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông H1 có nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ cho nguyên đơn.
Bị đơn: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị HĐXX xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn về việc yêu cầu ông H1 liên đới trả tiền cho nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng, những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định của pháp luật tố tụng.
- Về nội dung: Căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS 2015 đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Thanh H là nguyên đơn trong vụ án, không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị D1 và ông Lê Hoàng H1 là bị đơn trong vụ án. Sửa Bản án sơ thẩm số 77/2023/DS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo hướng buộc bà D1, ông H1 liên đới trả tiền cho bà H.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Xét kháng cáo bà Nguyễn Thị D1, ông Lê Hoàng H1, bà Trần Thị Thanh H và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị đơn không còn ủy quyền cho ông Trần Thanh H4, trực tiếp tham gia phiên tòa.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị D1, ông Lê Hoàng H1, bị đơn bà Trần Thị Thanh H kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm bà Nguyễn Thị D1, ông Lê Hoàng H1, bà Trần Thị Thanh H giữ nguyên nội dung kháng cáo theo như đơn kháng cáo.
[2] Về nội dung vụ án:
Tại tòa sơ thẩm, bà H yêu cầu bà D1, ông H1 phải trả cho bà H số tiền là 200.000.000 đồng theo “Biên nhận nhận tiền” ngày 09/8/2022 và yêu cầu tính lãi số tiền trên. Bà D1 cho rằng bà không có vay tiền của bà H mà bà D1 chỉ lãnh nợ dùm các cháu của bà, việc bà D1 lãnh nợ ông H1 không biết, biên nhận nợ chỉ lập 01 bản do bà H giữ nhưng khi bà D1 trả tiền thì bà H không đưa lại biên nhận nợ do đó bà H dùng biên nhận nợ này ghi thêm nội dung vào để khởi kiện bà D1. Bị đơn đã trả nợ xong nên không chấp nhận yêu cầu của bà H.
Quá trình giải quyết bị đơn không thừa nhận có vay tiền của bà H nên bà H có đơn yêu cầu giám định chữ ký trên biên nhận nhận tiền. Tại kết luận giám định của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận chữ ký trong biên nhận nhận tiền ngày 09/8/2022 là của bà D1. Tại biên bản hòa giải đại diện bị đơn đồng ý với kết quả giám định, tuy nhiên không đồng ý với nội dung trong biên nhận nhận tiền. Bị đơn cho rằng Bà D1 có ký vào biên nhận nợ do bà H viết nhưng biên nhận đó không phải là biên nhận nợ do bà H giao nộp cho Tòa. Trong nội dung biên nhận bà D1 ký không có ghi ngày tháng và một số nội dung khác. Biên nhận nợ chỉ lập 01 bản do bà H giữ nhưng khi trả tiền thì bà H không đưa lại biên nhận nợ, do đó bà H dùng biên nhận nợ này thêm nội dung vào để khởi kiện bà D1. Tuy nhiên bị đơn không có chứng cứ chứng minh cho lời trình bày này.
Căn cứ vào biên nhận nhận tiền đề ngày 09/8/2022 do nguyên đơn cung cấp có ghi thời điểm xác lập hợp đồng, số tiền vay, lãi suất vay, thời hạn trả tiền, được bà D1 đồng ý, ký và ghi rõ họ tên. Như vậy, chứng tỏ việc các đương sự thiết lập hợp đồng vay tài sản là có thật. Về nội dung, thể hiện bà D1 có vay tiền của bà H và đã nhận đủ tiền. Từ đó có cơ sở khẳng định bà D1 có vay bà H số tiền 200.000.000 đồng. Do quá hạn trả nợ, nhưng bị đơn không trả được nợ là vi phạm nghĩa vụ của bên vay quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự. Bà D1, ông H1 kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà D1, ông H1.
[3] Xét yêu cầu kháng của của nguyên đơn yêu cầu ông H1 cùng liên đới trả nợ với bà D1: Bà H cho rằng khi bà D1 vay tiền thì chồng bà D1 là ông H1 biết, do đó yêu cầu ông H1 có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho bà. Bà D1 là người trực tiếp đứng ra giao dịch và ký tên vào biên nhận. Ông H1 không tham gia giao dịch vay tiền và không có ký tên trong biên nhận. Tại Tòa đại diện nguyên đơn cung cấp bản photo CCCD, hộ khẩu và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cho rằng ông H1 là người cung cấp cho bà H nhưng ông H1 không thừa nhận. Bên cạnh đó, trong quá trình tố tụng, bà H không đưa ra được các chứng cứ chứng minh việc bà D1 vay số tiền trên để sử dụng vào mục đích tạo ra thu nhập sử dụng cho nhu cầu thiết yếu trong gia đình để có cơ sở buộc ông H1 có nghĩa vụ liên đới trả nợ theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình. Do vậy, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà H về việc buộc ông H1 có nghĩa vụ liên đới trả nợ cùng bà D1.
[4] Về lãi suất: Theo nội dung biên nhận nhận tiền thể hiện nếu đến tháng 3/2022 bà D1 không trả đủ cho bà H số tiền đã vay thì bà sẽ tính lãi suất 3%/tháng từ ngày 09/8/2022. Kết quả bà D1 không trả được số tiền nợ nên bà H khởi kiện đòi bà D1 lãi suất 3%/tháng kể từ ngày vay. Từ đó xác định bà H cho bà D1 vay 200 triệu đồng với lãi suất là 3%/tháng. Tuy nhiên, tại đơn khởi kiện bà H yêu cầu bà D1 trả cho bà lãi suất của số tiền 200.000.000 đồng với mức 20%/năm. Đối chiếu quy định của pháp luật thì lãi suất cho vay của bà H trong biên nhận nhận tiền đã vượt quá quy định. Nay bà H khởi kiện yêu cầu tính lãi lại với lãi suất 20%/ năm là phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận. Thời gian tính lãi từ ngày 09/8/2022 đến ngày 17/7/2023 là 11 tháng 08 ngày.
Số tiền 200.000.000 đồng x 20% x 11 tháng 08 ngày = 37.400.000 đồng
Tổng cộng vốn và lãi là 237.400.000đồng (Hai trăm ba mươi bảy triệu bốn trăm ngàn đồng)
[5] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp một phần với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
[6] Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị D1 và ông Lê Hoàng H1 là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị D1, ông Lê Hoàng H1, bà Trần Thị Thanh H.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 77/2023/DS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 147, 207, 227, 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 470; 471 và Điều 357 của Bộ luật Dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh H;
Buộc bà Nguyễn Thị D1 có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị Thanh H số tiền 237.400.000đồng (Hai trăm ba mươi bảy triệu bốn trăm ngàn đồng).
Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Thanh H về việc yêu cầu ông Lê Hoàng H1 có nghĩa vụ liên đới trả số tiền trên.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi thành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về chi phí tố tụng:
Bà Nguyễn Thị D1 phải trả cho bà Trần Thị Thanh H số tiền chi phí giám định là 2.550.000 đồng (Hai triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng).
- Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị D1 được miễn nộp. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre hoàn lại cho bà Trần Thị Thanh H số tiền là 5.630.500 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mươi ngàn năm trăm đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0002850 ngày 19/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre.
Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị D1, ông Lê Hoàng H1 thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Bà Trần Thị Thanh H phải chịu là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007194 ngày 10/08/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Phận |
Bản án số 482/2023/DS-PT ngày 22/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 482/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
